Bão Kona (2010)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Bão Kona)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Một cơn bão cận nhiệt đới vào ngày 19 tháng 12 năm 2010, có nguồn gốc từ một bão Kona

Bão Kona (hay còn gọi là vùng áp suất thấp Kona) là một loại xoáy thuận theo mùa ở quần đảo Hawaii, thường được hình thành vào mùa đông từ những cơn gió đến từ hướng "kona" (thường là hướng khuất gió) phía tây.[1] Chúng chủ yếu là lốc xoáy lõi lạnh, thuộc về loại xoáy thuận ngoài nhiệt đới hơn là loại xoáy thuận cận nhiệt đới. Hawaii thường trải qua hai đến ba năm một lần, có thể ảnh hưởng đến cả tiểu bang trong một tuần hoặc lâu hơn. Trong số các mối nguy hiểm của họ là mưa to, mưa đá, lũ quét và lở đất liên quan, tuyết dốc cao, gió mạnh dẫn đến sóng lớn, sóng biển và vòi rồng nước.

Nguồn gốc của thuật ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Kona là một thuật ngữ tiếng Hawaii (liên quan đến các từ tương tự trong các ngôn ngữ Polynesian khác) cho phía tây (đến phía tây nam) của một hòn đảo.[2] Quận Kona chẳng hạn trên Đảo Hawai'i vẫn sử dụng tên này. Mặc dù thường khô và hướng ngược gió thổi, các tuyến đường truyền thống ở phía đông bắc (tới hướng đông bắc) của gió mậu dịch giảm và đảo ngược khi một trong những cơn xoáy thuận này hoạt động.

Đặc tính của xoáy thuận[sửa | sửa mã nguồn]

Có lần được gọi là xoáy thuận cận nhiệt đới, một sự thay đổi trong định nghĩa của thuật ngữ này vào đầu những năm 1970 khiến việc phân loại các hệ thống không đơn giản. Vùng áp suất thấp Kona thường là lõi lạnh, làm cho chúng trở thành xoáy thuận ngoài nhiệt đới.[3] Tuy nhiên, chúng thường chia sẻ đặc điểm của cơn lốc xoáy cận nhiệt đới trong việc mất frông thời tiết kết hợp với chúng theo thời gian, vì các xoáy thuận này có xu hướng thoái hóa dần.

Otkin và Martin đã xác định được ba loại cơn bão kona: xoáy thuận hình thành xoáy thuận frông lạnh (CFCs), gió đông thương, và xoáy thuận hình thành xoáy thuận frông lạnh/gió đông thương. Trong số ba loại này, cyclone CFC là phổ biến nhất[4].

Mưa rơi trong cơn bão Kona rõ rệt hơn cơn bão frông lạnh, và dữ dội nhất từ hướng nam đến đông của cơn bão và trước trung tâm bão. Mưa dai dẳng có thể kéo dài từ vài giờ đến vài ngày, với các trận bão kéo dài hơn thường bị gián đoạn bởi khoảng thời gian của mưa nhẹ và bầu trời trong sáng một phần. Những cơn mưa nặng có thể xuất hiện bên cạnh những cơn mưa vừa phải nhưng vẫn đều đặn.[1]

Tần số và hiệu ứng[sửa | sửa mã nguồn]

Một số mùa đông xảy ra mà không có một cơn bão Kona, với một cao độ bốn hoặc năm cơn bão một năm. Hawaii thường trải qua hai đến ba bão một năm [5] giữa tháng 10 và tháng 4.[6] Các sự kiện xoáy thuận ở Hawaii có thể kéo dài, ảnh hưởng đến tiểu bang cả tuần hoặc lâu hơn.[7] Vùng áp suất thấp Kona tạo ra nhiều hiểm hoạ thời tiết cho Hawaii. Trong số đó có mưa lớn, mưa đá, lũ quét và sạt lở đất liên quan, gió lớn dẫn đến sóng lớn và sóng biển, vòi rồng nước và tuyết rơi dày trên những ngọn núi cao.[8]

Gió Kona[sửa | sửa mã nguồn]

Gió Kona có liên quan đến cơn bão với sức ép trung tâm dưới 1,000.0 hectopascals (29,53 inHg) mà vượt qua trong vòng 500 dặm / 820 km về phía tây bắc của quần đảo Hawaii. Gió Kona mạnh thường kéo dài một ngày. Gây thiệt hại đáng kể là tàu thuyền nằm phía tây nam của hòn đảo. Trên đất liền, cây cối bị tốc rễ và mái nhà có thể thổi bay ra khỏi nhà. Khi vượt qua những khoảng trống của núi và trên các ngọn núi, gió thổi mạnh hơn 100 mph / 165 km/h, điều này gây ra nhiều sự tàn phá.[9]

Ví dụ[sửa | sửa mã nguồn]

Một cơn bão kona vào ngày 4 tháng 11 năm 1995

Cơn bão Kona mạnh nhất trong năm mươi năm qua đã tấn công các hòn đảo Hawaii từ ngày 8 tháng 1 đến ngày 11 tháng 1 năm 1980. Áp suất thấp chịu trách nhiệm chính cho các điều kiện khắc nghiệt đã có áp suất barometric là 975mb vào ngày 8 tháng 1, trong khi đi qua phía bắc của tiểu bang, các số liệu đo áp suất thấp nhất từng được ghi nhận ở vùng biển Hawaii do hậu quả của một trận bão ngoại nhiệt đới.[10]​ Bão gây ra thời tiết khắc nghiệt trên toàn tiểu bang, buộc phải đóng tất cả các sân bay. Lượng mưa từ cơn bão rất lớn, vượt quá 20 inch ở nhiều địa điểm, đặc biệt là trên Đảo Lớn và Maui. Lướt sóng cao từ cơn bão gây ra thiệt hại lớn, đặc biệt dọc theo bờ biển Kona của Big Island, nơi các thị trấn của Kailua-Kona và Puako nhận được thiệt hại to lớn [10]. Gió từ cơn bão trung bình khoảng 40-50 dặm / giờ trên đại dương, nhưng thay đổi rất nhiều trên đất đai do các đặc điểm địa lý độc đáo. Một số khu vực có gió mạnh hơn lực của cơn bão, bao gồm một cơn thổi thấp với tốc độ 106 dặm / h trên đường Lahaina, Maui. Haiku, trên bờ biển của Maui, trải qua cơn gió mạnh 75 mph (121 km/h). Trên các đỉnh núi cao của Big Island và Maui, gió đã được ghi lại trên 180 dặm / h. Thiệt hại do bão đã được ước tính từ 25 đến 35 triệu đô la (năm 1980).[10]

Vào tháng 12 năm 2008, sét đánh từ cơn bão Kona khiến toàn bộ mạng lưới điện của hòn đảo Oahu bị tê liệt, trong khi Tổng thống đắc cử Barack Obama đang thăm viếng.[11]​ Vào tháng 12 năm 2010, cơn bão Kona trở thành xoáy thuận cận nhiệt đới và cuối cùng trở thành cơn bão nhiệt đới Omeka.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Climate of Hawaii on Western Regional Center web site
  2. ^ lookup of "Kona" on Hawaiian Dictionary
  3. ^ Pennsylvania State University. Subtropical cyclones. Retrieved on 2009-05-22.
  4. ^ Otkin, J. A., and J. E. Martin. (2004). A synoptic-climatology of the subtropical Kona storm. Mon. Wea. Rev., 132, 1502-1517. Download PDF
  5. ^ Jan TenBruggencate. Rain-making Kona systems behind persistent downpours Honolulu Advertiser, retrieved on 2009-05-22
  6. ^ Steven Businger and Thomas Birchard, Jr. A Bow Echo and Severe Weather Associated with a Kona Low in Hawaii. Retrieved on 2007-05-22.
  7. ^ Steven Businger. Kona Lows in Hawaii. Retrieved on 2007-05-22.
  8. ^ Ian Morrison and Steven Businger. Synoptic Structure and evolution of a Kona low Retrieved on 2009-05-22.
  9. ^ Pacific Disaster Center. High Wind in Hawaii. Retrieved on 2007-05-22.
  10. ^ a ă â . Unusual Winter Storm, Hawaii. Retrieved on 2007-11-23.
  11. ^ "Major Power Outage in Honolulu as Obama Visits" in Time Magazine, ngày 27 tháng 12 năm 2008