Bùi Hữu Nhơn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
BÙI HỮU NHƠN
Tiểu sử
Sinh 1928 (89 tuổi)
Không rõ sinh quán
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1946-1968
Cấp bậc US-O8 insignia.svg Thiếu tướng
Đơn vị Flag of ARVN's Artillery Forces.svg Binh chủng Pháo binh
ARVN 7th Division SSI.svg Sư đoàn 7 Bộ binh
ARVN Joint General Staff Insignia.svg Tổng cục Tiếp vận
[[ ]] Sư đoàn 21 Bộ binh
Chỉ huy Flag of France.svg QĐ Liên hiệp Pháp
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến -Chiến tranh Đông Dương
-Chiến tranh Việt Nam
Công việc khác Patch of Military Assistance Command, Vietnam.png Quốc tế Quân viện

Bùi Hữu Nhơn (1928), nguyên là một tướng lĩnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Thiếu tướng. Ông xuất thân từ khóa đầu tiên ở trường Võ bị Viễn đông do Quân đội thuộc địa Pháp mở ra tại cao nguyên Trung phần Việt Nam nhằm đào tạo sĩ quan phục vụ cho Quân đội Liên hiệp Pháp sau đó và Quân đội Quốc gia Việt Nam sau này. Ông đã phục vụ trong Binh chủng Pháo binh từ những chức vụ nhỏ nhất của một sĩ quan cho đến chức vụ cao nhất là Chỉ huy trưởng Binh chủng. Có thể xem ông là một vị tướng Pháo binh. Tuy nhiên, vì xuất thân từ một trường Võ bị nên trong suốt thời gian phục vụ Quân đội, ông cũng đảm trách những chức vụ ở những lĩnh vực khác như Tư lệnh Sư đoàn Bộ binh, Chỉ huy trưởng đơn vị Yểm trợ, Chỉ huy trưởng Cơ sở đào tạo nhân lực cho quân đội v.v...

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh năm 1928. (không rõ sinh quán). Ông đã tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp với văn bằng Thành chung.

Quân đội Liên hiệp Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa năm 1946, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Pháp, mang số quân: 48/104.132. Theo học khóa 1 Nguyễn Văn Thinh ở trường Võ bị Liên quân Viễn đông tại Đà Lạt,[1] khai giảng ngày 15 tháng 7 năm 1946. Ngày 1 tháng 7 năm 1947 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ra trường ông được chọn phục vụ trong đơn vị Pháo binh của Quân đội Liên hiệp Pháp. Sau đó, ông được cử đi du học khóa căn bản sĩ quan Pháo binh tại trường Pháo binh Pháp ở Idar-Oberstein, Đức Quốc.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa năm 1950, chuyển sang phục vụ Quân đội Quốc gia, ông được thăng cấp Trung úy, làm Huấn luyện viên tại Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt (sau là Võ bị Quốc gia Việt Nam). Kế tiếp làm Trung đội trưởng Trung đội sinh viên sĩ quan hiện dịch của khóa 3 Trần Hưng Đạo và khóa 5 Hoàng Diệu.

Đầu năm 1952, ông được thăng cấp Đại úy, được đi học lớp Chỉ huy & Tham mưu ở Hà Nội. Đến tháng 8 năm 1954, sau Hiệp định Genève (20 tháng 7) ông được thăng cấp Thiếu tá và được cử đi du học lớp sĩ quan cao cấp Pháo binh tại Châlons-sur-Marne, Pháp. Mãn khóa học về nước, ông giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 Pháo binh, đồn trú tại Cần Thơ.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1955, sau khi Thủ tướng Ngô Đình Diệm đắc cử Tổng thống của nền Đệ nhất Cộng hòa và đổi tên Quân đội Quốc gia thành Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Trung tá và được cử làm Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Pháo binh Phú Lợi đặt tại Thủ Đầu Một kiêm Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Pháo binh Trung ương. Đến cuối năm 1956, ông được cử đi du học ở Hoa Kỳ khóa Chỉ huy và Tham mưu cao cấp tại Fort Leavenworth, Tiểu bang Kansas. Kế tiếp học khóa Không trợ Cận chiến ở Coronado, San Diego, Tiểu bang California. Đầu năm 1958, về nước giữ chức vụ Tư lệnh phó Quân khu 3. Tháng 4 cùng năm, ông được thăng cấp Đại tá và được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân khu 3.[2] Đến đầu năm 1960, ông chuyển về Bộ Tổng tham mưu ông được cử giữ chức Trưởng phòng Quân huấn tân lập.[3] Cùng năm ông đi du học tu nghiệp lớp Pháo binh Phòng không tại Fort Bliss, El Paso, Tiểu bang Texas, Hoa Kỳ. Đầu năm 1961, ông được tái nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Pháo binh Trung ương. Giữa năm 1962, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh.

Trung tuần tháng 11 năm 1963, sau cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm, ông được cử giữ chức vụ Quyền Tư lệnh Quân đoàn IV và Vùng 4 chiến thuật (4 ngày), sau đó bàn giao lại cho Thiếu tướng Nguyễn Hữu Có. Trong tháng này ông được chuyển về Bộ Tổng tham mưu giữ chức vụ Tham mưu phó Hành quân.

Đầu tháng háng 2 năm 1964, sau vụ Chỉnh lý nội bộ các tướng lĩnh trong Hội đồng Quân nhân Cách mạng để giành quyền lãnh đạo của tướng Nguyễn Khánh, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 7 bộ binh. Tháng 7 cùng năm, trở về phục vụ tại Bộ Tổng tham mưu sau khi bàn giao Sư đoàn 7 lại cho Đại tá Huỳnh Văn Tồn. Tháng 11 cuối năm, ông được thăng cấp Chuẩn tướng và được bổ nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức.

Giữa năm 1965, ông được thăng cấp Thiếu tướng, chuyển về Bộ Tổng tham mưu giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục Tiếp vận tân lập kiêm Chủ tịch Uỷ ban Điều hành Quốc tế Quân viện. Đến đầu năm 1966, ông được cử giữ chức vụ Tham mưu trưởng Liên quân trong Bộ Tổng tham mưu. Tháng 12 cùng ăm, ông tái nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng trường Bộ binh Thủ Đức. Giữa năm 1967, bàn giao chức Chỉ huy trưởng trương Bộ binh lại cho Đai tá Lâm Quang Thơ, về lại tùng sự tại Bộ Tổng tham mưu. Đầu năm 1968, ông được tái nhiệm chức vụ điều hành Ủy ban Điều hành Quốc tế Quân viện. Tháng 12 cùng năm, ông được giải ngũ với lý do đã có trên 20 năm phục vụ quân đội.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30 tháng 4, ông cùng gia đình di tản khỏi Việt Nam. Sau đó sang định cư tại Tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trường Võ bị Viễn Đông đào tạo duy nhất một khóa sĩ quan hiện dịch tại Đà Lạt, sau đó nhường cơ sở lại cho trường Võ bị Quốc gia từ Huế dời về. Trường di chuyển về Vũng Tàu lấy tên là trường Sĩ quan Nước Ngọt, tiếp tục huấn luyện khóa Đỗ Hữu Vị
  2. ^ Quân khu 3 tân lập gồm các tỉnh: Pleiku, Kontum, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên
  3. ^ Sau này là Tổng cục Quân huấn

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.