Bình Nhưỡng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bình Nhưỡng
평양시
—  Thành phố trực thuộc Trung ương  —
Bình Nhưỡng trực hạt thị
평양직할시
Chuyển tự  
 • Chosŏn'gŭl
 • Hancha 直轄市
 • McCune-Reischauer P'yŏngyang Chikhalsi
 • Romaja Quốc ngữ Pyeongyang Jikhalsi
Theo chiều kim đồng hồ từ phía trên bên trái: Toàn cảnh Bình Nhưỡng; Tháp Chủ Thể; Khải Hoàn Môn; Lăng Đông Minh Vương; Trạm Puhŭng, Hệ thống tàu điện ngầm Bình Nhưỡng;  Thống Nhất Môn; và Cung kỷ niệm Kumsusan
Theo chiều kim đồng hồ từ phía trên bên trái: Toàn cảnh Bình Nhưỡng; Tháp Chủ Thể; Khải Hoàn Môn; Lăng Đông Minh Vương; Trạm Puhŭng, Hệ thống tàu điện ngầm Bình Nhưỡng; Thống Nhất Môn; và Cung kỷ niệm Kumsusan
Tên hiệu: "Jerusalem của phương Đông" (xưa)[1][2]
Bản đồ Bắc Triều Tiên với Bình Nhưỡng được tô sáng
Bản đồ Bắc Triều Tiên với Bình Nhưỡng được tô sáng
Bình Nhưỡng trên bản đồ Thế giới
Bình Nhưỡng
Bình Nhưỡng
Tọa độ: 39°1′10″B 125°44′17″Đ / 39,01944°B 125,73806°Đ / 39.01944; 125.73806Tọa độ: 39°1′10″B 125°44′17″Đ / 39,01944°B 125,73806°Đ / 39.01944; 125.73806
Quốc gia Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
Vùng P'yŏngan
Thành lập 1122 TCN
Hành chính
Chính quyền
 • Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Bình Nhưỡng Ryang Man-kil[3]
 • Bí thư Thành ủy Bình Nhưỡng Kim Su-gil[4][5]
Diện tích
 • Tổng cộng 1.100 km2 (400 mi2)
Độ cao 38 m (125 ft)
Dân số (2013)
 • Tổng cộng 2,514,692[6]
 • Phương ngữ P'yŏngan
Múi giờ UTC+08:30
Mã ISO 3166 KP-01 sửa dữ liệu
Thành phố kết nghĩa Jakarta, Kathmandu, Kuala Lumpur, Thiên Tân, Bagdad, Singapore, Moskva, Georgetown, Guyana, Bandar Seri Begawan sửa dữ liệu

Bình Nhưỡng (Tiếng Triều Tiên: 평양, Romanja Quốc ngữ: Pyongyang, phát âm:[pʰjɔŋjaŋ]) là thủ đô và thành phố lớn nhất của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Bình Nhưỡng nằm ở hai bên bờ sông Đại Đồng và theo kết quả điều tra năm 2008, dân số thành phố là 3.255.388 người.[7] Thành phố được tách ra từ tỉnh Pyongan Nam vào năm 1946. Bình Nhưỡng được quản lý như một thành phố trực thuộc trung ương (chikhalsi, trực hạt thị) và tương đương với các tỉnh khác.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Các tên gọi lịch sử khác của thành phố bao gồm Kisong, Hwangsong, Rakrang, Sŏgyong, Sodo, Hogyong, Changan, và Heijo (trong thời Triều Tiên thuộc Nhật). Trong thế kỷ 20, Bình Nhưỡng trở thành "Jerusalem of phương Đông" theo sự so sánh từ các nhà truyền giáo vì nó là thành trì của Kitô giáo, cụ thể là đạo Tin Lành, đặc biệt là trong thời kỳ thành phố Bình Nhưỡng được xây dựg lại năm 1907.

Sau khi Kim Nhật Thành qua đời vào năm 1994, một số thành viên của phe Kim Jong-il đề nghị thay đổi tên của Bình Nhưỡng thành "Thành phố Kim Nhật Thành" (김일성 시), nhưng những người khác cho rằng Bắc Triều Tiên nên bắt đầu gọi Seoul (thủ đô Hàn Quốc) là "thành phố Kim Il-sung" và đổi thành tên " Kim Jong-il City " cho Bình Nhưỡng, và cuối cùng không có đề xuất nào được thực hiện.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1955, các nhà khảo cổ đã khai quật được những bằng chứng về một ngôi làng cổ đại gọi là Kŭmtan-ni ở khu vực Bình Nhưỡng từ các thời kỳ đồ gốm Trất Văn (Chŭlmun)Vô Văn (Mumun).[8] Những người Bắc Triều Tiên liên hệ Bình Nhưỡng với "A Tư Đạt (Asadal)" (아사달; 신시), hay Vương Kiệm Thành (Wanggŏmsŏng) (왕검성; 王儉城), tức kinh đô đầu tiên (thế kỷ 2 TCN) của vương quốc Cổ Triều Tiên theo các sử sách Triều Tiên, đặc biệt là theo Tam quốc di sự (Samguk Yusa). Nhiều sử gia Hàn Quốc tranh cãi về điều này, vì theo các sử sách Triều Tiên khác thì Asadal nằm quanh Liêu Hà ở phía tây Mãn Châu. Dù sao, Bình Nhưỡng đã là một điểm định cư lớn dưới thời Cổ Triều Tiên.

Do không tìm thấy các vết tích của thời kỳ Tây Hán ở khu vực xung quanh Bình Nhưỡng nên có khả năng khu vực quanh Bình Nhưỡng đã ly khai khỏi vương quốc Cổ Triều Tiên và thuộc về các vương quốc Triều Tiên khác khi Vệ Mãn Triều Tiên (một giai đoạn kéo dài nhất của Cổ Triều Tiên) sụp đổ sau chiến tranh Cổ Triều Tiên-Hán vào năm 108 TCN. Một số phát hiện khảo cổ học từ thời kỳ Hậu Đông Hán (25-220) tại khu vực Bình Nhưỡng dường như củng cố quan điểm cho rằng quân Hán về sau đã có những cuộc thâm nhập ngắn vào khu vực quanh Bình Nhưỡng.

Khu vực xung quanh Bình Nhưỡng được gọi là Nanglang (Lạc Lãng) vào giai đoạn sơ khởi của thời Tam Quốc Triều Tiên. Với vai trò là kinh đô của vương quốc Nanglang (낙랑국; 낙랑), Bình Nhưỡng vẫn giữa được vai trò là một tiền đồn thương mại và văn hóa quan trọng sau khi Lạc Lãng quận bị phá hủy trong cuộc chinh phục của Cao Câu Ly vào năm 313 SCN. Cao Câu Ly đã chuyển kinh đô của mình tới Bình Nhưỡng vào năm 427. Theo Christopher Beckwith, Bình Nhưỡng (Pyongyang) là cách đọc Hán-Triều của từ Piarna, nghĩa là "đất bằng".[9]

Năm 676, Bình Nhưỡng rơi vào tay Tân La nhưng sau lại nằm trên vùng biên thùy giữa Tân La và Bột Hải, điều này kéo dài cho đến thời Cao Ly. Dưới thời Cao Ly, Bình Nhưỡng được gọi là Tây Kinh (서경; 西京; "Sŏgyŏng"), mặc dù nơi này chưa từng là kinh đô của vương quốc. Bình Nhưỡng trở thành đô phủ của Đạo Pyongan (Bình An đạo) dưới thời nhà Triều Tiên. Thành phố từng bị quân đội Nhật Bản chiếm đóng vào năm 1592-1593 trong Chiến tranh Nhật Bản-Triều Tiên và bị quân Hậu Kim Mãn Châu chiếm đóng trong năm 1627. Năm 1890, thành phố có 40.000 cư dân.[10] Đây là nơi đã diễn ra một trận đánh quan trọng trong chiến tranh Thanh-Nhật, điều này đã dẫn tới hủy diệt và suy giảm đáng kể dân số của thành phố. Sau đó, khi đạo Pyongan được chia thành đạo Pyongan Bắc và Pyongan Nam vào năm 1896, Bình Nhưỡng lại trở thành đô phủ của Pyongan Nam. Cuối thế kỷ 19, tàu buôn "General Sherman" của Hoa Kỳ đã ngược sông Đại Đồng đến Bình Nhưỡng và bị dân quân địa phương đốt cháy. Sau đó, triều đình Triều Tiên đã phải cho mở cửa Bình Nhưỡng và Nampho (Nam Phố), thành phố trở thành trung tâm thương mại và công nghiệp chủ yếu của miền bắc Triều Tiên. Dưới thời Nhật Bản cai trị, thành phố đã trở thành một trung tâm công nghiệp và được gọi với cái tên Heijō (Bình Thành) trong tiếng Nhật. Năm 1938, dân số Bình Nhưỡng đã đạt 235.000 người.[10]

Năm 1945, quân đội Xô-viết tiến vào Bình Nhưỡng, thành phố trở thành thủ đô lâm thời của Ủy ban Nhân dân Bắc Triều Tiên. Trường Thương mại Bình Nhưỡng nằm bên đồi Mansudae, tòa nhà chính quyền tỉnh Pyongan Nam nằm ở phía sau. Tòa nhà chính quyền tỉnh là một trong các tòa nhà đẹp nhất Bình Nhưỡng. Lực lượng vũ trang Xô viết được giao quản lý tòa nhà để làm trụ sở còn Tòa thị chính được phân cho các quan chức Bắc Triều Tiên, trong khi trụ sở của đảng Cộng sản được phân về Nha Hải quan.[11] Bình Nhưỡng trở thành thủ đô trên thực tế của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên kể từ khi được thành lập vào năm 1948. Vào thời điểm đó, chính quyền Bình Nhưỡng nhắm lấy mục tiêu giành lại thủ đô chính thức là Seoul. Bình Nhưỡng một lần nữa bị thiệt hại nặng nề trong chiến tranh Triều Tiên, từng bị lực lượng miền Nam chiếm đóng một cách nhanh chóng. Năm 1952, thành phố trở thành mục tiêu của các cuộc không kích bất ngờ có quy mô lớn nhất trong toàn bộ cuộc chiến, với 1.400 máy bay của liên quân Liên Hiệp Quốc. Sau chiến tranh, thành phố nhanh chóng được xây dựng lại với sự giúp đỡ của Liên Xô, các tòa nhà mới mang phong cách kiến trúc Stalin. Thành phố Bình Nhưỡng sau khi được xây dựng lại có đặc trưng là các công viên rộng lớn, các đại lộ và các chung cư cao tầng. Bình Nhưỡng trở thành trung tâm chính trị, kinh tế và giao thông của Bắc Triều Tiên. Chỉ những công dân chọn lọc bao gồm những quan chức nhà nước và gia đình họ, những người có lý lịch trong sạch nhất và trung thành nhất với chế độ mới được phép cư trú tại Bình Nhưỡng. Việc cư trú tại Bình Nhưỡng là một đặc quyền.[12] Để ra vào thành phố phải có giấy phép của chính quyền.[13] Năm 1962, thành phố có tổng dân số là 653.000 người. Dân số tăng lên 1,3 triệu năm 1978 và lên trên 3 triệu người vào năm 2007.[10]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Bình Nhưỡng nằm ở phần tây-trung của Bắc Triều Tiên; thành phố nằm trên một vùng đồng bằng bằng phẳng cách 50 km (30 mi) về phía đông của vịnh Triều Tiên, một bộ phận của Hoàng Hải. Sông Đại Đồng chảy theo hướng tây nam qua thành phố và đổ vào vịnh Triều Tiên. Phía tây bắc Bình Nhưỡng có các dãy núi thấp và phía đông có một số ngọn đồi nhỏ.

Khoảng cách từ Bình Nhưỡng đến khu phi quân sự Triều Tiên khoảng 145 km, xa hơn đến gần 100 km nếu so với quãng đường từ Seoul bên Hàn Quốc đến địa điểm này.

Cấu tạo địa chất Bình Nhưỡng nằm trên địa hệ đá vôi và đá hoa cương của kỷ Jura vào thời kỳ Đại Trung Sinh, Triều Tiên gọi là "hệ Đại Đồng". Thành phần thổ nhưỡng gồm đất cát đỏ hình thành từ phân giải đá vôi. Các loại khoáng sản chủ yếu là than non, bô xít, than bùn, đồng. Thảm thực vật thuộc vành đai cây lá kim.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Bình Nhưỡng có khí hậu lục địa ẩm (Köppen Dwa). Vào mùa đông, các cơn gió lạnh và khô từ Siberi về khiến cho khí hậu trở nên rất lạnh; nhiệt độ thường xuyên xuống sâu dưới mức 0 °C từ giữa tháng 11 đến đầu tháng 3, mặc dù nhiệt độ trung bình ngày lên trên mức đóng băng vào mọi tháng trừ tháng 1. Thời tiết mùa đông thường khô hơn mùa hè, tuyết rơi trung bình 37 ngày trong năm.[14]

Việc chuyển giao giữa mùa đông lạnh và khô sang mùa hè ấm và ẩm diễn ra khá nhanh vào tháng 4 và đầu tháng 5, và tương tự đối với sự quay trở lại của mùa đông vào tháng 10 và 11. Mùa hè thường nóng và ẩm, với gió mùa Đông Á thổi từ tháng 6 cho đến tháng 8; đây cũng là những tháng nóng nhất trong năm, với nhiệt độ trung bình là từ 21 °C (70 °F) đến 25 °C (77 °F), nhiệt độ vào ban ngày có thể cao đến trên 30 °C (86 °F).

Dữ liệu khí hậu của Bình Nhưỡng (1971–2000)
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Trung bình cao °C (°F) −0.8 2.4 8.9 17.1 22.6 26.7 28.6 28.9 24.7 18.2 9.4 1.7 15,7
Trung bình thấp, °C (°F) −10.7 −7.8 −1.8 4.9 10.9 16.5 20.7 20.5 14.3 6.7 −0.3 −7.2 5,6
Giáng thủy mm (inch) 12.2
(0.48)
11.0
(0.433)
24.7
(0.972)
49.9
(1.965)
72.2
(2.843)
90.3
(3.555)
275.2
(10.835)
212.8
(8.378)
100.2
(3.945)
39.9
(1.571)
34.9
(1.374)
16.5
(0.65)
939,8
(37)
Số ngày giáng thủy TB (≥ 0.1 mm) 5.2 4.2 5.1 6.7 8.1 8.7 14.4 11.0 7.2 6.1 7.3 5.9 89,9
Nguồn: Tổ chức Khí tượng Thế giới[15]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bình Nhưỡng nhìn từ vệ tinh vào năm 2007

Bình Nhưỡng được chia thành 18 khu vực (ku- hay guyŏk) và 1 huyện (kun hay gun).[16]

  • Chung-guyok (중구역; 中區域; Trung khu vực)
  • Pyongchon-guyok (평천구역; 平川區域; Bình Xuyên khu vực)
  • Potonggang-guyok (보통강구역; 普通江區域; Phổ Thông Giang khu vực)
  • Moranbong-guyok (모란봉구역; 牡丹峰區域; Mẫu Đơn Phong khu vực)
  • Sosong-guyok (서성구역; 西城區域; Tây Thành khu vực)
  • Songyo-guyok (선교구역; 船橋區域; Thuyền Kiều khu vực)
  • Tongdaewon-guyok (동대원구역; 東大院區域; Đông Đại Viện khu vực)
  • Taedonggang-guyok (대동강구역; 大同江區域; Đại Đồng Giang khu vực)
  • Sadong-guyok (사동구역; 寺洞區域; Tự Động khu vực)
  • Taesong-guyok (대성구역; 大城區域; Đại Thành khu vực)
  • Mangyongdae-guyok (만경대구역; 萬景台區域; Vạn Cảnh Đài khu vực)
  • Hyongjesan-guyok (형제산구역; 兄弟山區域; Huynh Đệ Sơn khu vực)
  • Ryongsong-guyok (룡성구역; 龍城區域; Long Thành khu vực)
  • Samsok-guyok (삼석구역; 三石區域; Tam Thạch khu vực)
  • Ryokpo-guyok (력포구역; 力浦區域; Lực Phố khu vực)
  • Nakrang-guyok (락랑구역; 樂浪區域; Nhạc/Lạc Lãng khu vực)
  • Sunan-guyok (순안구역; 順安區域; Thuận An khu vực)
  • Unjong-guyok (은정구역; 恩情區域; Ân Tình khu vực)
  • Kangdong-gun (강동군; 江東郡; Giang Đông quận)

Truyền thông nước ngoài năm 2010 đưa tin rằng Kangnam, Chunghwa, Sangwon, và Sŭngho-guyŏk đã được chuyển từ Bình Nhưỡng sang tỉnh Hwanghae Bắc.[17]

Cảnh quan thành phố[sửa | sửa mã nguồn]

A panoramic view of Pyongyang from atop the Juche tower
Toàn cảnh Bình Nhưỡng nhìn từ tháp Juche, tháng 4 năm 2012.
Cao ốc căn hộ với mảng xanh

Bình Nhưỡng đã bị phá hủy đáng kể trong chiến tranh Triều Tiên và đã được xây dựng lại hoàn toàn theo một thiết kế phản ánh tầm nhìn của Kim Il-sung. Ước mơ của ông là tạo ra một thủ đô có thể làm tăng tinh thần trong những năm sau chiến tranh. Kết quả là một thành phố với những đại lộ rộng lớn và các tòa nhà công cộng với cảnh quan thiên nhiên, khảm và trần nhà được trang trí. Kiến trúc kiểu Nga của nó gợi nhớ lại những thành phố ở Siberi trong mùa đông tuyết rơi, mặc dù các công trình xây dựng kiểu truyền thống Triều Tiên làm dịu lại nhận thức này. Vào mùa hè, cảnh quan đáng chú ý là các con sông, cây liễu, hoa và công viên.

Các đường phố được bố trí theo hướng bắc-nam, phía đông-tây, cho thành phố được quy hoạch có trật tự. Các nhà thiết kế Bắc Triều Tiên áp dụng kinh nghiệm của Thụy Điển về các khu dân cư tự cung tự cấp trên khắp cả nước, và Bình Nhưỡng cũng không phải là ngoại lệ. Dân cư chủ yếu chia thành các đơn vị hành chính từ 5.000 đến 6.000 người. Các đơn vị này đều có các tiện ích như nhau như cửa hàng thực phẩm, cửa hàng cắt tóc, thợ may, nhà tắm công cộng, bưu điện, phòng khám, thư viện và những nơi khác. Nhiều người dân sống trong các tòa nhà cao tầng. Một trong những ưu tiên của Kim Il-sung trong khi thiết kế Bình Nhưỡng là hạn chế dân số. Các nhà cầm quyền duy trì một chế độ hạn chế di chuyển vào thành phố, làm cho Bình Nhưỡng trở nên khác hẳn so với sự sôi động náo nhiệt điển hình của các đô thị khu vực Đông Á vì đặc điểm của thành phố là im lặng, không chật hẹp và rộng rãi.

Các kiểu nhà ở Bình Nhưỡng được chia thành ba loại kiến ​​trúc chính: tượng đài, tòa nhà với mô hình kiểu Triều Tiên truyền thống và nhà cao tầng. Một số địa danh nổi tiếng nhất của Bắc Triều Tiên là tượng đài, như tháp Juche, Khải Hoàn Môn và Tượng đài Grand Mansu Hill. Đầu tiên là một viên đá granite 170 mét tượng trưng cho hệ tư tưởng Juche (Chủ thể). Nó đã được hoàn thành vào năm 1982 và chứa 25.550 khối đá granit. Tòa nhà nổi bật nhất trên đường chân trời của Bình Nhưỡng là khách sạn Ryugyong, tòa nhà cao thứ 22 trong số các tòa nhà cao nhất thế giới và là một trong những khách sạn cao nhất trên thế giới. Nó vẫn chưa được khai trương tính đến thời điểm hiện tại.

Các tòa nhà chung cư cao tầng chiếm ưu thế trong cảnh quan thành phố. Chính phủ đã phát động một chiến dịch huy động quần chúng nhằm xây dựng 100.000 ngôi nhà mới trong năm 2011. Khu liên hợp Khu phố Changjon là một phần của nỗ lực này. Việc xây dựng khu phức hợp bắt đầu sau khi nhà lãnh đạo Kim Jong-il qua đời mô tả khu vực này là "đáng thương". Các khu nhà ở khác đang được nâng cấp, nhưng hầu hết vẫn không được bảo vệ trong khi thang máy và hệ thống sưởi ấm trung tâm vẫn còn hiếm. Những tòa nhà mới này dự kiến ​​sẽ bắt đầu một chương trình đổi mới đô thị tiếp tục dưới sự lãnh đạo của Kim Jong-un, với những căn hộ cũ của những năm 1970 và những năm 80 đã được thay thế bằng những cao ốc cao tầng mới và các công viên giải trí mới như Công viên Thanh niên Kaesong, cũng như cải tạo các tòa nhà cũ.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bình Nhưỡng là trung tâm công nghiệp của đất nước với các ngành như cơ khí, dệt may, điện tử, công nghệ thực phẩm. Vào đầu thập niên 1990, kinh tế thủ đô đã bị ảnh hưởng nặng nề sau khi bị mất các bạn hàng truyền thống do sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu. Sản lượng công nghiệp của thành phố đã từng suy giảm ở mức 5% mỗi năm cho đến tận năm 2000. Theo một số ước tính của phương Tây, có một nửa số nhà máy đã bị đóng cửa, một số nguồn còn đưa ra con số 90%. Nền kinh tế Bình Nhưỡng hiện được cho là ở trong tình trạng tự cung tự cấp.

Nguồn điện cung cấp cho Bình Nhưỡng chủ yếu đến từ các nhà máy thủy điện, nhiệt điện và các lò phản ứng plutonium. Kể từ khi các nhà máy này hoạt động gián đoạn thì nguồn điện dược cung cấp theo số lượng cố định. Kết quả là thủ đô hầu như chìm trong bóng tối vào ban đêm. Các địa điểm quan trọng như khu ngoại giao đoàn, các tòa nhà chính quyền, khách sạn cho người nước ngoài, các doanh trại quân đội Nhân dân Triều Tiên và hệ thống chiếu sáng tại các đài tưởng niệm chủ tịch Kim Nhật Thành có nguồn cung cấp điện riêng. Thành phố Bình Nhưỡng có các đường ống ngầm để sưởi ấm đến từng căn hộ, từng tòa nhà, tuy nhiên, một lượng nhiệt đáng kể bị tiêu hao dọc chiều dài đường ống.

Thành phố vẫn gặp tình trạng thiếu điện thường xuyên. Để giải quyết vấn đề này, hai nhà máy điện - Trạm điện Huichon 1 và 2 - được xây dựng ở tỉnh Chagang và cung cấp cho thành phố thông qua đường truyền trực tiếp. Giai đoạn thứ hai của dự án mở rộng điện đã được đưa ra vào tháng 1 năm 2013, bao gồm một loạt các con đập nhỏ dọc theo sông Chongchon. Hai nhà máy điện đầu tiên có công suất phát điện tối đa là 300 megawatt (MW), trong khi 10 đập được xây dựng trong giai đoạn thứ hai dự kiến sẽ sản xuất khoảng 120 MW. Ngoài ra, thành phố có một số nhà máy nhiệt điện hiện tại hoặc quy hoạch. Bao gồm Bình Nhưỡng TPS với công suất 500 MW, Đông Bình Nhưỡng TPS công suất 50 MW và Kangdong TPS đang được xây dựng.

Các địa danh[sửa | sửa mã nguồn]

Các địa danh nổi bật trong thành phố bao gồm:

  1. Sân vận động mùng 1 tháng 5 Rungrado
  2. Sân vận động Kim Nhật Thành

Tháp TV ở Bình Nhưỡng là một địa danh nhỏ. Các điểm tham quan hấp dẫn khác bao gồm vườn thú Bình Nhưỡng. Ở Khải Hoàn Môn có bản đồ vẽ bán đảo Triều Tiên thống nhất được nâng đỡ bởi hai phụ nữ người Triều Tiên mặc trang phục truyền thống nằm trên đường cao tốc Thống Nhất, đoạn đường đi từ Bình Nhưỡng đến khu phi quân sự Triều Tiên (DMZ).

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Đại học Tổng hợp Kim Nhật Thành, trường đại học lâu đời nhất của Triều Tiên, được thành lập vào năm 1946. Nó có bảy trường đại học, 14 khoa và 16 viện nghiên cứu khác, các trường đại học và các đơn vị đại học. Bao gồm giáo dục y tế cơ bản và đơn vị đào tạo nhân viên y tế, trường cao đẳng y; một viện khoa học vật lý bao gồm một loạt các nghiên cứu bao gồm vật lý lý thuyết, khoa học quang học, địa vật lý và vật lý thiên văn; [69] một viện năng lượng nguyên tử và một phòng nghiên cứu tiến hóa con người nghiên cứu sự tiến hoá của con người thông qua quan điểm Juche. Trường Đại học Kim Il-Sung cũng có nhà xuất bản riêng, câu lạc bộ thể thao riêng, bảo tàng cách mạng, bảo tàng thiên nhiên, thư viện, phòng tập thể dục, bể bơi trong nhà và nhà ở của giáo dục. Hai tòa nhà chính của nó đã được hoàn thành vào năm 1965 (Tòa nhà 1) và 1972 (Tòa nhà 2). Một tòa nhà thứ ba trong khuôn viên dự kiến sẽ được xây dựng trong tương lai gần.

Các cơ sở giáo dục đại học khác bao gồm Đại học Công nghệ Kim Kaek, Đại học Âm nhạc và Khiêu vũ Bình Nhưỡng và Đại học Ngoại Ngữ Pyongyang. Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Bình Nhưỡng là trường đại học tư thục đầu tiên của đất nước, nơi hầu hết giảng viên là người Mỹ và các khóa học được giảng dạy bằng tiếng Anh. Một hội trường khoa học và công nghệ đang được xây dựng trên hòn đảo Ssuk. Mục đích của nó là nhằm góp phần "tin học hóa các nguồn lực giáo dục" bằng cách tập trung các tài liệu giảng dạy, tài liệu bắt buộc và dữ liệu thực nghiệm cho việc sử dụng ở cấp độ bang ở dạng số

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lankov, Andrei (16 tháng 3 năm 2005). “North Korea's missionary position”. Asia Times Online. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2013. By the early 1940s Pyongyang was by far the most Protestant of all major cities of Korea, with some 25–30% of its adult population being church-going Christians. In missionary circles this earned the city the nickname "Jerusalem of the East". 
  2. ^ Caryl, Christian (15 tháng 9 năm 2007). “Prayer In Pyongyang”. The Daily Beast. The Newsweek/Daily Beast Co. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2013. It's hard to say how many covert Christians the North has; estimates range from the low tens of thousands to 100,000. Christianity came to the peninsula in the late 19th century. Pyongyang, in fact, was once known as the 'Jerusalem of the East.' 
  3. ^ Organizational chart of North Korean Leadership, April 2012, Ministry of Unification
  4. ^ The Secretarial Pool, NK Leadership Watch, 6 May 2014
  5. ^ NK Media Reports Pyongyang Apartment Collapse
  6. ^ City population by sex, city and city type, UN, 11 tháng 2 năm 2013, truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2013 .
  7. ^ United Nations Statistics Division; Preliminary results of the 2008 Census of Population of the Democratic People’s Republic of Korea conducted on 1–ngày 15 tháng 10 năm 2008 (pdf-file) Retrieved on 2009-03-01.
  8. ^ National Research Institute of Cultural Heritage. 2001. Geumtan-ri. Hanguk Gogohak Sajeon [Dictionary of Korean Archaeology], pp. 148–149. NRICH, Seoul. ISBN 89-5508-025-5
  9. ^ Beckwith, Christopher I. (2009). Empires of the Silk Road: A History of Central Eurasia from the Bronze Age to the Present. Princeton University Press. tr. 104. ISBN 9780691135892. 
  10. ^ a ă â Jan Lahmeyer, University of Utrecht: Populstat: North Korea - Urban Population
  11. ^ "The Red Army Descends on Pyongyang", Hwang Jang Yop's Memoirs
  12. ^ Inside Under Cover In North Korea, National Geographic
  13. ^ Một thoáng nhìn về cuộc sống Bắc Hàn, Juliet Rix, BBC online
  14. ^ “Weather Centre - World Weather - Country Guides - North Korea”. BBC. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2010. 
  15. ^ “World Weather Information Service-Pyongyang” (bằng tiếng Anh). Tổ chức Khí tượng Thế giới. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2015. 
  16. ^ “행정구역현황 (Haengjeong Guyeok Hyeonhwang)”. NK Chosun. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2006. 
  17. ^ “Pyongyang now more than one-third smaller; food shortage issues suspected”, Asahi Shimbun, 17 tháng 7 năm 2010, truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2010 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]