Bát Kỳ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Bát kỳ)
Jump to navigation Jump to search
Thanh kỳ thời vua Càn Long

Bát Kỳ hay Bát kỳ Mãn Châu (tiếng Mãn Châu: jakūn gūsa jakūn gūsa, chữ Hán: 八旗, bính âm: baqí) là một chế độ tổ chức quân sự đặc trưng của người Mãn Châunhà Thanh (sau này), đặc trưng của Bát Kỳ là mỗi đơn vị được phân biệt bằng một lá cờ khác nhau, tổng cộng có tám lá cờ cơ bản theo đó mọi người dân Mãn Châu đều thuộc một trong tám "Kỳ", đứng đầu là một kỳ chủ và tư lệnh tối cao là Đại Hãn, đó vừa là các đơn vị dân sự vừa mang tính chất quân sự.

Bát Kỳ ban đầu là danh xưng dùng để chỉ về Bát Kỳ Mãn Châu hay Mãn Kỳ sau đó được phát triển thêm Mông Cổ Bát Kỳ và Hán Tộc Bát Kỳ vì vậy gọi chung là Bát Kỳ (không phân biệt). Đây là một tổ chức quân sự đặc sắc của người Mãn Châu và cũng là đội quân hùng mạnh trong lịch sử Trung Hoa, đã đóng góp công lao to lớn trong cuộc chinh chiến giữa nhà Thanhnhà Minh. Chế độ Bát Kỳ do Nỗ Nhĩ Cáp Xích sáng lập và được hoàn thiện dưới thời kỳ trị vì của Hoàng Thái Cực. Tuy nhiên, sau một thời gian hòa bình kéo dài và quá trình Hán hóa, đến thời Ung Chính (1722-1735) và Càn Long (1735-1795) thì năng lực tác chiến của quân Bát Kỳ ngày càng suy thoái, đến thời kỳ Hàm Phong (1850) thì Bát Kỳ gần như đã trở nên vô dụng và cuối cùng đã tan rã.

Hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Nỗ Nhĩ Cáp Xích, người đã sáng tạo ra chế độ Bát Kỳ

Vào thời đầu, của người Mãn Châu, hệ thống quân sự Kỳ Binh sinh hoạt trên căn bản hiện hữu từ xưa là Binh Nông Hợp Nhất, tức kết hợp giữa nông dân và binh lính, mỗi nông dân phải phục vụ cho quân đội trong một thời gian đã được quy định trước.

Trước đó nhà Minh khi còn ảnh hưởng đến khu vực Mãn Châu đã áp dụng mô hình quản lý các đơn vị hành chính ngoại biên (các bộ lạc) để dễ kiểm soát, theo đó trên cứ 10 người thì được xem là một đơn vị cơ sở, gọi là "Tập", và 10 "Tập" hợp lại thành một đơn vị gọi là "Trại" (gồm 100 người). Lúc này, số lượng người của bộ lạc còn ít thì chính quyền Minh chỉ quản lý các bộ lạc Nữ Chân theo hình thức là "Tập" và "Trại".

Hình thức này được các thủ lĩnh Mãn Châu áp dụng và tồn tại đến thời của Nỗ Nhĩ Cáp Xích, các bộ lạc nhanh chóng phát triển thông qua các cuộc chiến tranh chinh phục hoặc hôn nhân mang tính chính trị (lãnh thổ và dân số của các bộ lạc có sự biến đổi do sát nhập, hợp nhất hoặc thông qua các liên minh). Hình thức "Tập" và Trại" không còn phù hợp với sự phát triển của các bộ lạc, vì thế, các cứ và cách thức tổ chức của nhà Minh và bản địa hóa, Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã xây dựng hình thức tổ chức xã hội bộ lạc mới là Kỳ (Gūsa) và chế độ Bát kỳ. Trước tiên chỉ có bốn Kỳ là Hoàng, Hồng, Lam, Bạch. Về sau lại tăng lên bốn kỳ nữa là Tương Hoàng, Tương Lam, Tương Bạch, Tương Hồng. Trên cơ sở đó đã hình thành chế độ Bát Kỳ nổi tiếng trong lịch sử, một chế độ kết hợp giữa binh và nông.

Nỗ Nhĩ Cáp Xích là thống soái tối cao của Bát Kỳ. Con cháu của ông ta là thủ lĩnh của mỗi một Kỳ. Mỗi Kỳ Chủ phải trực tiếp nghe theo mệnh lệnh của Đại Hãn, quyền lực và địa vị chỉ thấp hơn Đại Hãn mà cao hơn tất cả mọi người. Điều đặc biệt là những vị tướng lãnh đạo dưới trướng của ông không phải theo kiểu cha truyền con nối một cách đương nhiên (mặc dù tất cả đều là con cháu của ông) mà do chính ông bổ nhiệm trên cơ sở tài năng và chiến công. Các bộ lạc thành viên trong tất cả các Kỳ không nắm giữ tất cả một vùng, hay không chiến đấu thành đơn vị hợp nhất. Khi yêu cầu một cuộc hành quân, thì được thiết lập dưới các kỳ khác nhau. Những sự phân chia này chủ yếu hạn chế nguy cơ các bộ lạc ly khai hay không tuân lệnh.[1]

Cơ cấu tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Biên chế cơ bản[sửa | sửa mã nguồn]

Binh lính của Hồng kỳ

Theo quy định của Nỗ Nhĩ Cáp Xích, mọi người dân trong các bộ lạc Nữ Chân đều quy thuộc biên chế tổ chức nhân sự vào một trong 8 nhóm bộ lạc, được gọi là các "Kỳ" mà mỗi kỳ này là tập hợp tổ chức các bộ lạc, vừa là các đơn vị dân sự vừa mang tính chất quân sự. Về căn bản, ông vẫn giữ nguyên hình thức bộ lạc, vẫn duy trì chế độ tù trưởng (mà người Nữ Chân gọi là Beile: âm Hán Việt: Bối Lặc), nhưng căn cứ theo số lượng người Nữ Chân có trong các bộ (bộ lạc), phân chia trên cơ sở như sau:[1][2][3]

  • Cứ 300 nam giới[4] được tổ chức thành một Ngưu Lộc (tiếng Mãn Châu: Niru). Người đầu mục của niru được gọi là Ngưu Lộc Ngạch Chân, (Niru-i Ejen) (hay còn gọi là Tiển Chủ, danh xưng Hán Việt là Tá Lãnh).
  • Cứ 05 Ngưu Lộc hợp lại thành một Giáp Lạt (Jalan) do một Giáp Lạt Ngạch Chân (Jalan-i Ejen), danh xưng Hán Việt là Tham Lĩnh) chỉ huy.
  • Và cứ 05 Giáp Lạt sẽ hợp lại thành một đơn vị gọi là Kỳ hay Cố Sơn (Gūsa). Chỉ huy một kỳ là một Cố Sơn Ngạch Chân (Gūsa Ejen) (danh xưng Hán Việt: Đô Thống) danh xưng thường gọi là Kỳ chủ.

Ở các kỳ quan trọng còn có thêm 2 đơn vị là Mai Lặc (Meiren) (phiên âm Hán Việt:), gồm 10 Ngưu lộc hợp thành, do một Mai Lặc Ngạch Chân (Meiren-i Ejen) chỉ huy. Các Mai Lặc Ngạch Chân sẽ giữ vai trò phụ tá cho Kỳ chủ.

Thông thường, các kỳ còn được đặt dưới quyền quản lý của các bối lặc (tù trưởng) thân tín của Nỗ Nhĩ Cáp Xích. Các Bối lặc này được xem là có địa vị cao hơn các bối lặc khác, nên còn được gọi là các Hòa thạc Bối lặc (Holson Belei).

Tổ chức hoàn chỉnh[sửa | sửa mã nguồn]

Một cấm vệ Mãn Kỳ thời Càn Long

Ban đầu, khi chưa hoàn toàn thống nhất các bộ tộc Nữ Chân, Nỗ Nhĩ Cáp Xích tổ chức các bộ tộc thuộc quyền thành 4 Kỳ phân biệt theo màu cờ hiệu là Hoàng (Suwayan), Bạch (Sanggiyan), Hồng (Fulgiyan), Lam (Lamun). Hoàng kỳ đặt dưới quyền khống chế và điều động của ông. Lam kỳ giao cho người em Thư Nhĩ Cáp Xích (Surhaci). Bạch kỳ được giao cho con trai trưởng là Chủ Anh (Cuyen) và Hồng kỳ do người con trai thứ là Đại Thiện (Daishan) quản lý.

Về sau, khi thống nhất hoàn toàn các bộ lạc Nữ Chân, Nỗ Nhĩ Cáp Xích tổ chức tăng thêm bốn kỳ nữa. Các kỳ cũ được thêm danh xưng Chính (Gulu), còn các kỳ mới có thêm màu viền trên cờ hiệu là có thêm danh xưng Tương (Kubuhe), gọi là Tương Hoàng kỳ, Tương Lam kỳ, Tương Bạch kỳ, Tương Hồng kỳ[1]. Năm 1607, vì có xảy ra bất hòa, Nỗ Nhĩ Cáp Xích thu binh quyền của Thư Nhĩ Cáp Xích, về sau giao lại Tương Lam kỳ lại cho con thứ của Thư Nhĩ Cáp Xích là A Mẫn (Amin). Năm 1615, Chử Anh, con trai trưởng và là người thừa kế của ông bị dèm pha nên đã bị ông bắt giam và bức tử. Nỗ Nhĩ Cáp Xích giao lại Tương Bạch kỳ được giao lại cho con trai thứ 5 là Mãng Cổ Nhĩ Thái (Manggūltai) và Chính Bạch kỳ giao lại cho người con trai thứ 8 là Hoàng Thái Cực. Để ngăn ngừa hành vi tương tự, Nỗ Nhĩ Cáp Xích cũng phân 2 bộ Hồng kỳ ra giao cho Đại Thiện và hai con trai ông ta quản lý.

Ban đầu, mỗi Kỳ kỳ có 7.500 quân, tổng cộng 8 kỳ có 6 vạn quân[5]. Về sau, thông qua việc chinh phục các bộ lạc, số lượng binh sĩ trong các Kỳ tăng dần lên. Khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích đánh thành Ninh Viễn, tổng binh lực quân Bát Kỳ huy động đã lên đến 13 vạn.

Phân chia thứ bậc[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc đi săn của các Bối lặc

Trong Bát kỳ này lại có sự phân chia thứ bậc nhất định:

  • Đại hãn trực tiếp nắm giữ Tương Hoàng Kỳ (đứng đầu), Chính Hoàng Kỳ và Chính Lam kỳ, hợp xưng là "Thượng Tam Kỳ" (上三旗), còn được gọi là Nội phủ Tam kỳ (内府三旗)[6]. Chỉ những người Nữ Chân thuộc Thượng Tam Kỳ mới được đích thân Đại Hãn lựa chọn vào đội bảo vệ riêng của mình.
  • Những kỳ còn lại được gọi là "Hạ Ngũ Kỳ" (下五旗) và được giao cho các Bối lặc thân tín của Nỗ Nhĩ Cáp Xích, thay mặt Đại hãn nắm quyền quản lý, và thường được gọi theo nghi thức là "Hòa thạc" (Hošoi, trong tiếng Mãn có nghĩa là "người được đặc biệt tôn kính). Họ cùng nhau tạo thành một hội đồng quản lý quốc gia Mãn Châu cũng như bộ tư lệnh quân đội, phụ tá cho Nỗ Nhĩ Cáp Xích, được gọi là "Hòa thạc Bối lặc" (Hošoi Beile).

Như vậy, chế độ Bát Kỳ về mặt quân sự là 8 cánh quân, về mặt dân sự 8 nhóm bộ tộc, phân biệt bởi hiệu cờ chỉ huy, vì vậy còn được gọi theo âm Hán Việt là Bát Kỳ, mỗi Kỳ có một màu chủ đạo riêng biệt. Đây là một hình thức quân đội dân tộc, là sự hợp nhất giữa binh và nông[7]. Đại Hãn là người thống trị tối cao của toàn Bát Kỳ cả về quân sự lẫn dân sự.[8].

Hoàn thiện[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng Thái Cực đã phát triển chế độ Bát Kỳ

Sau khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích chết, theo thoả hiệp giữa Hoàng Thái Cực và các Bối Lặc thì bố trí của các kỳ như sau: Đại Thiện nắm Chính Hồng kỳ và Tương Hồng kỳ. A Mẫn nắm Chính Bạch kỳ. Mãng Cổ Nhĩ Thái nắm Chính Lam kỳ. Đa Nhĩ Cổn nắm Chính Hoàng kỳ. Đa Đồ được giao Tương Hoàng Kỳ. A Tế Cách nắm giữ Chính Bạch Kỳ và Tương Bạch kỳ[9]. Vì các kỳ (thực chất là lực lượng quân sự) được phân bố đều cho các con cháu của Nỗ Nhĩ Cáp Xích quản lý nên diễn ra sự đấu tranh quyết liệt về chính trị, chế độ bát kỳ lúc này cũng không thể thống nhất như trước trên thực tế.

Hoàng Thái Cực về danh nghĩa là Đại Hãn (Khan) là thống soái tối cao của Bát Kỳ nhưng trên thực tế cũng chỉ đứng đầu và ra lệnh cho 01 kỳ của ông chỉ huy. Tình hình đó làm cho quân Mãn Châu suy yếu và đòi hỏi nhu cầu tập quyền đặc biệt là tập quyền về quân sự (trong đó cốt lõi là giành quyền kiểm soát các kỳ) là yêu cầu được đặt tra bức thiết để đáp ứng yêu cầu phát triển của Mãn Châu lúc bấy giờ

Sau chiến thắng trong các cuộc giành giật ngôi vị, và xác lập địa vị thống trị tuyệt đối, Hoàng Thái Cực thực hiện cuộc cải cách về quan sự chế định Bát Kỳ được phân chia rõ ràng, chặt chẽ đồng thời các vị trí chỉ huy chủ chốt trong kỳ được san định lại theo hướng bổ nhiệm các nhân vật thân tín, tâm phúc của Hoàng Thái Cực vào vị trí các Kỳ chủ.

Thứ tự ưu tiên của các kỳ vẫn giữ nguyên như cũ, cụ thể là cao nhất là Thượng tam kỳ chi thủ - "Tương Hoàng kỳ (Cờ Vàng có viền - kỳ tịch của chính Hoàng Đế cũng nằm trong Tương Hoàng Kỳ), thứ đến là Chính Hoàng kỳ (Cờ vàng chính), tiếp đến là Chính Bạch kỳ (Cờ Trắng chính), sau đó là Chính Hồng kỳ (Cờ Đỏ chính), thứ nữa là Tương Bạch kỳ (Cờ màu Sữa hay Cờ Trắng viền), thấp hơn là Tương Hồng kỳ (Cờ Hồng hay Cờ Đỏ viền), kế cận là Chính Lam kỳ (Cơ Xanh chính) và thấp nhất là Tương Lam kỳ (Cờ màu Xanh lơ hay Cờ Xanh viền)[5].

Danh sách các Kỳ cụ thể như sau:

Danh xưng Cờ hiệu Chữ Mãn Âm Mãn Chữ Mông Cổ
(chữ cái Kirin)
Phân loại
Chính Hoàng kỳ Plain Yellow Banner.svg Gusa1.png Gulu Suwayan-i Gūsa Шүлүүн Шар Хошуу Thượng Tam kỳ
Tương Hoàng kỳ Bordered Yellow Banner.svg Gusa2.png Kubuhe Suwayan-i Gūsa Хөвөөт Шар Хошуу Thượng Tam kỳ
Chính Bạch kỳ Plain White Banner.svg Gusa3.png Gulu Sanggiyan-i Gūsa Шүлүүн Цагаан Хошуу Ban đầu thuộc Hạ Ngũ kỳ, về sau chuyển thuộc Thượng Tam kỳ
Chính Lam kỳ Plain Blue Banner.svg Gusa7.png Gulu Lamun-i Gūsa Шүлүүн Хөх Хошуу Ban đầu thuộc Thượng Tam kỳ, về sau chuyển thuộc Hạ Ngũ kỳ.
Tương Bạch kỳ Bordered White Banner.svg Gusa4.png Kubuhe Sanggiyan-i Gūsa Хөвөөт Цагаан Хошуу Hạ Ngũ kỳ
Chính Hồng kỳ Plain Red Banner.svg Gusa5.png Gulu Fulgiyan-i Gūsa Шүлүүн Улаан Хошуу Hạ Ngũ kỳ
Tương Hồng kỳ Bordered Red Banner.svg Gusa6.png Fubuhe Fulgiyan Gūsa Хөвөөт Улаан Хошуу Hạ Ngũ kỳ
Tương Lam kỳ Bordered Blue Banner.svg Gusa8.png Kubuhe Lamun-i Gūsa Хөвөөт Хөх Хошуу Hạ Ngũ kỳ

Ngoài Bát Kỳ là người Mãn (Mãn Châu Bát Kỳ), Hoàng Thái Cực còn tổ chức thêm Bát Kỳ người Mông Cổ (Mông Cổ Bát-Kỳ) và Bát Kỳ người Hán (Hán Tộc Bát Kỳ) và Lục doanh người Hán để nhằm tăng cường thêm quân số của nhà Thanh để đủ lực lượng thực hiện các cuộc viễn chinh, đặc biệt là cuộc xâm lược Trung Hoa. Cùng với việc mở rộng lãnh thổ, Hoàng Thái Cực phỏng theo cơ cấu Bát kỳ Mãn Châu, tổ chức phát triển thêm các kỳ Mông Cổ ("Mông Cổ Bát Kỳ")[10] và sau đó là các kỳ Hán ("Hán quân Bát Kỳ")[3]. Việc mở rộng về cơ cấu Bát kỳ khiến cho biên chế quân chủ lực của nhà Thanh tăng lên đáng kể, lên đến 170.000 binh sĩ trong thời gian người Mãn Châu xâm chiếm Trung Quốc[1].

Bên cạnh quân Bát kỳ Mãn Châu tinh nhuệ là các chiến binh Mông Cổ với sở trường cơ động thiện chiến và các đội quân người Hán mạnh mẽ về bộ binh và công thành. Vì là người Mãn nên quân Mãn Châu Bát Kỳ rất được tin dùng và có nhiều ưu đãi hơn là Mông Cổ Bát Kỳ và Hán Tộc Bát Kỳ. Ðạo quân Mông Cổ cũng được tin dùng vì xứ này đã bị sát nhập vào Mãn Châu trước khi Trung Hoa bị chinh phục. Ðây là đạo kỵ binh rất thiện chiến nhưng sau này nhuệ khí suy sụp và cũng trở thành kiêu binh, cho đến 1860 thì bị thua trước quân Niệm.

Hán Tộc Bát Kỳ là những người Hoa cộng tác với Mãn Châu trước khi Trung Quốc bị thôn tính. Những sắc cờ không biểu hiện cho những sắc dân nhưng đại diện cho họ hàng, tông tộc. Ngoài ra quân Hán còn có Lục Doanh hay Lục Ðội được tổ chức gồm có tàn quân nhà Minh và theo hệ thống cũ của họ. Khi thống nhất Trung Hoa, nguồn chính yếu bổ sung vào Lục Doanh là người Hoa tình nguyện nhập ngũ.

Chinh phục nhà Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Trận bến Sa Nhĩ

Vào thế kỷ 17 ở Đông Á, Bát kỳ Mãn châu một đạo quân được xem là hùng mạnh, thiện chiến với những chiến công như đánh bại triều Minh (trong trận Sa Nhĩ Hữ), bình Triều Tiên, nô dịch Mông Cổ, đánh Sa hoàng Nga, nhất thống Trung Quốc. Đội quân này có thể nói là niềm huy hoàng cuối cùng trong quân sự cổ đại Trung Quốc. Trang bị của đạo quân này không quá tối tân nhưng vũ khí tinh thần và sĩ khí của đạo quân này là đáng chú ý nhất. Biên chế quân sự nghiêm ngặt, điều kiện sinh hoạt ác liệt, năng lực sinh tồn mạnh mẽ đã khiến đạo quân này cuối cùng đánh bại triều Minh thống nhất Hoa Hạ.[11][12] Đồng thời đạo quân này cũng mang tiếng xấu là xâm lược và tàn bạo, nhà văn Kim Dung trong tác phẩm Lộc đỉnh ký cũng có nhắc đến sự tàn bạo, cướp phá của Mãn Châu Bát Kỳ.[13]

Đạo quân này phát triển đông đảo tới gần 200.000 quân của người Mãn Châu và được chia thành 2 phần một nửa được chỉ định vào Cấm Lữ Bát Kỳ (禁旅八旗 Jìnlǚ Bāqí) đóng quân tại Bắc Kinh. Họ vừa đóng vai trò đội quân đồn trú của chính phủ nhà Thanh vừa là lực lượng chiến đấu. Số còn lại được chia vào nhiệm vụ canh gác các thành phố quan trọng ở Trung Quốc. Họ được gọi là Trú Phòng Bát Kỳ (駐防八旗 Zhùfáng Bāqí).

Suy thoái và tan rã[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy vậy cuối cùng đạo quân này cũng lại gặp phải bi kịch của đại quân Mông Cổ, đó là sức chiến đấu ngày càng giảm đi sau khi giành được thiên hạ. Những nguyên nhân có thể kể ra như:

  • Sau khi chiếm lĩnh được Trung Nguyên, Nhà Thanh bố trí Bát Kỳ Mãn Châu làm quân đồn trú tại các địa phương để ngăn chặn sự nổi dậy của dân chúng. Điều này đẩy nhanh quá trình Hán hóa, và chỉ sau mấy chục năm hòa bình và hiếm khi thao luyện trên chiến trường, Bát Kỳ Mãn Châu dần mất đi khả năng chiến đấu.
  • Quân Bát Kỳ thực hiện chế độ cha truyền con nối, cả nhà đời đời nối nhau tham gia quân ngũ, cha là lính Bát Kỳ thì các con trai cũng sẽ là lính Bát Kỳ, không tuyển thêm người ngoài. Qua mấy thế hệ không gặp chiến tranh, tinh thần thượng võ trong các gia tộc dần giảm sút, con cháu phải lo mưu sinh nên trình độ huấn luyện, tinh thần chiến đấu cũng ngày càng kém đi so với cha ông. Ngoài ra, do sinh đẻ thời đó khó kiểm soát nên nhân khẩu của Bát Kỳ ngày càng tăng, bộ máy ngày càng cồng kềnh, chi phí lương bổng ngày càng nhiều lên khiến chi phí cho huấn luyện, mua sắm vũ khí ngày càng ít đi.
  • Mặt khác, lương bổng quá thấp khiến việc tuyển mộ khó khăn và tạo ra hiện tượng lính ma, lính kiểng, việc chạy chức, chạy quyền các chức vụ chỉ huy trong Lục Doanh đã xảy ra. Vì vậy phẩm chất tướng lãnh xuống thấp và nạn lính ma tăng cao. Các binh sĩ và chỉ huy đều không quan tâm tới việc huấn luyện mà chỉ chăm chú vào việc kiếm tiền.
  • Quân Bát Kỳ vẫn duy trì trang bị, lối huấn luyện giống như hồi giữa thế kỷ 17. Với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, đến đầu thế kỷ 19 thì trang bị, chiến thuật của quân Bát kỳ đã trở nên lạc hậu, thậm chí còn kém hơn so với quân đội một số nước láng giềng chứ chưa nói tới quân đội các nước tư bản tiên tiến ở châu Âu.

Bát Kỳ Mãn Châu đã nhanh chóng thoái hóa, tốc độ thoái hóa còn nhanh hơn quân đội Mông Cổ mấy lần. Ngay từ năm 1657, vua Thuận Trị đã than phiền là quân Bát Kỳ bị tụt giảm lớn về chất lượng, không sánh được với thời kỳ trước. Đến nửa cuối thế kỷ 17, đạo quân này về cơ bản đã biến thành kiêu binh. Chiến dịch đánh Đài Loan, chống loạn Tam phiên và bình Khiết Nhĩ đan Mông Cổ về cơ bản đều do quân Lục Doanh người Hán gánh vác.[12] Và chỉ sau một thời gian thanh bình, Lục Doanh cũng thoái hóa và mất dần khả năng quân sự và kỷ luật. Chất lượng quân đội nhà Mãn Thanh vào đầu thế kỷ 19 đã xuống dốc nghiêm trọng so với thời lập quốc.

Đến thời Càn Long, quân Bát Kỳ đã trở nên rất suy thoái, hữu danh vô thực. Năm 1784, Càn Long đến Hàng Châu xem thao diễn quân sự, quân Bát Kỳ ở đó bắn tên hầu hết bị trượt, có người cưỡi ngựa không vững bị té xuống đất. Trong Khởi nghĩa Bạch Liên giáo (1795), quân đội Nhà Thanh mà nòng cốt là Bát Kỳ Mãn Châu đã tỏ rõ sự xuống cấp nghiêm trọng về tác chiến. Họ phải điều động mấy chục vạn quân từ 16 tỉnh để trấn áp cuộc nổi dậy, hơn 10 võ quan cao cấp như Đề đốc, Tổng binh và hơn 400 võ quan trung cấp từ Phó tướng trở xuống tử trận[14] Chưa nói việc tác chiến mà ngay cả việc hành quân đường núi cũng đã là điều khó nhọc với binh sỹ Bát Kỳ, trong 2 ngày họ chỉ đi được 70 dặm đường (khoảng 35 km). Trong chiến dịch Xuyên Sở, sách sử ghi lại xét chư tướng tụ tập ăn uống, vốn thâm hụt một khoản lớn, như cua cá hải sản 30, 40 loại, còn chi phí khao thưởng cho cấp dưới thì không tính nổi. Phàm những nơi màu mỡ, các chợ búa đầy ngọc ngà gấm lụa thì việc biếu xén, hối lộ, đánh bạc,… phung phí như bùn đất.[15] Bởi sự hủ bại không thể cứu vãn của các lực lượng chính quy Bát Kỳ, Lục Doanh, nhà Thanh buộc phải dựa vào đoàn luyện địa phương để trấn áp cuộc khởi nghĩa.

Ngoài quân Bát Kỳ là người Mãn Châu, còn có quân Bát Kỳ là người Mông Cổ. Họ vẫn sống trên thảo nguyên, không di cư vào Trung Quốc nên không bị Hán hóa và vẫn còn giữ được khả năng chiến đấu lâu dài hơn Bát Kỳ Mãn Châu. Nhưng tới cuối thời Càn Long (cuối thế kỷ 18) thì lực lượng này cơ bản cũng đã suy thoái, đội quân này bị đánh bại trong một chiến dịch đánh khởi nghĩa Niệp quân (Nian Army) vào thập niên 1860.

Trong Khởi nghĩa Thái Bình Thiên quốc (1851), quân Bát Kỳ và Lục Doanh đã quá hủ bại nên liên tục bại trận. Chỉ trong vòng chưa đầy nửa năm, quân Thái Bình Thiên quốc đã chiếm được hơn 16 tỉnh, 600 thị trấn... làm triều đình nhà Thanh lung lay đến tận gốc rễ. Tháng 3 năm 1853, quân nổi dậy chiếm được thành phố quan trọng phía nam của nhà Thanh là Nam Kinh. Nhà Thanh phải chấp nhận nhiều đội quân "Dũng binh" kiểu mới ra đời để cứu vãn như Tương quân của Tăng Quốc Phiên, Sở quân của Tả Tông Đường, Hoài quân của Lý Hồng Chương và đạo quân đánh thuê nước ngoài Thường Thắng quân.[12] Bát Kỳ và Lục doanh quân làm lãng phí các nguồn tài nguyên cần thiết cho bộ máy hành chính của nhà Thanh nên dần biến mất, từ thập niên 1870 các cơ cấu Dũng binh trên thực tế đã trở thành lực lượng số một của nhà Thanh.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Biên niên sử thế giới – Từ tiền sử cho đến hiện đại, Nguyễn Văn Dâu biên soạn, Nhà xuất bản tri thức, Hà Nội năm 2009.
  • Thuật mưu quyền, Quang Thiệu - Quang Ninh, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, năm 2006
  • Mười đại mưu lược gia Trung Quốc, Tang Du (chủ biên), người dịch: Phong Đảo, Nhà xuất bản Thanh niên, năm 2000
  • Lịch sử và văn hóa Trung Quốc, Scott Morton và CM. Lewis, biên dịch: Tri thức Việt, Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, năm 2008.
  • Những nhân vật quân sự nổi tiếng thế giới, Kha Xuân Kiều, Hà Nhân Học, Biên dịch: Phan Quốc Bảo, Hà Kim Sinh, Nhà xuất bản Thanh niên, năm 2000
  • Bạo Chúa Trung Hoa, Đông A Sáng, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1997
  • Vương triều Hoàng đế Trung Quốc, Trương Tự Văn, Hồ Nam Sư phạm Đại học Xuất bản xã, năm 1998.
  • Từ sự khởi dậy của tộc Mãn đến việc thành lập Đế quốc Thanh, Lý Hồng Bân, Thiên Tân Cổ tịch Xuất bản xã, năm 2003.
  • Kim Dung giữa đời tôi- Toàn tập,(tái bản lần thứ tư), Vũ Đức Sao Biển, Nhà xuất bản trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, năm 2010

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b W. Scott Morton và C.M. Lewis, sđd, trang 178
  2. ^ Quang Thiệu - Quang Ninh, sđd.
  3. ^ a ă Mười đại mưu lược gia Trung Quốc, sđd.
  4. ^ Tương đương 3 "Trại" trước đó.
  5. ^ a ă Kha Xuân Kiều, Hà Nhân Học, sđd, trang 194
  6. ^ Về sau, thời Thuận Trị, Kỳ chủ Chính Bạch Kỳ là Đa Nhĩ Cổn có công lao nhiếp chính nên chuyển thuộc lên Thượng Tam kỳ. Chính Lam kỳ tuy thuộc Hoàng đế nhưng bị chuyển xuống Hạ Ngũ kỳ.
  7. ^ Đông A Sáng, sđd, trang 262
  8. ^ Kha Xuân Kiều, Hà Nhân Học, sđd.
  9. ^ Quang Thiệu, Quang Ninh, Thuật mưu quyền, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, năm 2006, trang 41, 79-80
  10. ^ "Đại Thanh Thái tôn Văn Hoàng đế thực lục", quyển 22.
  11. ^ Xem "Lịch sử đích thiên không" ngày 24 tháng 4 năm 2008 với nhan đề: "lịch sử thượng thập đại thường thắng quân" tại "Shangdu.com" ngày 15 tháng 5 năm 2008, người dịch Nguyễn Duy Chính
  12. ^ a ă â Lý Thuyết Quân sự Trung-Hoa, dịch thuật Nguyễn Duy Chính. Nguyễn Duy Chính dịch tại www.thuvien-ebook.net
  13. ^ Vũ Đức Sao Biển, Kim Dung giữa đời tôi- Toàn tập,(tái bản lần thứ tư), Nhà xuất bản trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, năm 2010
  14. ^ Trịnh Thiên Đĩnh, Thanh sử giản thuật
  15. ^ Ngụy Nguyên, Thánh vũ ký, quyển 11, Vũ sự dư ký