Bướm lá khô

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kallima inachus
Orange oak leaf.JPG
Kallima inachus qtl1.jpg
Tình trạng bảo tồn
Not rare
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Arthropoda
Phân ngành (subphylum) Hexapoda
Lớp (class)

Insecta

Nhánh Dicondylia
Phân lớp (subclass)

Pterygota

Nhánh Metapterygota
Nhánh Neoptera
Nhánh Eumetabola
Nhánh Endopterygota
Liên bộ (superordo) Panorpida
(không phân hạng) Amphiesmenoptera
Bộ (ordo) Lepidoptera
Phân bộ (subordo) Glossata
Phân thứ bộ (infraordo) Heteroneura
Nhóm động vật (zoodivisio) Ditrysia
Nhánh động vật (zoosectio) Cossina
Phân nhánh động vật (subsectio) Bombycina
Liên họ (superfamilia)

Papilionoidea

Nhánh Papilioniformes
Họ (familia) Nymphalidae
Phân họ (subfamilia) Nymphalinae
Tông (tribus) Kallimini
Chi (genus) Kallima
Loài (species) K. inachus
Danh pháp hai phần
Kallima inachus
(Boisduval, 1846)[1]

Bướm lá khô (danh pháp khoa học: Kallima inachus) là một loài bướm đặc trưng cho việc lẩn tránh kẻ thù bằng các hình thức ngụy trang, thuộc chi Kallima, họ Nymphalidae.

Bướm lá khô sinh sống ở châu Á từ Ấn Độ đến Nhật Bản. Với cánh khép lại loài bướm này trông giống một lá khô với các ven tối và là một ví dụ tốt về cách thức ngụy trang.

Đặc điểm sinh học[sửa | sửa mã nguồn]

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Loài bướm rất đặc trưng ngụy trang lẩn tránh kẻ thù, khi chúng đậu khép cánh lại, mặt dưới cánh giống hệt như một chiếc lá khô. Với phần đuôi cánh sau kéo dài như một chiếc cuống lá và một đường màu nâu kéo dài đến chót cánh trước tạo thành gân chính của lá. Mặt trên cánh trước có một mảng màu cam ở giữa cánh, chót cánh màu đen với một chấm trắng nhỏ, phần còn lại của cánh trước và cánh sau có màu xanh lam rất rõ. Sải cánh: 85 - 110 mm.

Hoạt động sinh thái[sửa | sửa mã nguồn]

Loài này chủ yếu sống trong các khu rừng thường xanh, thường gặp những cá thể đơn lẻ trong các bụi cây Calamus rậm rạp thuộc họ Cau (Arecaceae), chúng cũng hay hút chất lỏng ở các quả thối thuộc giốngFicus. Khi bị động chúng bay lên rất cao và bay sâu vào các bụi rậm, do cánh của chúng rất giống với một chiếc lá khô nên rất khó quan sát. Thức ăn của sâu non được ghi nhận là trên một số cây song, mâyCalamus thuộc họ Cau  (Arecaceae).

Phân bổ[sửa | sửa mã nguồn]

Trên thế giới loài phân bố ở Nepal, Bhutan, Sikkim, Asam, Miến Điện, Nam Trung Quốc, Thái Lan, Lào.

Phụ loài là Kallima inachus inachus phân bố ở miền Bắc, còn phụ loài  Kallima inachus siamensis phân bố ở miền Nam Việt Nam.

Tình trạng[sửa | sửa mã nguồn]

    Loài sống gắn liền với các thảm thực vật, vì vậy việc phá rừng có thể ảnh hưởng đến sự tồn tại của loài.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Beccaloni, G. W.; Scoble, Malcolm; Kitching, Ian; Simonsen, Thomas; Robinson, Gaden; Pitkin, Brian; Hine, Adrian & Lyal, Chris biên tập (2013). “Kallima inachus”. LepIndex: The Global Lepidoptera Names Index (version 12.3). Natural History Museum, London. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

(tiếng Việt)