Bắc Ninh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Bắc Ninh
Tỉnh
Logo Bac Ninh.PNG
Logo Bắc Ninh
Trung tâm văn hóa Kinh Bắc.jpg
Trung tâm văn hóa Kinh Bắc
Địa lý
Tọa độ: 21°11′15″B 106°04′24″Đ / 21,187548°B 106,073406°Đ / 21.187548; 106.073406Tọa độ: 21°11′15″B 106°04′24″Đ / 21,187548°B 106,073406°Đ / 21.187548; 106.073406
Diện tích 822,8 km²[1]
Dân số (2016)  
 Tổng cộng 1.178.600 người[1]
 Thành thị 330.219 (2016)
 Nông thôn 824.441 (2016)
 Mật độ 1.432 người/km²
Dân tộc Kinh
Hành chính
Vùng

Đồng bằng sông Hồng (địa lý)

Vùng thủ đô Hà Nội (đô thị)
Tỉnh lỵ Thành phố Bắc Ninh
Thành lập Định lại bản đồ Xứ Kinh Bắc (1490)
Thành lập (1831)
Tái lập (1997)
Chính quyền  
 Chủ tịch UBND Nguyễn Tử Quỳnh
 Chủ tịch HĐND Nguyễn Hương Giang
 Chánh án TAND Phạm Minh Tuyên
 Viện trưởng VKSND Nguyễn Hải Trâm
 Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Nhân Chiến
 Trụ sở UBND Số 10, Phù Đổng Thiên Vương, Suối Hoa, thành phố Bắc Ninh
Đại biểu quốc hội 6
Phân chia hành chính 1 thành phố, 1 thị xã và 6 huyện.
Mã hành chính VN-56
Mã bưu chính 22xxxx
Mã điện thoại 222
Biển số xe 99
Website bacninh.gov.vn

Bắc Ninhtỉnh có diện tích nhỏ nhất Việt Nam, thuộc Đồng bằng sông Hồng và nằm trên Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ. Bắc Ninh tiếp giáp với vùng trung du Bắc bộ tại tỉnh Bắc Giang. Thành phố Bắc Ninh nằm cách trung tâm Hà Nội 30 km về phía đông bắc. Tỉnh Bắc Ninh phía tâytây nam giáp thủ đô Hà Nội, phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía đôngđông nam giáp tỉnh Hải Dương, phía nam giáp tỉnh Hưng Yên. Trong quy hoạch xây dựng, tỉnh này thuộc vùng Thủ đô. Ngoài ra, Bắc Ninh còn nằm trên 2 hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng NinhNam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.

Bắc Ninh là tỉnh với dân ca quan họ. Bắc Ninh là trung tâm xứ Kinh Bắc cổ xưa. Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có khoảng 41 lễ hội đáng chú ý trong năm được duy trì. Trong đó có những lễ hội lớn như: hội chùa Dâu, Hội Lim, hội đền Đô, hội đền Bà Chúa Kho[2]. Con người Bắc Ninh với truyền thống văn hoá, hiếu khách, cần cù và sáng tạo, với những bàn tay khéo léo mang đậm nét dân gian của vùng trăm nghề như tơ tằm, gốm sứ, đúc đồng, trạm bạc, khắc gỗ, làm giấy, tranh vẽ dân gian... nổi bật là những làn điệu dân ca quan họ[3][4][5].

Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 5.129 USD/năm[6][7].

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thành Bắc Ninh một trong 4 thành của
Thăng Long tứ trấn
Bản đồ hành chính Bắc Ninh

Bắc Ninh hình thành lâu đời gắn liền với nền Văn minh sông Hồng. Luy Lâu từng là trung tâm kinh tế - chính trị, tôn giáo cổ xưa nhất của Việt Nam.

Từ mấy nghìn năm trước người Việt cổ đã cư trú và lập làng ở ven sông Cầu, sông Dâu, sông Đuống, sông Ngũ Huyện Khê, sông Tiêu Vương sống chủ yếu bằng canh tác nông nghiệp kết hợp làm nghệ thủ công. Hàng loạt di vật như trống đồng, dao găm, rìu, giáo, tấm che ngực, mảnh giáp bằng đồng với những hoa văn độc đáo được tìm thấy ở các di tích Lãng Ngâm, Đại Trạch, Quả Cảm, Đại Lai mảnh khuôn đúc trống đồng trong thành cổ Luy Lâu đã chứng tỏ người xứ Bắc rất tinh xảo trong nghề đúc đồng, chế tác các đồ trang sức, làm gốm.[8] Những giá trị tinh thần, tư tưởng được phản ánh qua các huyền thoại ông Đùng, bà Đùng, ông khổng lồ cắn nát núi, hút sạch rừng, băng ngang lũ; về Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ, Thánh Gióng, An Dương Vương, Mỵ Châu - Trọng Thuỷ và thành cổ Loa. Cùng với huyền thoại truyền thuyết là đậm đặc các di tích tiêu biểu như lăng mộ Kinh Dương Vương, các đền thờ Lạc Long Quân, Âu Cơ, đền thờ Phù Đổng Thiên Vương ở Thuận Thành, Từ Sơn, Tiên Du.

Thời kỳ Hồng Bàng, nước Văn Lang được chia làm có 15 bộ, bộ Vũ Ninh là vùng lãnh thổ thuộc phần lớn tỉnh Bắc Ninh hiện nay. Trong thời Bắc thuộc, Giao Chỉ gồm có 10 huyện trong đó có huyện Luy Lâu. Luy Lâu đã từng là đô thị lớn, là trung tâm thương mại trong suốt thời kỳ dài từ cuối thế kỷ thứ II đến thế kỷ IX-X. Xung quanh Luy Lâu là các làng nông nghiệp, làng thủ công, làng buôn bán phát triển. Tại đây, tư tưởng Nho giáo và văn hoá Hán Đường đã được truyền bá liên tục vào Việt Nam. Trung tânm Luy Lâu là nơi đầu tiên có trường dạy chữ và văn hoá Hán ở Việt Nam. Ngoài ra Luy Lâu còn là trung tâm Phật giáo lớn và cổ xưa nhất của người Việt. Hệ thống di tích, chùa tháp quần tụ đậm đặc ở đây với trung tâm là chùa Dâu cùng nhiều nguồn di vật, tài liệu như tượng pháp, bia ký, bản khắc Cổ Châu Pháp Vân và lễ hội chùa Dâu - lễ hội Phật giáo lớn nhất trong đồng bằng Bắc Bộ với các nghi lễ Tân Phật, rước Tứ Pháp, rước nước chứng tỏ Luy Lâu là tổ đình của Phật giáo Việt Nam. Luy Lâu là không gian điển hình đan xen, hỗn dung tiếp xúc, biến đổi hội tụ và kết tinh văn hoá Việt Nam cổ với văn hoá Phật - Ấn, Nam Á và Trung Á, văn hoá Nho Lão (Trung Hoa - Đông Á) để rồi sinh thành bản sắc văn hoá Kinh Việt. Đến thời Ngô Quyền, Giao Châu gồm các vùng phía nam sông Hồngsông Đuống, thuộc Hà Nội, Bắc Ninh, một phần Hưng Yên.

Thời loạn 12 sứ quân, địa bàn Bắc Ninh là nơi chiếm đóng của 2 sứ quân Nguyễn Thủ TiệpLý Khuê với các căn cứ ở Tiên Du và Thuận Thành.

Các vua thời Lý lập Phủ Thiên Đức (vốn là châu Cổ Pháp). Bắc Ninh là đất phát tích nhà Lý - triều đại khai mở ra nền văn minh Đại Việt gắn liền với tên tuổi của những nhân vật lịch sử - văn hoá kiệt xuất như: Lý Công Uẩn, Lý Nhân Tông, Nguyên Phi Ỷ Lan, Lê Văn Thịnh. Đây là nơi vang vọng bài thơ Nam quốc sơn hà- bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam.

Cuối thời Trần, cả nước có 24 đơn vị hành chính. Lộ Bắc Giang bao trùm Bắc Ninh và một phần Hà Nội, Bắc Giang ngày nay, gồm có 3 châu, lộ trực tiếp quản lý 2 huyện Siêu Loại và Gia Lâm. Châu Gia Lâm gồm 3 huyện: An Định (Gia Bình hiện nay), Tế Giang (Văn Giang hiện nay), Thiện Tài (Lương Tài hiện nay). Châu Vũ Ninh gồm 5 huyện: Tiên Du (Tiên Du hiện nay), Vũ Ninh (Võ Giàng hiện nay), Đông Ngàn (Từ Sơn và một phần Sóc Sơn thuộc Hà Nội hiện nay), Từ Sơn (Quế Võ hiện nay), Yên Phong (Yên Phong hiện nay). Châu Bắc Giang gồm 3 huyện Tân Phúc (Đa Phúc cũ, một phần Sóc Sơn hiện nay), Phật Thệ (Hiệp Hòa thuộc Bắc Giang hiện nay), Yên Việt (Việt Yên hiện nay).

Năm 1490, vua Lê Thánh Tông cho định lại bản đồ cả nước, gồm 13 (đạo) xứ thừa tuyên. Trong đó, trấn (xứ) Kinh Bắc gồm 4 phủ (20 huyện), hiện nay bao gồm toàn bộ ranh giới 2 tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và một phần nhỏ các tỉnh thành lân cận là Hà Nội (toàn bộ khu vực phía bắc sông Hồng là: Gia Lâm, Long Biên, Đông Anh, Mê Linh, Sóc Sơn); Hưng Yên (Văn Giang, Văn Lâm) và Lạng Sơn (Hữu Lũng).

Thời Minh Mạng, cả nước được chia thành 31 đơn vị hành chính: phủ Thừa Thiên là trung tâm, các trấn (tên đơn vị hành chính thời Hậu Lê và Tây Sơn) được đổi thành 30 tỉnh. Việc lập các tỉnh được thực hiện trong 2 đợt. Đợt đầu tiên vào năm 1831, Minh Mạng thực hiện chia các trấn phía bắc làm 18 tỉnh. Tỉnh Bắc Ninh được thành lập (nay là Bắc Ninh và Bắc Giang, một phần đất Hà Nội và Vĩnh Phúc này nay).

Bắc Ninh là cửa ngõ của cố đô Thăng Long, là vùng đất trung chuyển giữa kinh đô xưa với miền địa đầu giáp giới Trung Quốc. Do có đường quốc lộ lên ải Bắc chạy qua, nên vị trí quân sự của Bắc Ninh cực kỳ hệ trọng. Chính vì thế, mùa xuân 1884, Pháp đánh thành Bắc Ninh hoàn thành gấp công cuộc thống trị và bảo hộ Việt Nam. Năm 1895, tách phủ Lạng Giang ra lập tỉnh Bắc Giang. Năm 1903, tách các huyện Đông Anh, Kim Anh, Đa Phúc nhập vào tỉnh Vĩnh Yên. Năm 1960, huyện Văn Giang của Bắc Ninh được tách sang tỉnh Hưng Yên. Ngày 20 tháng 4 năm 1961, tách huyện Gia Lâm nhập vào Hà Nội.

Vào năm 1963, tỉnh Bắc Ninh được sát nhập với tỉnh Bắc Giang thành tỉnh Hà Bắc; cùng lúc đó, 2 huyện Tiên Du và Từ Sơn hợp nhất thành huyện Tiên Sơn, 2 huyện Quế DươngVõ Giàng hợp nhất thành huyện Quế Võ. Mặc dù không còn vị trí tỉnh lỵ như trước đây (lúc đó Bắc Giang trở thành tỉnh lỵ của tỉnh mới sát nhập), nhưng thị xã Bắc Ninh vẫn là một trung tâm kinh tế - xã hội quan trọng của Hà Bắc, nhất là trong mối quan hệ giao lưu với thủ đô Hà Nội.[9].

Ngày 1 tháng 1 năm 1997, tỉnh Bắc Ninh chính thức được tái lập theo Nghị quyết của Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 10 (ngày 06 tháng 11 năm 1996).[10] Khi tách ra, tỉnh Bắc Ninh có 6 đơn vị hành chính gồm: thị xã Bắc Ninh (tỉnh lị) và 5 huyện: Gia Lương, Quế Võ, Thuận Thành, Tiên Sơn, Yên Phong.

Ngày 9 tháng 8 năm 1999, chia huyện Tiên Sơn thành 2 huyện: Tiên DuTừ Sơn; chia huyện Gia Lương thành 2 huyện: Gia BìnhLương Tài.[11]

Ngày 26 tháng 1 năm 2006, chuyển thị xã Bắc Ninh thành thành phố Bắc Ninh.[12]

Ngày 24 tháng 9 năm 2008, chuyển huyện Từ Sơn thành thị xã Từ Sơn.[13]

Ngày 25 tháng 12 năm 2017, thành phố Bắc Ninh được công nhận là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Bắc Ninh. Đề án chương trình xây dựng Bắc Ninh trở thành Thành phố trực thuộc trung ương vào năm 2022 được công bố; với 5 quận, 1 thị xã và 2 huyện.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn tỉnh có 8 đơn vị hành chính cấp huyện bao gồm: 1 thành phố, 1 thị xã, 6 huyện. Được phân chia thành 126 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 23 phường, 6 thị trấn và 97 xã.

Ðơn vị hành chính cấp Huyện Thành phố
Bắc Ninh
Thị xã
Từ Sơn
Huyện
Gia Bình
Huyện
Lương Tài
Huyện
Quế Võ
Huyện
Thuận Thành
Huyện
Tiên Du
Huyện
Yên Phong
Diện tích (km²) 82,6 61,33 107,5 101,2 154,85 118,23 96,21 112,5
Dân số (người)2009[14] 164 370 140 040 92 269 96 326 135 938 144 536 124 396 126 660
Mật độ dân số (người/km²) 1990 2283 858 952 878 1222 1293 1126
Số đơn vị hành chính 16 phường và 3 xã 7 phường và 5 xã 1 thị trấn và 13 xã 1 thị trấn và 13 xã 1 thị trấn và 20 xã 1 thị trấn và 17 xã 1 thị trấn và 13 xã 1 thị trấn và 13 xã
Huyện lỵ Suối Hoa Đông Ngàn Gia Bình Thứa Phố Mới Hồ Lim Chờ
Nguồn: Website tỉnh Bắc Ninh

Năm 2017, công tác cải cách hành chính tạo bước đột phá với việc thành lập và đưa Trung tâm hành chính công cấp tỉnh, huyện hoạt động hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp trong giải quyết thủ tục hành chính. Cùng với đó, tỉnh đã thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, giảm 11 đầu mối; thực hiện 335 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 và 1.070 thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Địa chất, thủy văn[sửa | sửa mã nguồn]

Địa hình của tỉnh không hoàn toàn là đồng bằng mà xen kẽ là các đồi thấp có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy bề mặt đổ về sông Đuốngsông Thái Bình. Vùng đồng bằng thường có độ cao phổ biến từ 3-7 m, địa hình trung du (hai huyện Quế VõTiên Du) có một số dải núi độ cao phổ biến 300–400 m. Diện tích đồi núi chiếm tỷ lệ nhỏ (0,53%) so với tổng diện tích, chủ yếu ở hai huyện Quế VõTiên Du.

Bắc Ninh có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, mật độ lưới sông khá cao, trung bình 1,0 - 1,2 km/km², có 3 hệ thống sông lớn chảy qua gồm sông Đuống, sông Cầu và sông Thái Bình. Sông Đuống có chiều dài 42 km nằm trên đất Bắc Ninh, tổng lượng nước bình quân 31,6 tỷ m3. Mực nước cao nhất tại bến Hồ tháng 8/1945 là 9,64m, cao hơn so với mặt ruộng là 3 – 4 m. Sông Đuống có hàm lượng phù sa cao, vào mùa mưa trung bình cứ 1 m3 nước có 2,8 kg phù sa. Sông Cầu có chiều dài sông Cầu là 290 km với đoạn chảy qua tỉnh Bắc Ninh dài 70 km, lưu lượng nước hàng năm khoảng 5 tỷ m3. Sông Cầu có mực nước trong mùa lũ cao từ 3 – 6 m, cao nhất là 8 m, trên mặt ruộng 1 – 2 m, trong mùa cạn mức nước sông lại xuống quá thấp (0,5 - 0,8 m). Sông Thái Bình thuộc vào loại sông lớn của miền Bắc có chiều dài 385 km, đoạn chảy qua tỉnh Bắc Ninh dài 17 km[15]. Do phần lớn lưu vực sông bắt nguồn từ các vùng đồi trọc miền đông bắc, đất đai bị sói mòn nhiều nên nước sông rất đục, hàm lượng phù sa lớn. Do đặc điểm lòng sông rộng, ít dốc, đáy nông nên sông Thái Bình là một trong những sông bị bồi lấp nhiều nhất. Theo tài liệu thực đo thì mức nước lũ lụt lịch sử sông Thái Bình đo được tại Phả Lại năm 1971 đạt tới 7,21 m với lưu lượng lớn nhất tại Cát Khê là 5000 m3/s. Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có các hệ thống sông ngòi nội địa như sông Ngũ huyện Khê, sông Dâu, sông Đông Côi, sông Bùi, ngòi Tào Khê, sông Đồng Khởi, sông Đại Quảng Bình.

Với hệ thống sông này nếu biết khai thác trị thuỷ và điều tiết nước sẽ đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tiêu thoát nước của tỉnh. Trong khi đó tổng lưu lượng nước mặt của Bắc Ninh ước khoảng 177,5 tỷ m3, trong đó lượng nước chủ yếu chứa trong các sông là 176 tỷ m3; được đánh giá là khá dồi dào. Cùng với kết quả thăm dò địa chất cho thấy trữ lượng nước ngầm cũng khá lớn, trung bình 400.000 m3/ngày, tầng chứa nước cách mặt đất trung bình 3–5 m và có bề dày khoảng 40 m, chất lượng nước tốt. Toàn bộ nguồn nước này có thể khai thác để phục vụ chung cho cả sản xuất và sinh hoạt trong toàn tỉnh, trong đó có các hoạt động của đô thị.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Bắc Ninh nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, chia làm 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông). Có sự chênh lệch rõ ràng về nhiệt độ giữa [mùa hè nóng ẩm và mùa đông khô lạnh. Sự chênh lệch đạt 15-16 °C. Mùa mưa kéo dài từ tháng năm đến tháng mười hàng năm. Lượng mưa trong mùa này chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm. Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.400-1.600 mm. Nhiệt độ trung bình: 23,3 °C. Số giờ nắng trong năm: 1.530-1.776 giờ. Độ ẩm tương đối trung bình: 79%.

Dữ liệu khí hậu của Bắc Ninh
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Trung bình cao °C (°F) 19.9 20.4 23
(73)
27.4 31.8 33
(91)
32.8 32.2 31.2 29
(84)
25.6 22.1 27.37
Trung bình ngày, °C (°F) 16.5 17.4 20
(68)
24
(75)
27.7 29.2 29.2 28.8 27.7 25.2 21.6 18.5 23.82
Trung bình thấp, °C (°F) 13.2 14.4 17.1 20.6 23.7 24.6 25.5 25.4 24.2 21.4 17.7 14.9 20.23
Lượng mưa, mm (inch) 12
(0.47)
33
(1.3)
34
(1.34)
87
(3.43)
211
(8.31)
245
(9.65)
332
(13.07)
337
(13.27)
234
(9.21)
98
(3.86)
34
(1.34)
23
(0.91)
1.680
(66,14)
Nguồn: climate-data.org[16]

Tài nguyên, khoáng sản[sửa | sửa mã nguồn]

Tài nguyên rừng không lớn, chủ yếu là rừng trồng. Tổng diện tích đất rừng là 661,26 ha phân bố tập trung ở Quế Võ (317,9 ha) và Tiên Du (254,95 ha). Tổng trữ lượng gỗ ước tính 3.279 m³, trong đó rừng phòng hộ 363 m³, rừng đặc dụng 2916 m³.

Bắc Ninh nghèo về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu chỉ có vật liệu xây dựng như: đất sét làm gạch, ngói, gốm, với trữ lượng khoảng 4 triệu tấn ở Quế Võ và Tiên Du, đất sét làm gạch chịu lửa ở thị xã Bắc Ninh, đá cát kết với trữ lượng khoảng 1 triệu tấn ở Thị Cầu - Bắc Ninh, đá sa thạch ở Vũ Ninh - Bắc Ninh có trữ lượng khoảng 300.000 m³. Ngoài ra còn có than bùn ở Yên Phong với trữ lượng 60.000 - 200.000 tấn.

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử phát triển
dân số
Năm Dân số
2000 950.600
2001 958.900
2002 967.600
2003 975.300
2004 983.200
2005 991.100
2006 999.800
2007 1.009.400
2008 1.018.100
2009 1.026.500
2010 1.041.200
2011 1.060.300
Nguồn:[17]

Năm 2016, dân số Bắc Ninh là 1.153.600 người, chỉ chiếm 1,21% dân số cả nước và đứng thứ 39/63 tỉnh, thành phố, trong đó nam 568.055 người và nữ 586.605 người; khu vực thành thị 330.219 người, chiếm 28% dân số toàn tỉnh và khu vực nông thôn 824.441 người, chiếm 72%. Mật độ dân số Bắc Ninh năm 2010 đã lên tới 1,262 người/km², gần gấp 5 lần mật độ dân số bình quân của cả nước và là địa phương có mật độ dân số cao thứ 4 trong số 63 tỉnh, thành phố, chỉ thấp hơn mật độ dân số của Hà Nội,thành phố Hồ Chí Minh, Hưng Yên [18][19].

Năm 2011, dân số Bắc Ninh là 1.060.300 người, mật độ dân số 1289 người/km², vẫn là tỉnh có mật độ dân số cao thứ 4 cả nước.

Bắc Ninh có một dân số trẻ với nhóm tuổi lao động từ 15 đến 60 là 665.236 người, chiếm 64,93% tổng dân số. Nhóm tuổi dưới 15 có 258.780 người, chiếm 25,26% tổng dân số còn nhóm người trên 60 tuổi có 100.456 người, tức chiếm 9,8%[20].

Thành phần dân tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Trên địa bàn tỉnh hiện có 27 dân tộc trên tổng số 54 dân tộc tại Việt Nam sinh sống, trong đó Kinh chiếm tuyệt đối đại đa số từ ngàn đời nay. Dưới đây là 3 dân tộc đông dân nhất là:[20]

Dân tộc Dân số
(người)
Tỉ lệ
DS toàn tỉnh
Dân số Đ.thị
(người)
Tỉ lệ
DS dân tộc
Dân số N.thôn
(người)
Tỉ lệ
DS dân tộc
Kinh
1.021.061
99,67%
249.305
24,42%
781.276
75,58%
Tày
1.484
0,14%
540
36,39%
944
63,61%
Nùng
789
0,08%
253
32%
536
68%

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng giống như phần lớn các tỉnh khác tại Miền Bắc Việt Nam, Bắc Ninh có đại đa số cư dân "không tôn giáo". Theo thống kê năm 2009, số người theo có tôn giáo tại tỉnh Bắc Ninh là 16.362 người, tức chiếm 1,6% tổng dân số của tỉnh.[20] Hiện nay, Bắc Ninh có 7 tôn giáo hoạt động là Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Minh Lý đạo,Phật giáo Hòa HảoCao Đài. Bắc Ninh có 40 xứ đạo Công giáo hoạt động và tất cả các hoạt động Công giáo ở Bắc Ninh đều do Toà Giám mục Giáo phận Bắc Ninh chỉ đạo.[21]

Stt Tôn giáo Tín đồ
(người)
Tỷ lệ
với dân số toàn tỉnh
Chú thích
1
Công giáo
12.590
1,23%
2
Phật giáo
3.744
0,37%
2
Tin Lành
17
Tổng số
16.362
1,6%

An sinh, phúc lợi xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Bắc Ninh là một trong những tỉnh đi đầu cả nước về chính sách an sinh, phúc lợi xã hội. Nổi bật là chính sách hỗ trợ người cao tuổi từ đủ 65 tuổi trở lên; hỗ trợ điện chiếu sáng cho thôn, khu phố; mở rộng đối tượng thụ hưởng chương trình Sữa học đường đến khối lớp 1 và lớp 2... góp phần nâng cao đời sống của người dân, tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua các năm, năm 2017 giảm hộ nghèo xuống còn 2,06%.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Con số kinh tế qua các năm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Năm 1997, khi tái lập tỉnh, Bắc Ninh có cơ cấu nông nghiệp chiếm 45,1%, dịch vụ 31,1%, công nghiệp-xây dựng 23,8%, thu ngân sách 164 tỷ đồng, GDP đầu người 144 USD/năm; có bốn doanh nghiệp FDI với tổng vốn đăng ký 117 triệu USD, kết cấu hạ tầng yếu kém, công nghiệp chỉ có các cơ sở sản xuất nhỏ, giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn đạt 569 tỷ đồng.[22] Sau năm 1997 kinh tế Bắc Ninh đã phát triển[5]. Giai đoạn 2006-2010 GDP tăng trưởng trung bình 15,3% trong đó có năm 2010 tăng trưởng tới 17.86% (cao nhất từ trước tới nay của tỉnh). Năm 2011, kinh tế Bắc Ninh đạt 16,2% - là tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước. Năm 2012, GDP Bắc Ninh tăng trưởng đạt 12,3%.
  • Năm 2011, giá trị sản xuất công nghiệp năm 2011 ước đạt 59,7 nghìn tỷ đồng, tăng 62 % so với năm 2010. Trong đó, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng cao nhất, đạt 89%, chiếm 72% tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh. Kinh tế tiếp tục duy trì mức tăng trưởng cao (16,24%), cao hơn mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII đặt ra (13-14%); GDP bình quân đầu người 2.125 USD (mục tiêu đến năm 2015 là 3.500 USD). Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; các ngành, lĩnh vực có trình độ chất lượng cao chiếm tỷ trọng ngày càng lớn. Đến nay, trong cơ cấu kinh tế, công nghiệp và dịch vụ chiếm 91,4%, nông nghiệp còn 8,6%.
  • Năm 2012, giá trị sản xuất công nghiệp năm 2012 ước đạt 598.770 tỷ đồng, tăng 60,7% so với năm 2012. Khu vực dịch vụ vẫn duy trì tăng trưởng, đặc biệt hoạt động ngoại thương có bước "nhảy vọt" với kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 23 tỷ USD, tăng 68%. Chất lượng tăng trưởng còn thể hiện khi tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn cả năm ước đạt hơn 36.300 tỷ đồng, tăng 11,5%; thu ngân sách Nhà nước ước đạt hơn 11.530 tỷ đồng, tăng 22,1%.

tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) đạt trên 13.607 tỷ đồng (đứng thứ 9 toàn quốc và thứ 2 khu vực đồng bằng sông Hồng); cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa: Khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 77,82%; dịch vụ 16,57%; Nông, lâm nghiệp và thủy sản còn 5,61%[23]. Năm 2012, GDP bình quân đầu người đạt 67,4 triệu đồng/năm (tương đương 3.211 USD) và nằm trong top thu nhập bình quân cao nhất cả nước.

Thu ngân sách nhà nước Bắc Ninh nộp ngân sách lớn thứ 12 cả nước. Năm 2011, ngân sách là 6800 tỷ, đưa Bắc Ninh lần đầu tiên có khả năng tự cân đối ngân sách và đóng góp vào ngân sách nhà nước. Năm 2012 Bắc Ninh đã đạt tới 9.068,5 tỷ đồng[24].

Tỉnh Bắc Ninh hiện tại có hơn 600.000 người trong độ tuổi lao đông nhưng thiếu lao động có trình độ chuyên môn. Nhiều sinh viên tốt nghiệp vẫn phải đào tạo lại, cơ cấu và chất lượng nguồn lao động chưa dịch chuyển theo yêu cầu cơ cấu ngành kinh tế. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn chậm, đặc biệt cơ cấu nội ngành công nghiệp, dịch vụ và các sản phẩm chủ lực mũi nhọn.

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2013 ước tăng 11,8% so với năm trước đó (giá so sánh năm 2010); GRDP bình quân đầu người đạt 68,2 triệu đồng/người/năm (tương đương 3.243 USD). Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa: khu vực công nghiệp và xây dựng 74,5%; dịch vụ 19,5%; nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6%.

Giá trị sản xuất công nghiệp cả năm tính theo giá so sánh 2010 ước 598.770 tỷ đồng, tăng 60,7% so với năm 2012. Khu vực dịch vụ vẫn duy trì tăng trưởng, đặc biệt hoạt động ngoại thương có bước "nhảy vọt" với kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 23 tỷ USD, tăng 68%. Chất lượng tăng trưởng còn thể hiện khi tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn cả năm ước đạt hơn 36.300 tỷ đồng, tăng 11,5%; thu ngân sách Nhà nước ước đạt hơn 11.530 tỷ đồng, tăng 22,1%.

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2013 ước tăng 11,8% so với năm trước đó (giá so sánh năm 2010); GRDP bình quân đầu người đạt 68,2 triệu đồng/người/năm (tương đương 3.243 USD). Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa: khu vực công nghiệp và xây dựng 74,5%; dịch vụ 19,5%; nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6%.

  • Năm 2013, giá trị sản xuất cả năm (theo giá cố định 1994) ước 180.931 tỷ đồng, tăng 61,1% so với năm 2012 mà nổi bật là khu vực FDI đạt 165.510 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 91,5% và tăng 69,8%; khu vực kinh tế trong nước tuy gặp nhiều khó khăn cũng tăng 3,8%. Bên cạnh đó, hoạt động thương mại dich vu seo vụ vẫn duy trì ổn định với mức tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ ước 30.803 tỷ đồng, tăng 17,9% so với năm 2012. Trên lĩnh vực hoạt động ngoại thương, kết quả thật ấn tượng với tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn ước hơn 23 tỷ USD, đạt 162,3% kế hoạch năm, tăng 68% so với năm 2012; Nhập khẩu ước hơn 21,14 tỷ USD, đạt 165,8% kế hoạch năm, tăng 59,3% (xuất siêu hơn 1,9 tỷ USD)...

Tính theo giá hiện hành, GRDP bình quân đầu người đạt 68,2 triệu đồng/người/năm, tương đương 3.243 USD; nếu loại trừ yếu tố nước ngoài, GRDP bình quân là 44,7 triệu đồng, tương đương 2.120 USD. Về cơ cấu kinh tế, tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản từ 7,5% năm 2012 giảm xuống còn 6% năm 2013; khu vực công nghiệp và xây dựng từ 73,3% tăng lên 74,5%; dịch vụ từ 19,2% lên 19,5%... Trong bối cảnh khó khăn chung của cả nước thì đây là những kết quả rất đáng phấn khởi, khẳng định sự nỗ lực cố gắng và quyết tâm cao của các cấp, ngành, cộng đồng doanh nghiệp, các thành phần kinh tế và nhân dân trong tỉnh.

  • Năm 2014, Sản xuất công nghiệp: Do khu vực FDI, nhất là Công ty Samsung giảm mạnh nên giá trị sản xuất công nghiệp (giá ss 2010) cả năm ước 576.754 tỷ đồng, đạt 78,5% KH năm và giảm 4,9% so năm 2013; trong đó, khu vực FDI giảm 5,5%, khu vực kinh tế trong nước từng bước vượt qua khó khăn, tăng 1,3%.

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2014 ước tăng 0,2% (giá so sánh 2010) so với năm 2013; trong đó, khu vực dịch vụ tăng 6,1%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,3%. Thu ngân sách của tỉnh Bắc Ninh: tổng thu ngân sách Nhà nước ước 12.440 tỷ đồng, đạt 109,7% dự toán năm, tăng 8,6% so năm 2013; chi ngân sách là 10.641 tỷ đồng, đạt 143,9%, tăng 16,1%, trong đó chi đầu tư phát triển là 3.143,5 tỷ đồng, đạt 183,8%, tăng 22,6%.

Hoạt động thương mại - dịch vụ: Tổng mức bán lẻ hàng hóa ước trên 34 nghìn tỷ đồng, tăng 12,8%, đạt 91,5% KH năm. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành trên 3 nghìn tỷ đồng, tăng 13%. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 tăng 2,21% so tháng 12/2013. Xuất khẩu hàng hoá ước trên 23 tỷ USD, giảm 12,3%, đạt 88,7% KH năm. Dịch vụ vận tải tăng khá so với năm 2013.

  • Năm 2015, tổng thu NSNN trên địa bàn đạt 15.050 tỷ đồng, bằng 107,5% dự toán, bằng 118,7% so với năm 2014. Trong đó, thu nội địa ước đạt 10.035 tỷ đồng; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 4.540 tỷ đồng. Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện là 13.394 tỷ đồng, bằng 146% so với dự toán; trong đó chi đầu tư phát triển ước thực hiện trên 3.784 tỷ đồng. Việc đầu tư từ vốn ngân sách tỉnh đã góp phần lớn trong việc xây mới, nâng cấp, cải tạo hệ thống giao thông, hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng nông thôn và các dự án trọng điểm.
  • Năm 2016, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) đạt hơn 109 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng đạt 9%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, tỷ lệ giá trị khu vực dịch vụ tăng, chất lượng tăng trưởng được nâng lên. Giá trị sản xuất công nghiệp đạt trên 705 nghìn tỷ đồng, tăng 9,6%, Giá trị xuất khẩu đạt 22,8 tỷ USD, tăng 4,1%  tiếp tục khẳng định vị thế trong cả nước. Thu nhập bình quân đầu người đạt 5.129 USD/năm.

Thu ngân sách tiếp tục hoàn thành vượt kế hoạch năm, đạt 16.835 tỷ đồng, trong đó thu nội địa đạt 12.151 tỷ đồng, tăng 1.753 tỷ so với năm 2015. Bắc Ninh tiếp tục là 1 trong số 13 tỉnh, thành phố cả nước tự cân đối ngân sách và có điều tiết một phần về Trung ương.

  • Năm 2017, quy mô kinh tế tiếp tục mở rộng, vị thế của Bắc Ninh ngày càng nâng cao so với các tỉnh, thành phố trong cả nước. Tổng sản phẩm (GRDP) năm 2017 chiếm 3,11% GDP cả nước, xếp thứ 4/63 tỉnh, thành phố; tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 19.12 % (kế hoạch đề ra tăng 9,0-9,2%) là tỉnh có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất Việt Nam năm 2017.

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng: khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 75,2%; dịch vụ chiếm 21,8%; nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 3,0%.

Sản xuất công nghiệp tăng trưởng cao, giá trị sản xuất công nghiệp năm 2017 ước đạt 1.049 nghìn tỷ đồng (giá hiện hành), giá trị sản xuất công nghiệp của Bắc Ninh đứng thứ 2 cả nước, sau TP. Hồ Chí Minh. Đây là động lực mới giúp cho kinh tế của tỉnh Bắc Ninh tăng trưởng cao trong năm 2017.

Công tác thu hút đầu tư được đẩy mạnh với cơ chế, giải pháp thông thoáng. Bắc Ninh đứng thứ 2 toàn quốc về thu hút FDI với 160 dự án mới và điều chỉnh tăng vốn cho 115 dự án với tổng vốn đăng ký sau điều chỉnh đạt 3,5 tỷ USD. Lũy kế đến nay, tỉnh Bắc Ninh cấp đăng ký đầu tư ước 1.112 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký sau điều chỉnh khoảng 16 tỷ USD.

Hoạt động ngoại thương tạo kỳ tích mới với kim ngạch xuất khẩu lần đầu tiên cán mốc gần 30 tỷ USD, chiếm 14,9%/XK cả nước. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 29,85 tỷ USD, vượt 47,5% KH và tăng 59,5% và giữ vững vị trí thứ 2 toàn quốc.

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh ước 21.597,7 tỷ đồng, đạt 131,5% dự toán năm, tăng 20,1% so với năm 2016 (tương ứng tăng 3.585 tỷ đồng); trong đó thu nội địa là 16.137 tỷ đồng, vượt chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XIX đề ra (đến năm 2020, thu nội địa đạt 14.930 tỷ đồng).

Chương trình xây dựng nông thôn mới được đẩy mạnh; các tiêu chí tiếp tục gia tăng, đời sống của nhân dân ở khu vực nông thôn được cải thiện rõ rệt; bình quân số tiêu chí đạt chuẩn là 18,14 tiêu chí/xã, tăng 0,94 tiêu chí. Dự kiến hết năm 2017, có tổng số 70 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm 72,1% số xã, tăng 12 xã so với năm 2016, có 02 đơn vị là huyện Tiên Du và thị xã Từ Sơn được công nhận huyện đạt chuẩn nông thôn mới và thị xã hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.

Công tác cải cách hành chính được thực hiện quyết liệt. Trong năm 2017, tỉnh đã thành lập và đưa Trung tâm hành chính công tỉnh và các huyện, thị xã, thành phố hoạt động hiệu quả; đồng thời thực hiện giải thể, sáp nhập các đơn vị hành chính, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, giảm 11 đầu mối, qua đó, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp trong quá trình giải quyết các thủ tục hành chính.

Các lĩnh vực văn hóa, xã hội được phát triển toàn diện. Bắc Ninh là một trong những tỉnh đi đầu cả nước về chính sách an sinh, phúc lợi xã hội. Công tác giáo dục, dạy nghề, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống được quan tâm, tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua các năm, năm 2017 giảm hộ nghèo xuống còn 2,5%.

Năm 2018 là năm bản lề, có ý nghĩa quan trọng trong việc đẩy mạnh thực hiện và phấn đấu hoàn thành các mục tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 – 2020, vì vậy, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các ngành rà soát, chuẩn hóa lại số liệu về phát triển kinh tế- xã hội năm 2017 và dự kiến các chỉ tiêu năm 2018 cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Trên cơ sở đó, các cấp, ngành, địa phương tiếp tục chủ động, tận dụng những thuận lợi, khắc phục khó khăn, thực hiện đồng bộ các giải pháp đột phá, phấn đấu xây dựng và thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra trong thời gian tới.

Bắc Ninh – sự chuyển biến thần kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2016, tổng sản phẩm địa bàn - GRDP bình quân đầu người Bắc Ninh gấp 2,3 lần bình quân chung cả nước, xếp thứ 2 sau tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (tỉnh có hoạt động khai thác dầu thô).

Cụ thể nếu tính theo giá so sánh năm 1994, GRDP năm 2016 của tỉnh ước đạt gần 26 nghìn tỷ đồng, gấp 15,2 lần so với năm 1997.

Mức tăng trưởng tới 15,1% bình quân 20 năm, con số ấn tượng với một tỉnh không có thế mạnh về diện tích hay tài nguyên.

Động cơ của cỗ xe thần tốc[sửa | sửa mã nguồn]

Một phần quan trọng của sự phát triển vượt bậc Bắc Ninh do đường lối định hướng kinh tế. Theo đó Bắc Ninh hướng tới phát triển công nghiệp, xây dựng. Nếu như năm 1997, khu vực nông nghiệp đóng góp hơn 45% thì đến nay chỉ còn 5,8% tỷ trọng. Ngược lại khu vực công nghiệp xây dựng tăng nhanh từ mức 23,8% lên 73,7% hiện nay.

Công nghiệp chính là động lực tăng trưởng cho tỉnh này khi giá trị sản xuất tính theo giá hiện hành năm 2016 đạt 765,8 nghìn tỷ đồng, gấp gần 1.200 lần so với mốc 646 tỷ đồng năm 1997. Hiện nay không chỉ những tập đoàn hàng đầu thế giới như Samsung, Canon, Microsoft, Hanaka,… mà những doanh nghiệp lớn tại Việt Nam như Dabaco, Vinasoy, Bia Việt Hà,… cũng góp mặt cho sự tăng trưởng kinh tế của Bắc Ninh.

Không có đất đai quá rộng lớn, Bắc Ninh tập trung vào cơ chế đầu tư thông thoáng, quy hoạch rõ ràng để thu hút doanh nghiệp. Ngay từ đầu năm 2012, tỉnh này đã ban hành 4 quy hoạch tổng thể lớn về công nghiệp gồm: Quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030; Điều chỉnh quy hoạch các cụm công nghiệp đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030; Quy hoạch phát triển công nghiệp giai đoạn 2011- 2020 tầm nhìn đến 2030; Quy hoạch phát triển công nghiệp nông thôn giai đoạn 2011- 2020.

Theo báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2010 - 2014 do Tổng cục thống kê công bố, các doanh nghiệp tại Bắc Ninh có lãi bình quân lớn thứ 2 cả nước chỉ sau Bà Rịa- Vũng Tàu, vượt cả Tp.HCM, Hà Nội hay Bình Dương.

Thu hút được các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp FDI nên sản xuất công nghiệp Bắc Ninh đứng thứ 2 cả nước, chỉ sau Tp.HCM. Công nghiệp phát triển cũng tạo đà cho hoạt động ngoại thương. Nếu như năm 1997, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tỉnh này chỉ đạt 20,4 triệu USD thì năm 2016 đạt 22,8 tỷ USD, gấp 1118 lần.

Ngoài ra, Bắc Ninh còn định hướng phát triển kinh tế tư nhân như phát triển công nghiệp hỗ trợ, làng nghề truyền thống. Những làng nghề như gỗ Đồng Kỵ, gốm Phù Lãng, tranh Đông Hồ, đúc phế liệu Mẫn Xá, đúc đồng Quảng Bố,… giúp giải quyết việc làm và cải thiện thu nhập cho người dân địa phương.

Công nghiệp - Công nghệ thông tin[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là động lực quan trọng nhất trong sự phát triển kinh tế của Bắc Ninh trong những năm vừa qua[5]. Khi tách tỉnh, Bắc Ninh là một tỉnh thuần nông với nền công nghiệp không đáng kể đa phần là làng nghề. Tuy nhiên hết năm 2012, Bắc Ninh là tỉnh có quy mô công nghiệp lớn thứ 5 cả nước, thứ 2 miền Bắc và luôn duy trì tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước trong nhiều năm qua. Năm 2012, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 84.884 tỷ đồng (CĐ1994).Động lực cho tăng trưởng công nghiệp của Bắc Ninh tập trung ở các doanh nghiệp công nghệ cao như SamSung, Canon, Nokia. Đến năm 2015 Bắc Ninh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp. Thành phố Bắc Ninh, Thị xã Từ Sơn và các huyện Bắc Sông Đuống sẽ trở thành các trung tâm công nghiệp của toàn tỉnh và các huyện còn lại ở bờ Nam Sông Đuống sẽ là khu vực phụ trợ cho bờ bắc với trung tâm là huyện Thuận Thành sẽ là cửa ngõ tới các tỉnh, thành phố công nghiệp khác như Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng qua các tuyến quốc lộ 38, 5A cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, 17...

Đầu tư[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2011, Bắc Ninh là tỉnh có "chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh" đứng thứ 2 ở Việt Nam[25]. Bắc Ninh đã thu hút được hầu hết các dự án công nghệ cao của cả nước như Canon, Samsung, Microsoft, ABB, Foxconn

  • Đầu tư trong nước: Quý I/2013, toàn tỉnh đã cấp GCNĐT mới cho 12 dự án đầu tư trên địa bàn toàn tỉnh với tổng vốn đầu tư đăng ký 665 tỷ đồng. Luỹ kế đến nay, toàn tỉnh có 673 dự án đầu tư trong nước được cấp GCNĐT với tổng vốn đầu tư đăng ký sau điều chỉnh là 75.079 tỷ đồng.
  • Đầu tư nước ngoài: Quý I/2013, toàn tỉnh đã cấp GCNĐT mới cho 25 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đầu tư 80,52 triệu USD; cấp GCNĐT điều chỉnh tăng vốn cho 08 dự án với mức vốn tăng thêm 27,72 triệu USD; tổng vốn đầu tư đăng ký sau điều chỉnh là 108,24 triệu USD; thu hồi 01 dự án đầu tư với tổng vốn đầu tư 30 triệu USD. Luỹ kế đến nay, toàn tỉnh có 390 đơn vị FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký sau điều chỉnh là 4,7 tỷ USD[26].
  • 2015 Bắc Ninh dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 3,46 tỉ USD, chiếm 16% tổng vốn đầu tư đăng ký. TP.Hồ Chí Minh đứng thứ 2 với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 3,32 tỉ USD, chiếm 14,6%. Bình Dương đứng thứ 3 với tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm 2,95 tỉ USD, chiếm 13% tổng vốn đầu tư. Tiếp theo là Trà Vinh và Đồng Nai với tổng vốn đầu tư lần lượt là 2,52 tỉ USD và 1,94 tỉ USD.

Thương mại - Dịch vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Xuất khẩu giai đoạn 2001-2010 tăng trung bình là 47,91%/năm; giai đoạn 2005-2010 tăng 90,92%/năm. Năm 2011, giá trị xuất khẩu Bắc Ninh đạt 7,441 tỷ USD. Năm 2012, giá trị xuất khẩu của Bắc Ninh đạt 13,7 tỷ USD đã đưa Bắc Ninh trở thành địa phương xuất khẩu thứ 2 cả nước sau Thành phố Hồ Chí Minh, xuất khẩu Bắc Ninh chiếm tới 12% giá trị xuất khẩu của cả nước. Quý 1/2013, xuất khẩu đạt 5.123 tỷ USD với tốc độ tăng tới 87,2% so với cùng kỳ năm trước và các thị trường xuất khẩu rộng lớn, trong năm 2013 có thể kỳ vọng đây sẽ là mặt hàng đầu tiên vượt qua mốc 20 tỷ USD, đóng góp quan trọng vào quy mô và tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Bắc Ninh xuất siêu 180 triệu USD[27]. Tính đến hết tháng 6 năm 2013, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt gần 15 nghìn tỷ đồng, tăng 15,6 % so với cùng kỳ. Đây cũng là mức tăng cao hơn mức bình quân chung của 3 năm gần đây.

Sáu tháng đầu năm 2013, các chi nhánh ngân hàng và tổ chức tín dụng trên địa bàn Bắc Ninh đã huy động được 29.783 tỷ đồng, tăng 9,7% so với cuối năm 2012; dư nợ cho vay đạt 30.956 tỷ đồng, tăng 4,9% so với cuối năm 2012 trong đó tập trung cho vay các lĩnh vực ưu tiên như: nông nghiệp - nông thôn, xây dựng nông thôn mới, doanh nghiệp nhỏ và vừa, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ.

Năm 2012, Điện lực Bắc Ninh đạt 2,207 tỷ kWh, tăng 18% so với năm 2011. Trong đó thành phần phụ tải thương nghiệp dịch vụ tăng 32,61%, công nghiệp xây dựng tăng 19,89%, quản lý tiêu dùng tăng 11,04%; tổn thất điện năng giảm 0,57% so với năm 2011.

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Bắc Ninh hiện có hàng trăm di tích lịch sử văn hóa với nhiều đình, chùa, lễ hội và những làn điệu dân ca Quan họ. Bề dày lịch sử, văn hóa đã tạo cho Bắc Ninh tiềm năng phát triển du lịch văn hóa.[28]. Bắc Ninh có 3 khu du lịch là: Khu du lịch văn hoá Quan họ Cổ Mễ (thành phố Bắc Ninh); khu du lịch văn hoá Đền Đầm (thị xã Từ Sơn); khu du lịch văn hoá Phật Tích (huyện Tiên Du). Bên cạnh đó, theo dự kiến sẽ có 3 khu du lịch khác là: Khu du lịch lâm viên Thiên Thai (huyện Gia Bình); khu du lịch văn hoá lịch sử Như Nguyệt (huyện Yên Phong); khu du lịch tâm linh Hàm Long - Núi Dạm (thành phố Bắc Ninh) và lựa chọn 22 điểm di tích quy hoạch phát triển thành điểm du lịch làm động lực cho các tuyến du lịch khép kín, liên hoàn và hấp dẫn trên địa bàn. Trong đó có một số di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu để hình thành các điểm, các tuyến du lịch hấp dẫn như Văn Miếu Bắc Ninh, chùa Phật Tích, lăng Kinh Dương Vương, chùa Dâu, chùa Bút Tháp, đền Đô, đền thờ Lê Văn Thịnh,Chùa Cổ Lũng,Chùa Lim. Ngoài ra, còn có du lịch cộng đồng tại làng gốm Phù Lãng (huyện Quế Võ), làng tương Đình Tổ, khu vực chùa Bút Tháp (huyện Thuận Thành), làng Quan họ Viêm Xá (Thành phố Bắc Ninh) Làng gỗ mĩ nghệ Đồng Kỵ [29].

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Bắc Ninh là tỉnh có hệ thống giao thông đa dạng, gồm cả đường bộ, đường sắt và đường sông. Trong đó, hệ thống đường bộ được đánh giá là tương đối đồng bộ so với các tỉnh khác trong cả nước.

Đường bộ[sửa | sửa mã nguồn]

QL 1A, đoạn qua Tp Bắc Ninh
Cao tốc Bắc Ninh - Nội Bài

Cao tốc (4)[sửa | sửa mã nguồn]

CT 03, VNM.svg: Đường cao tốc Hà Nội - Bắc Ninh - Bắc Giang - Lạng Sơn.

CT 06, VNM.svg: Đường cao tốc Hà Nội - Bắc Ninh - Hạ Long - Móng Cái.

CT 07, VNM.svg: Đường cao tốc Hà Nội - Bắc Ninh - Thái Nguyên - Bắc Kạn.

CT 20, VNM.svg: Đường vành đai III Hà Nội.

CT 21, VNM.svg: Đường vành đai VI Hà Nội.

Quốc lộ (4)[sửa | sửa mã nguồn]

QL 1A, VNM.svg : Tuyến Quốc lộ 1A chạy từ Hà Nội lên Lạng Sơn.

QL 17, VNM.svg: Tuyến Quốc lộ 17 chạy từ Hà Nội - Bắc Ninh - Bắc Giang - Thái Nguyên.

QL 18, VNM.svg : Tuyến Quốc lộ 18 chạy từ Nội Bài - Thành phố Bắc Ninh - Hạ Long - Cảng Cái Lân - Móng Cái.

QL 38, VNM.svg: Tuyến Quốc lộ 18 chạy từ Thành phố Bắc Ninh đi Hà Nam.

  • Tuyến Quốc lộ 17 được nâng cấp theo Quyết định số 2546/QĐ-BGTVT từ tỉnh lộ 282 đoạn (Quế Võ - Gia Bình - Thuận Thành thuộc tỉnh Bắc Ninh) nối Quốc lộ 18 (tại Quế Võ) với Quốc lộ 5 (Hà Nội - Hải Phòng) tại Thị trấn Trâu Quỳ - Gia Lâm - Hà Nội (cách cầu vượt Thanh Trì khoảng 2 km). Ngoài ra, Quốc lộ 5 nằm liền kề với Bắc Ninh.

Tỉnh lộ[sửa | sửa mã nguồn]

Đi qua hầu hết các huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Bắc Ninh tạo ra một mạng lưới giao thông đồng bộ, liên hoàn giữa Hà Nội với Bắc Ninh, và giữa Bắc Ninh với các tỉnh lân cận. Trong tỉnh có các tỉnh lộ như 179, 276, 280, 281, 282B, 283, 285, 285B, 287, 291, 295 kết nối các địa phương trong tỉnh với nhau. Đã có một số cây cầu bắc qua sông để nối Bắc Ninh với các địa phương khác hoặc các huyện với nhau như:

Cầu Mai Đình - Đông Xuyên
Cầu Đáp Cầu
Cầu Như Nguyệt
Cầu Phả Lại
Cầu Bình Than
Cầu Hồ.

Hệ thống Vận tải hành khách bằng phương tiện công cộng[sửa | sửa mã nguồn]

[30]

Tỉnh Bắc Ninh hiện có nhiều tuyến xe buýt đi tới các tỉnh thành lân cận và tất cả các huyện trong tỉnh:

Tuyến Đầu bến Lộ Trình Cự ly Thời gian chuyến Giãn cách Ghi chú
BN01 Bắc Ninh
Bến xe Bắc Ninh

2, Nguyễn Du
Phường Ninh Xá
Thành phố Bắc Ninh

Lương Tài
Bến xe Thứa

Đường Lý Thái Tổ

Thị trấn Thứa

Huyện Lương Tài

Bến xe Bắc Ninh

- TTVH Kinh Bắc

- QL.38

- Cầu Hồ

- Đông Côi

- QL.17

- ĐT.280

- Bến xe Thứa.

37 km 70 phút 5 - 10 - 15 - 25
BN02 Bắc Ninh
Bến xe Bắc Ninh

2, Nguyễn Du
Phường Ninh Xá
Thành phố Bắc Ninh

Phả Lại
Cầu Phả Lại

QL.18 Xã Đức Long
Huyện Quế Võ

Bến xe Bắc Ninh

- Ngã 6

- Thị trấn Phố Mới

- QL.18

- Cầu Phả Lại.

39 km 75 - 85 phút 5 - 10 - 15 - 20 - 25
BN03 Bắc Ninh
Bến xe Bắc Ninh

2, Nguyễn Du
Phường Ninh Xá
Thành phố Bắc Ninh

Yên Phong
Bãi đỗ xe Yên Hậu

ĐT.286
Xã Yên Phụ
Huyện Yên Phong

Bến xe Bắc Ninh

- ĐT.286

- Thị trấn Chờ

- Bãi đỗ xe cầu Đò Lo.

16 km 34 phút 7 - 15 - 25 - 45 - 55
BN04 Lim
20, Lý Thường Kiệt
Thị trấn Lim
Tiên Du.
Đền Đô
Lý Thái Tổ
Phường Đình Bảng
Thị xã Từ Sơn.
23 km 45 phút 40 - 55
BN05 Từ Sơn
Minh Khai
Phường Đông Ngàn
Thị xã Từ Sơn.
Đông Xuyên
Phà Đông Xuyên

Xã Đông Tiến
Huyện Yên Phong.

Bến xe Từ Sơn

- Thị trấn Chờ

- Phà Đông Xuyên.

21 km 55 phút 15 - 25 [31]
BN06

(Bus204)

Long Biên
Trần Nhật Duật
Phường Trúc Bạch
Quận Ba Đình, Hà Nội.
Thuận Thành
Chợ trung tâm Hồ

Vương Văn Trà
Thị trấn Hồ
Huyện Thuận Thành

BN07

(Bus217)

Bắc Ninh
Bến xe Bắc Ninh

2, Nguyễn Du
Phường Ninh Xá
Thành phố Bắc Ninh

Hải Dương
Bến xe Hải Tân

Lê Thanh Nghị
Phường Hải Tân
Thành phố Hải Dương

Bến xe Bắc Ninh

- QL.38

- Cầu Hồ

- Đông Côi

- Cẩm Giàng

- Quán Gỏi

- QL.5

- Lai Cách

- Thành phố Hải Dương

- Bến xe Hải Tân.

BN08 Bắc Ninh
Bến xe Bắc Ninh

2, Nguyễn Du
Phường Ninh Xá
Thành phố Bắc Ninh

Kênh Vàng
Bến xe Kênh Vàng

ĐT.281
Xã Trung Kênh
Huyện Lương Tài

Bến xe Bắc Ninh

- Phố Nguyễn DuTp.Bắc Ninh

- Cổng Ô

- Đường Ngô Gia TựTp.Bắc Ninh

- Suối Hoa

- Đường Kinh Dương VươngTp.Bắc Ninh

- Trung tâm văn hóa Kinh Bắc

- Đường Lý Thái TổTp.Bắc Ninh

- Đường Nguyễn TrãiTp.Bắc Ninh

- QL.38

- Cầu Hồ

- Đê sông Đuống

- Chợ Núi

- Lê Văn ThịnhTT.Gia Bình

- Bình ThanTT.Gia Bình

- QL.17

- Thị trấn Ngụ

- Phố Bùng

- Dốc Than

- Đê sông Thái Bình

- Bến xe Kênh Vàng.

42 km 90 phút 25 - 40 - 55
BN09

(BusHN54)

Long Biên
Trần Nhật Duật
Phường Trúc Bạch
Quận Ba Đình, Hà Nội.
Tp. Bắc Ninh
Bãi đỗ xe Kinh Bắc

Kinh Dương Vương
Suối Hoa
Thành phố Bắc Ninh.

31 km 65 - 75 phút 15
BN10

(BusHN10A)

Long Biên
Trần Nhật Duật
Phường Trúc Bạch
Quận Ba Đình, Hà Nội.
Từ Sơn
Minh Khai
Phường Đông Ngàn
Thị xã Từ Sơn.
21 km 35 phút 10 - 13 - 15 - 17 - 20 - 23
BN11

(Bus02b)

Phả Lại
Cầu Phả Lại

QL.18 Xã Đức Long
Huyện Quế Võ

Sao Đỏ

Bến xe Sao Đỏ

120, Nguyễn Trãi

Phường Sao Đỏ

Thị xã Chí Linh, Hải Dương.

Bến xe Bắc Ninh

- Ngã 6

- Thị trấn Phố Mới

- QL.18

- Cầu Bình Than

- Chợ Bùng

- Phố Ngụ

- ĐT.285

- Lai Hạ

- Đê Minh Tân.

40 km 85 phút [31]
BN12 Mỹ Đình
Bến xe Mỹ Đình

20, Phạm Hùng
Phường Mỹ Đình2

Quận N.Từ Liêm
Thành phố Hà Nội

Quế Võ
Bến xe Quế Võ

QL.18
Thị trấn Phố Mới
Huyện Quế Võ

Bến xe Mỹ Đình

- Đường Phạm HùngHà Nội

- Đường Phạm Văn ĐồngHà Nội

- Cầu Thăng Long

- Đường Võ Chí CôngHà Nội

- Quốc lộ 18

- Khu công nghiệp Yên Phong

- ĐT.286

- Đường Trần Hưng ĐạoBắc Ninh

- Cầu Đại Phúc

- Khu công nghiệp Quế Võ

- Thị trấn Phố Mới

- Bến xe Quế Võ.

BN13 Hà Nội
Bến xe Giáp Bát

20, Giải Phóng
Phường Giáp Bát

Quận Hoàng Mai
Thành phố Hà Nội

Bắc Giang
Bến xe Bắc Giang

Xương Giang
Thành phố Bắc Giang
Tỉnh Bắc Giang

Bến xe Giáp Bát

- Lương Yên

- Long Biên

- Gia Lâm

- Cầu Đuống

- Từ Sơn

- Thành phố Bắc Ninh

- Thành phố Bắc Giang

- Xương Giang

- Bến xe Bắc Giang.

BN14

(Bus86)

Bắc Ninh
Bến xe Bắc Ninh

2, Nguyễn Du
Phường Ninh Xá
Thành phố Bắc Ninh

Minh Tân
Bãi đỗ xe Minh Tân

Đê hữu Thái Bình
Xã Minh Tân
Huyện Lương Tài

Bến xe Bắc Ninh

- Ngã 6

- Thị trấn Phố Mới

- QL.18

- Cầu Bình Than

- Chợ Bùng

- Phố Ngụ

- ĐT.285

- Lai Hạ

- Đê Minh Tân.

40 km 85 phút [31]

Đường sắt[sửa | sửa mã nguồn]

Bắc Ninh có tuyến đường sắt Hà Nội - Đồng Đăng chạy qua và tuyến đường sắt Hà Nội - Bắc Ninh - Hạ Long (Yên Viên - Cái Lân) đang được xây dựng.

Đường thủy[sửa | sửa mã nguồn]

Bắc Ninh có hệ thống sông Cầu, sông Thái Bìnhsông Đuống nối ra sông Hồng; các sông nhỏ như sông Ngũ Huyện Khê, Sông Ngụ, sông Dâu, sông Đông Côi, sông Bùi, ngòi Tào Khê (đang được nâng cấp để thoát nước cho thành phố), sông Đồng Khởi, sông Đại Quảng Bình.

Cảng nội địa[sửa | sửa mã nguồn]

Bắc Ninh có 6 cảng: Cảng Đáp Cầu, Cảng Á Lữ, Cảng Đức Long, Cảng Bến Hồ, Cảng Kênh Vàng, Cảng Tri Phương.

Đường hàng không[sửa | sửa mã nguồn]

Bắc Ninh nằm liền kề với Sân bay Quốc tế Nội Bài. Từ trung tâm Tp.Bắc Ninh đến Sân bay Quốc tế Nội Bài khoảng 30 km được nối bằng QL 18[32].

Hệ thống đường nội bộ các Khu ĐTM, KCN trên đia bàn toàn tỉnh được đồng bộ hiện đại thích ứng được với quá trình đô thị hóa nhanh của các địa phương trong tỉnh, các tuyến này cũng được liên kết với nhau nhằm tạo lập hệ thống giao thông liên hoàn để việc vận chuyển hàng hóa thuận lợi hơn giảm áp lực giao thông cho các quốc lộ, tỉnh lộ trên địa bàn.

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam thì năm 2010, Bắc Ninh có 217 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sở Y tế, trong đó có 19 bệnh viện, 10 phòng khám khu vực và 186 trạm y tế.[33]. Cùng với hệ thống y tế của nhà nước, cũng có một hệ thống bệnh viện, phòng khám tư nhân đang dần phát triển. Bắc Ninh hiện có các bệnh viện sau:

  • Hệ thống bệnh viện đa khoa cá huyện, thị xã, thành phố của tỉnh như thành phố Bắc Ninh, Thị xã Từ Sơn, Thuận Thành, Quế Võ, Yên Phong, Tiên Du, Gia Bình, Lương Tài.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Trạng nguyên Lê Văn Thịnh

Bắc Ninh là tỉnh có nhiều Trạng nguyên nhất Việt Nam. Trong những kỳ thi đình dưới các triều đại phong kiến, cả nước chọn được 47 trạng nguyên và 2991 tiến sĩ thì riêng Kinh Bắc đã có tới 17 trạng nguyên và 622 tiến sĩ. Riêng thôn Tam Sơn 2 người. Bắc Ninh mảnh đất địa linh nhân kiệt với “Một giỏ ông Đồ/ Một bồ ông Cống/Một đống ông Nghè/ Một bè Tiến sỹ/Một bị Trạng nguyên/Một thuyền Bảng nhãn”.

Danh sách Trạng nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Riêng Bảng nhãn, thám hoa, tiến sĩ có rất nhiều. Đặc biệt Làng Kim Đôi có 25 vị trong đó, họ Nguyễn có 18 vị, họ Phạm có 7 vị (Theo Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa Việt Nam). Làng Tam Son là làng duy nhất của cả nước có đủ (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa)[34].

Sự nghiệp giáo dục - đào tạo phát triển toàn diện theo hướng bền vững. Công tác phổ cập giáo dục ở các cấp học tiếp tục được quan tâm và công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục – xóa mù chữ các cấp học ở mức độ cao nhất cả nước. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, đồng bộ, hiện đại; tỷ lệ kiên cố hoá phòng học và trường chuẩn quốc gia các cấp học cao nhất cả nước.

Học viện - Đại học - Viện Nghiên cứu - Cao đẳng - THCN[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Bắc Ninh đã và đang quy hoạch 3 làng Đại học với Làng Đại học I có diện tích khoảng 200 ha tại Võ Cường (TP. Bắc Ninh) và xã Liên Bão (Tiên Du), Làng Đại học II quy hoạch theo hướng "Công viên các trường Đại học" với diện tích tổng thể khoảng 1.300 ha tại các phường Hạp Lĩnh (TP. Bắc Ninh), xã Lạc Vệ, Việt Đoàn, Minh Đạo, Tân Chi (Tiên Du). Hiện tỉnh Bắc Ninh đang xúc tiến quy hoạch và lập dự án đầu tư khu Làng Đại học III quy mô 1000 ha[35].

Trung học phổ thông[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2008, toàn tỉnh có 18.293 học sinh tốt nghiệp Trung học phổ thông, thì có 19.380 lượt học sinh dự thi ĐH, với tổng điểm bình quân 3 môn thi ĐH là 12,85. Bắc Ninh xếp thứ 6 toàn quốc về tổng điểm bình quân 3 môn thi

Văn hóa - xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Liền chị quan họ
Hội Lim - Bắc Ninh

Bắc Ninh có một nền văn hoá nhân văn đặc sắc, một vùng quê văn hiến có nhiều di tích lịch sử văn hoá, lễ hội dân gian, làng nghề truyền thống. Những dấu ấn lịch sử sống động truyền thống văn hoá Việt Nam, đậm đà bản sắc Kinh Bắc, được kết tinh trong những di sản văn hoá, các lễ hội dân gian. Bắc Ninh là địa phương thứ 3 xây dựng văn miếu có tầm cỡ, quy mô, trang trọng. Văn miếu Bắc Ninh với 677 vị đại khoa, chiếm 1/3 tổng số vị đại khoa của cả nước đã được vinh danh. Văn miếu Bắc Ninh với những trang lịch sử văn hóa, giáo dục còn lưu giữ được cho đến ngày nay là những cứ liệu vô cùng giá trị của nền văn minh ở vùng Kinh Bắc, nơi có Luy Lâu cổ, nơi Sĩ Nhiếp lần đầu dạy người Việt học chữ. Chùa Dâu, Chùa Phật Tích, Chùa Bút Tháp là những nơi phát tích của Phật giáo Việt Nam, Chùa Dận. Bắc Ninh với các làn điệu quan họ, các làng nghề như làng tranh Đông Hồ, làng gốm Phù Lãng, gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, rèn sắt Đa Hội, đúc đồng Đại Bái, dệt Hồi Quan. Các di tích lịch sử đáng kể có đền Đô - thờ tám vị vua triều Lý, đền Phụ Quốc, đình làng Đình Bảng, chùa Cổ Lũng v.v. Bắc Ninh có nhiều đặc sản Bắc Ninh như bánh phu thê Đình Bảng, bánh tẻ làng Chờ, bánh khúc làng Diềm, bánh đúc Đình Tổ, nem Bùi (bùi xá)[cần dẫn nguồn], rượu nếp làng Cẩm,[36] cháo cá Bắc Ninh,[37] tương Đình Tổ, bánh tro, bánh gai tươi, bánh giò Phủ Từ. Con người Bắc Ninh mang trong mình truyền thống văn hóa, hiếu khách, cần cù và sáng tạo, với những bàn tay khéo léo mang đậm nét dân gian của vùng trăm nghề như tơ tằm, gốm sứ, đúc đồng, trạm bạc, khắc gỗ, làm giấy, tranh vẽ dân gian.

Tính đến ngày 05/12/2015 Bắc Ninh đã vinh dự nhận 3 danh hiệu UNESCO Việt Nam đó là dân ca Quan họ, Ca trù và trò chơi kéo co truyền thống (kéo co được công nhận ngày 03/12/2015 - là hồ sơ đa quốc gia cùng với Hàn Quốc, Campuchia, Philippine).

Lễ hội[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ hội làng Đồng Kỵ 2009
Tượng vua Lý Thái Tổ

Hàng năm, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh diễn ra hơn 300 lễ hội lớn nhỏ khác nhau. Một số lễ hội tiêu biểu được liệt kê dưới đây (Theo âm lịch):

  • Lễ hội Làng Đại Lâm (xã Tam Đa, huyện Yên Phong) được tổ chức vào 24-25-26 tháng giêng, hội có môn bơi bơi chải kỉ niệm chiến thắng Sông Như Nguyệt -
  • Lễ hội Lim (thị trấn Lim, huyện Tiên Du) được tổ chức vào 13 - 15 tháng giêng.
  • Lễ hội làng Tam Tảo, xã Phú Lâm, huyện Tiên Du; được tổ chức vào mồng 10 tháng 02 hàng năm.
  • Lễ hội làng Kim Chân (làng Tiến sĩ). Được tổ chức vào ngày 26 đến 28 tháng 2.
  • Lễ hội Đền Đô (Đình Bảng, thị xã Từ Sơn) để kỷ niệm ngày đăng quang của vua Lý Thái Tổ - 15 tháng 3 năm Canh Tuất 1010, và tưởng niệm các vị vua nhà Lý.
  • Lễ hội Phù Đổng (của bốn xã trong đó có xã Phù Đổng huyện Tiên Du) ngày 9- tháng 4 để kỷ niệm vị anh hùng dân tộc Phù Đổng Thiên Vương.
  • Lễ hội Thập Đình (của mười làng thuộc hai huyện Quế Võ và Gia Bình) để kỷ niệm trạng nguyên đầu tiên của Việt Nam tức Thái sư Lê Văn Thịnh và Doãn Công (Cao Doãn Công).
  • Lễ hội Cao Lỗ Vương ngày 10 - tháng 3 ở làng Tiểu Than(làng Dựng) xã Vạn Ninh và làng Đại Than (làng Lớ) ở xã Cao Đức, huyện Gia

Bình[38].

  • Lễ hội Đồng Kỵ ngày 4 - tháng Giêng.
  • Lễ hội Chùa Dâu ngày 8 - tháng 4.
  • Lễ hội truyền thống làng Vĩnh Kiều
Có câu[39]:
Mùng bảy hội Khám, mùng tám hội Dâu
Mùng chín đâu đâu cũng về hội Gióng
  • Lễ hội làng Diềm - Từ ngày mồng 5 đến ngày mồng 7 tháng 2 âm lich hằng năm - Tại làng Viêm Xá (còn gọi là làng Diềm), thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Di tích, di sản văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Bắc Ninh có 1.259 di tích lịch sử văn hoá, trong đó có 495 di tích được nhà nước công nhận xếp hạng (trong đó có 190 di tích xếp hạng cấp Quốc gia,4 di tích Quốc gia đặc biệt, 301 di tích xếp hạng cấp tỉnh).[40] Quan họ Bắc Ninh[41] đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc xếp vào Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại.[42]

Làng nghề truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh Đông Hồ
Đám cưới chuột

Bắc Ninh với nhiều làng nghề truyền thống có tuổi đời hàng trăm năm, đã làm ra những sản phẩm thủ công tinh xảo, độc đáo. Hiện nay, Bắc Ninh có 62 làng nghề, chủ yếu trong các lĩnh vực như đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu, sản xuất giấy, gốm, sắt, thép tái chế, đúc đồng. Các làng nghề đã góp phần rất lớn trong việc giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân trong tỉnh (trên 72.000 lao động thường xuyên và trên 10.000 lao động thời vụ).[43]

Môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

Ô nhiễm môi trường làng nghề ở Bắc Ninh đang ở mức độ nghiêm trọng đặc biệt ở 4 làng nghề trọng điểm là giấy Phong Khê, sắt thép Đa Hội, nhôm Văn Môn, đồng Đại Bái.[44] Ngoài ra, một số công ty trong các khu công nghiệp cũng gây ô nhiễm như công ty Kingmo New Materials (Khu công nghiệp Tiên Sơn).[45] Ô nhiễm đang ảnh hưởng lớn tới tới đời sống, sức khỏe của người dân và công nhân. Tuy nhiên điều này vẫn chưa được các cấp chính quyền quan tâm đúng mức.

Chương trình đô thị[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn 2018 - 2022[sửa | sửa mã nguồn]

  • Năm 2018, trên cơ sở xã Nhân Thắng đạt chuẩn đô thị loại V vào năm 2016 thành lập Thị trấn Ngụ trực thuộc huyện Gia Bình;, công nhận thị xã Từ Sơn đạt chuẩn đô thị loại III và xã Trung Kênh đạt chuẩn đô thị loại V
  • Năm 2020, công nhận đô thị lõi Bắc Ninh (Từ Sơn-Tiên Du-Bắc Ninh) đạt chuẩn đô thị loại I và xã Cao Đức đạt chuẩn đô thị loại V.
  • Năm 2021, công nhận đô thị Chờ, Phố Mới, Hồ mở rộng đạt chuẩn đô thị loại IV; Thành lập Thị xã Thuận Thành trên cơ sở toàn bộ huyện Thuận Thành; tách 1 phần thị trấn Ngụ để thành lập đô thị Bình Than.
  • Năm 2022, Tỉnh Bắc Ninh trở thành Thành phố trực thuộc Trung ương

Giai đoạn 2022 - 2030 (Thành phố Trực Thuộc Trung ương)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Năm 2022, Tỉnh Bắc Ninh trở thành Thành phố trực thuộc Trung ương với 5 quận (Kinh Bắc, Tiên Du, Từ Sơn, Yên Phong, Quế Võ), 1 thị xã (Thuận Thành) và 2 huyện (Gia Bình, Lương Tài) [cần dẫn nguồn]. Trong đó:
    • Quận Kinh Bắc thành lập trên cơ sở toàn bộ thành phố Bắc Ninh cũ, giữ nguyên 16 phường, 3 xã Hòa Long, Nam Sơn và Kim Chân thành lập phường cùng tên.
    • Quận Từ Sơn thành lập trên cơ sở toàn bộ thị xã Từ Sơn cũ, giữ nguyên 7 phường, 5 xã còn lại thành lập phường cùng tên.
    • Quận Tiên Du thành lập trên cơ sở toàn bộ huyện Tiên Du cũ, 13 xã thành lập phường cùng tên; Thành lập phường Nguyễn Đăng Đạo trên cơ sở toàn bộ thị trấn Lim.
    • Quận Yên Phong thành lập trên cơ sở toàn bộ huyện Yên Phong cũ, 13 xã thành lập phường cùng tên; Thành lập phường Nguyễn Văn Cừ trên cơ sở toàn bộ thị trấn Chờ.
    • Quận Quế Võ thành lập trên cơ sở toàn bộ Quế Võ cũ, 20 xã thành lập phường cùng tên; Thành lập phường Vũ Dương trên cơ sở toàn bộ thị trấn Phố Mới.

Theo dự thảo Đề án, từ nay tới năm 2022, Bắc Ninh cơ bản đáp ứng đủ 5/5 tiêu chuẩn của thành phố trực thuộc Trung ương gồm: dân số, diện tích tự nhiên, đơn vị hành chính trực thuộc, quy mô đô thị và cơ cấu trình độ phát triển kinh tế - xã hội [cần dẫn nguồn].

Khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, Bắc Ninh sẽ có 5 quận, 1 thị xã và 2 huyện, với 2 vùng: Nội thị và ngoại thị, trong đó vùng nội thị là đô thị loại I gồm các địa phương phía Bắc sông Đuống, phát triển đô thị theo hướng Văn hóa - Sinh thái - Tri thức - Thông minh; phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp công nghệ cao và dịch vụ hiện đại, chú trọng các ngành tài chính, ngân hàng, thương mại, giáo dục, y tế, nghỉ dưỡng, Logistic và du lịch. Vùng ngoại thị ở phía Nam sông Đuống là vùng nông nghiệp công nghệ cao, phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp, công nghiệp sạch, trung tâm của vùng là đô thị Hồ, huyện Thuận Thành

Xem xét thành lập mới quận Nam Sơn trên cơ sở 1 phần diện tích các quận Kinh Bắc và Quế Võ [cần dẫn nguồn].

Xem xét thành lập mới Thị xã Bình Than trên cơ sở tách 1 phần diện tích quận Quế Võ và huyện Gia Bình lấy đô thị Bình Than làm trung tâm. [cần dẫn nguồn]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Niên giám Thống kê 2016 - Dân số và Lao động”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. tr. 27. 
  2. ^ Giới thiệu tiềm năng Du lịch tỉnh Bắc Ninh Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại - Bộ Công Thương (VITIC) Cập nhật: Thứ tư, ngày 22 tháng 8 năm 2012
  3. ^ Tiềm năng và định hướng phát triển tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011-2016 Cổng Thông tin Điện tử tỉnh Bắc Ninh
  4. ^ Tổng quan Bắc Ninh Sở Kế hoạch và Đầu tư Bắc Ninh
  5. ^ a ă â Về miền quan họ Thu Huệ, báo Thanh Hóa cập nhật 21/03/2013
  6. ^ “Thu nhập bình quân đầu người năm 2016 đạt 5.129 USD/năm.”. 
  7. ^ “GRDP bình quần đầu người tỉnh Bắc Ninh năm 2015”. 
  8. ^ http://www.bacninh.gov.vn/Trang/gioithieutinh.aspx?gt=L%E1%BB%8Bch%20s%E1%BB%AD%20-%20V%C4%83n%20h%C3%B3a Lịch sử Bắc Ninh
  9. ^ Vài nét về lịch sử tỉnh Bắc Ninh, Cổng giao tiếp điện tử Bắc Ninh
  10. ^ Nghị quyết của Quốc hội khóa IX kì họp thứ 10
  11. ^ Nghị định 68/1999/NĐ-CP về việc chia huyện Tiên Sơn, Gia Lương để tái lập các huyện Tiên Du, Tiên Sơn, Gia Bình và Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
  12. ^ Nghị định 15/2006/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Bắc Ninh thuộc tỉnh Bắc Ninh
  13. ^ Nghị định 01/NĐ-CP về việc thành lập thị xã Từ Sơn, thành lập các phường thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Ngày 01 tháng 12 năm 2018, chính thức công nhận thị xã Từ Sơn là đô thị loại III.
  14. ^ “Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009”. Tổng cục Thống kê. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  15. ^ Địa lý tự nhiên - Tài nguyên và môi trường
  16. ^ “Bac ninh weather publisher=”. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013.  }}
  17. ^ Dân số trung bình phân theo địa phương qua các năm, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam, số liệu cập nhật 2011.
  18. ^ Giới thiệu Tỉnh - Viết về Bắc Ninh: Giới thiệu chung về Bắc Ninh
  19. ^ “Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Các kết quả chủ yếu”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2012. 
  20. ^ a ă â Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội.
  21. ^ [1], Bắc Ninh: Tổng kết 8 năm thực hiện Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo
  22. ^ “Bắc Ninh thu hút đầu tư gắn với phát triển công nghiệp hỗ trợ”. nhandan.com.vn. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2013. 
  23. ^ Báo cáo của UBND tỉnh Bắc Ninh số 52/BC-UBND ngày 05/12/2012 báo cáo tình hình thực hiện nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03/01/2012 của Chính phủ
  24. ^ 13 tháng 2 năm 2013 Bắc Ninh: Thành tựu kinh tế - xã hội năm 2012 tạo đà để phát triển nhanh và bền vững BNTV 13/02/2013 8:42:24 CH
  25. ^ Bắc Ninh chuyển mình phát triển bền vững - Tin doanh nghiệp - VnEconomy 09:51 (GMT+7) - Thứ Tư, 28/3/2012
  26. ^ Báo cáo Tình hình đăng ký đầu tư và đăng ký kinh doanh Quý I năm 2013 Sở Kế họch và Đầu tư tỉnh Bắc Ninh
  27. ^ VGP News | Xuất nhập khẩu: Góc nhìn từ địa phương Minh Ngọc, 7:00 PM, 21/04/2013
  28. ^ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam
  29. ^ Bắc Ninh: Triển khai tour du lịch cộng đồng Làng gốm Phù Lãng (huyện Quế Võ) – Chùa Bút Tháp (huyện Thuận Thành) – Làng Quan họ cổ Viêm Xá (Thành phố Bắc Ninh)
  30. ^ http://www.bacninh.gov.vn/sobannganh/Sogtvt/Trang/Tin%20chi%20ti%E1%BA%BFt.aspx?newsid=259&cid=5&dt=ngày 28 tháng 8 năm 2012
  31. ^ a ă â “http://sgtvt.bacninh.gov.vn/news/-/details/57292/thong-tin-cac-tuyen-xe-buyt-noi-tinh-bac-ninh”. 
  32. ^ Thông xe đoạn đường Nội Bài - Bắc Ninh - Thong xe doan duong Noi Bai - Bac Ninh - DVO - Báo Đất Việt
  33. ^ “Số cơ sở khám, chữa bệnh trực thuộc sở Y tế phân theo địa phương”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2012.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  34. ^ 18 tháng 3 năm 2013&cid=2 Văn miếu Bắc Ninh
  35. ^ Quy hoạch - Báo kinh tế đô thị
  36. ^ Chất lượng Việt Nam Online[liên kết hỏng]
  37. ^ Nhớ mãi hương vị cháo cá Bắc Ninh[liên kết hỏng]
  38. ^ http://btv.gov.vn/Tint%E1%BB%A9c/Ch%C3%ADnhtr%E1%BB%8Bx%C3%A3h%E1%BB%99i/tabid/546/newsId/1389/ModuleId/1999/Default.aspx
  39. ^ “Hội Gióng”. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015. 
  40. ^ Di tích, di sản văn hóa trang 2
  41. ^ Quan Họ Bắc Ninh folk songs 2009
  42. ^ Lists of intangible cultural heritage and Register of best safeguarding practices
  43. ^ “Phát triển làng nghề ở Bắc Ninh theo hướng bền vững”. Tạp chí Cộng sản. 
  44. ^ “Bắc Ninh: Ô nhiễm môi trường làng nghề sẽ xử lý được?”. Thanh tra chính phủ. 
  45. ^ “Bắc Ninh: Người dân "sống mòn" với khí thải KCN”. Thông tấn xã Việt Nam. 22 tháng 11 năm 2012. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]