Bổ sung sắt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bổ sung sắt, còn được gọi là muối sắt, thuốc sắtviên sắt, là một số hợp chất sắt được sử dụng để điều trị và ngăn ngừa thiếu sắt bao gồm chứng thiếu máu thiếu sắt.[1][2] Để phòng ngừa, chúng chỉ được khuyến cáo ở những người kém hấp thu, kinh nguyệt nhiều, mang thai, chạy thận nhân tạo hoặc chế độ ăn ít chất sắt.[2][3] Phòng ngừa cũng có thể được sử dụng ở trẻ sơ sinh nhẹ cân.[2] Chúng được uống bằng miệng, tiêm vào tĩnh mạch hoặc tiêm bắp thịt.[2] Trong khi lợi ích có thể được nhìn thấy trong những ngày lên đến hai tháng có thể được yêu cầu cho đến khi mức sắt trở lại bình thường.[4]

Các tác dụng phụ thường gặp bao gồm táo bón, đau bụng, phân sẫm màu và tiêu chảy.[4] Các tác dụng phụ khác, có thể xảy ra khi sử dụng quá mức, bao gồm quá tải sắtđộc tính sắt.[1][3] Các muối sắt được sử dụng làm chất bổ sung bằng miệng bao gồm sắt fumarate, gluconate sắt, succate sắt và sắt sunfat.[3] Các dạng thuốc tiêm bao gồm dextran sắt và sucrose sắt.[3] Chúng hoạt động bằng cách cung cấp chất sắt cần thiết để tạo ra các tế bào hồng cầu.[4]

Thuốc sắt đã được sử dụng y tế từ ít nhất 1681, với công thức dễ sử dụng được tạo ra vào năm 1832.[5] Nó nằm trong Danh sách các loại thuốc thiết yếu của Tổ chức Y tế Thế giới, loại thuốc hiệu quả và an toàn nhất cần có trong hệ thống y tế.[6] Muối sắt có sẵn như là một loại thuốc gốcthuốc trên quầy.[1] Chi phí bán buôn ở các nước đang phát triển là khoảng 0,05-0,63 USD mỗi tháng.[7] Ở Hoa Kỳ, một tháng điều trị thông thường có chi phí dưới 25 đô la.[1] Công thức phát hành chậm, trong khi có sẵn, không được khuyến khích.[2] Trong năm 2016, sắt sulfat là loại thuốc được kê đơn nhiều thứ 93 tại Hoa Kỳ, với hơn 8 triệu đơn thuốc.[8]

Sử dụng trong y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bổ sung sắt được sử dụng để điều trị thiếu sắt và thiếu máu thiếu sắt;[9] thuốc sắt cũng có thể được sử dụng để điều trị thiếu sắt chức năng, trong đó nhu cầu về sắt lớn hơn khả năng cung cấp sắt của cơ thể như trong tình trạng viêm. Tiêu chí chính là các nguyên nhân gây thiếu máu khác cũng đã được nghiên cứu, chẳng hạn như thiếu vitamin B 12 hoặc thiếu folate, do thuốc hoặc do các chất độc khác như chì, vì thường thiếu máu có nhiều hơn một nguyên nhân cơ bản.

Thiếu máu thiếu sắt là một loại thiếu máu vi mô, hypochromic. Nói chung, ở Anh, các chế phẩm uống qua đường miệng được thử nghiệm trước khi chấp nhận quyền phát minh.[10] trừ khi có yêu cầu đáp ứng nhanh, không dung nạp trước với sắt uống hoặc có khả năng không đáp ứng. Sắt truyền tĩnh mạch có thể làm giảm nhu cầu truyền máu tuy nhiên làm tăng nguy cơ nhiễm trùng khi so sánh với sắt uống.[11] Đánh giá của Cochrane Collaboration năm 2015 cho thấy bổ sung sắt hàng ngày trong thai kỳ giúp giảm nguy cơ thiếu máu ở mẹ và ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh và các kết quả khác của mẹ là không rõ ràng.[12] Một đánh giá khác tìm thấy bằng chứng dự kiến rằng bổ sung sắt không liên tục bằng miệng là tương tự đối với mẹ và bé vì bổ sung hàng ngày với ít tác dụng phụ hơn.[13] Bổ sung sắt qua đường miệng nên được uống khi bụng đói, tùy ý với một lượng nhỏ thức ăn để giảm bớt sự khó chịu.[14]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Hamilton, Richart (2015). Tarascon Pocket Pharmacopoeia 2015 Deluxe Lab-Coat Edition. Jones & Bartlett Learning. tr. 217. ISBN 9781284057560. 
  2. ^ a ă â b c British national formulary: BNF 69 (ấn bản 69). British Medical Association. 2015. tr. 660–664. ISBN 9780857111562. 
  3. ^ a ă â b WHO Model Formulary 2008 (PDF). World Health Organization. 2009. tr. 247–250. ISBN 9789241547659. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 13 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2017. 
  4. ^ a ă â “Iron Preparations, Oral”. The American Society of Health-System Pharmacists. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2017. 
  5. ^ Upfal, Jonathan (2006). Australian Drug Guide (bằng tiếng Anh). Black Inc. tr. 378–379. ISBN 9781863951746. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 9 năm 2017. 
  6. ^ “WHO Model List of Essential Medicines (19th List)” (PDF). World Health Organization. Tháng 4 năm 2015. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 13 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2016. 
  7. ^ “Ferrous Salt”. International Drug Price Indicator Guide. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2016. 
  8. ^ “The Top 300 of 2019”. clincalc.com. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2018. 
  9. ^ Ferinject (ferric n 2012-12-21. Error in webarchive template: Check |url= value. Empty.
  10. ^ Goddard AF, James MW, McIntyre AS and Scott BB (May 2005). Guidelines for the management of iron deficiency anaemia Error in webarchive template: Check |url= value. Empty.. British Society of Gastroenterology
  11. ^ Litton, E; Xiao, J; Ho, KM (15 tháng 8 năm 2013). “Safety and efficacy of intravenous iron therapy in reducing requirement for allogeneic blood transfusion: systematic review and meta-analysis of randomised clinical trials.”. BMJ (Clinical Research Ed.) 347: f4822. PMC 3805480. PMID 23950195. doi:10.1136/bmj.f4822. 
  12. ^ Peña-Rosas JP, De-Regil LM, Garcia-Casal MN, Dowswell T (2015). “Daily oral iron supplementation during pregnancy.”. Cochrane Database Syst Rev 7 (7): CD0047361. PMC 4233117. PMID 26198451. doi:10.1002/14651858.CD004736.pub5. 
  13. ^ Peña-Rosas, Juan Pablo (ngày 19 tháng 10 năm 2015). “Intermittent oral iron supplementation during pregnancy”. Cochrane Database of Systematic Reviews 10 (10): CD009997. PMC 4053594. PMID 26482110. doi:10.1002/14651858.CD009997.pub2. 
  14. ^ “Taking iron supplements: MedlinePlus Medical Encyclopedia”. medlineplus.gov (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2018.