Bạch cầu hạt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bạch cầu hạt là một loại tế bào bạch cầu được đặc trưng bởi sự hiện diện của các hạt trong tế bào chất của chúng.[1] Chúng còn được gọi là bạch cầu nhân đa hình (PMN, PML hoặc PMNL) vì hình dạng khác nhau của nhân, thường được chia thành ba phân đoạn. Điều này phân biệt chúng với các tế bào bạch cầu không hạt. Theo cách nói thông thường, thuật ngữ bạch cầu hạt thường đề cập cụ thể đến " bạch cầu hạt trung tính ",[2] nhiều nhất trong số các bạch cầu hạt; các loại khác (bạch cầu ái toan, bạch cầu ái kiềm và tế bào mast) có số lượng thấp hơn. Bạch cầu hạt được sản xuất thông qua vùng tạo bạch cầu hạt trong tủy xương.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Có bốn loại bạch cầu hạt:[3]

Ngoại trừ các tế bào mast, tên của chúng được lấy từ các đặc tính nhuộm màu của chúng; ví dụ, bạch cầu hạt phong phú nhất là bạch cầu hạt trung tính, trong đó có các hạt tế bào chất nhuộm trung tính.

Bạch cầu trung tính[sửa | sửa mã nguồn]

Một bạch cầu trung tính có nhân phân đoạn (trung tâm và được bao quanh bởi hồng cầu), các hạt trong tế bào có thể nhìn thấy trong tế bào chất (độ phóng đại cao của Giemsa)

Bạch cầu trung tính thường được tìm thấy trong máu và là loại thực bào phong phú nhất, chiếm 60% đến 65% tổng số tế bào bạch cầu lưu hành,[4] và bao gồm hai quần thể: kẻ giết bạch cầu trung tính và bạch cầu trung tính. Một lít máu người chứa khoảng năm tỷ (5x10 9) bạch cầu trung tính,[5] có đường kính khoảng 12 con15 micromet.[6] Khi bạch cầu trung tính đã nhận được các tín hiệu thích hợp, chúng sẽ mất khoảng ba mươi phút để rời khỏi máu và đến vị trí bị nhiễm trùng.[7] Bạch cầu trung tính không trở lại máu; chúng biến thành tế bào mủ và chết.[7] Bạch cầu trung tính trưởng thành nhỏ hơn bạch cầu đơn nhân và có nhân phân đoạn với nhiều phần (hai đến năm đoạn); mỗi phần được kết nối bởi các sợi nhiễm sắc. Bạch cầu trung tính thường không thoát ra khỏi tủy xương cho đến khi trưởng thành, nhưng trong quá trình tiền chất bạch cầu trung tính bị nhiễm trùng được gọi là myelocytes và promyelocytes được giải phóng.[8]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ WebMD (2009). “granulocyte”. Webster's New World Medical Dictionary (ấn bản 3). Houghton Mifflin Harcourt. tr. 181. ISBN 978-0-544-18897-6. 
  2. ^ WebMD (2009). “leukocyte, polymorphonuclear”. Webster's New World Medical Dictionary (ấn bản 3). Houghton Mifflin Harcourt. tr. 244. ISBN 978-0-544-18897-6. 
  3. ^ Breedveld A, Groot Kormelink T, van Egmond M, de Jong EC (tháng 10 năm 2017). “Granulocytes as modulators of dendritic cell function”. Journal of Leukocyte Biology 102 (4): 1003–1016. PMID 28642280. doi:10.1189/jlb.4MR0217-048RR. 
  4. ^ Stvrtinová, Viera; Ján Jakubovský and Ivan Hulín (1995). “Neutrophils, central cells in acute inflammation”. Inflammation and Fever from Pathophysiology: Principles of Disease. Computing Centre, Slovak Academy of Sciences: Academic Electronic Press. ISBN 80-967366-1-2. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2009. 
  5. ^ Hoffbrand p. 331
  6. ^ Abbas, Chapter 12, 5th Edition[cần chú thích đầy đủ][cần số trang]
  7. ^ a ă Sompayrac p. 18
  8. ^ Linderkamp O, Ruef P, Brenner B, Gulbins E, Lang F (tháng 12 năm 1998). “Passive deformability of mature, immature, and active neutrophils in healthy and septicemic neonates”. Pediatric Research 44 (6): 946–50. PMID 9853933. doi:10.1203/00006450-199812000-00021.