Bát chiết yêu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bát chiết yêu là một loại bát có hình dáng độc đáo, phần thân dưới sâu lòng, miệng loe rộng, chỗ chuyển tiếp ở giữa thắt lại như vòng eo.[1]

Bát Chiết yêu

Giới thiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi "chiết yêu" (yêu ở đây là từ Hán Việt của từ eo) xuất phát từ hình dạng độc đáo của chiếc bát.[2]

Bát chiết yêu từng được sử dụng rộng rãi trong đời sống, nhất là ở các hàng quán và bày cỗ bàn trong các gia đình. Đối với hàng quán, xét về công dụng thực tế, bát chiết yêu là vật dụng hoàn hảo cho các món nước như cháo, bún, phở, miến,… Bởi vì miệng bát loe, nên giúp bề mặt món ăn nhanh nguội, nhưng phần dưới vẫn được giữ nóng, ăn đến đâu âm ấm vừa phải đến đấy. Đối với bày cỗ bàn, bát chiết yêu có chân bát cao làm mâm cỗ trông thanh thoát, mặt khác, viền bát loe và rộng bản, nên người thợ làm bát có thể vẽ nhiều hoa văn trang trí, tăng tính thẩm mỹ.

Bát chiết yêu cũng được sử dụng rộng rãi trong các bữa cơm thường nhật. Tuy nhiên hiện nay bát chiết yêu không còn phổ biến như trước, muốn mua phải vào hàng gốm cũ hoặc làng gốm cổ truyền.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Từ điển Tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên, nhà xuất bản Đà Nẵng, tái bản lần thứ 9 năm 2003, trang 42.
  2. ^ “Ký ức ở những đồ vô tri”. Báo tuổi trẻ. Ngày 29 tháng 11 năm 2013.