Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Bộ
Lao động – Thương binh và Xã hội
Chính phủ Việt Nam
Bộ LĐTBXH.jpg
Vietnam Ministry of Labour - Invalids and social affairs.jpg


Mr. Dao Ngoc Dung.jpg

Bộ trưởng đương nhiệm
Đào Ngọc Dung
từ 09 tháng 04 năm 2016

Thành lập16 tháng 2 năm 1987
Bộ trưởng đầu tiênLê Văn Hiến
Ngân sách 201832.872.425 triệu đồng[1]
Tình trạng   Đang hoạt động   
Địa chỉsố 12 phố Ngô Quyền, phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
Websitehttp://www.molisa.gov.vn

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội là một cơ quan của Chính phủ Việt Nam, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lao động, việc làm, an toàn lao động, dạy nghề, chính sách đối với thương binh, liệt sĩ và người có công, bảo trợ xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội.

Bộ được thành lập ngày 16 tháng 2 năm 1987 theo quyết định số 782/HĐNN của Hội đồng Nhà nước hợp nhất hai Bộ: Bộ Lao động và Bộ Thương binh và Xã hội thành Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Bộ trưởng hiện nay là ông Đào Ngọc Dung.

Vị trí và chức năng[sửa | sửa mã nguồn]

Theo nghị định số 106/2012/NĐ–CP ngày 20 tháng 12 năm 2012 của Chính phủ, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có vị trí và chức năng sau: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực; Việc làm, dạy nghề, lao động, tiền lương, tiền công, bảo hiểm xã hội (bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp), an toàn lao động, người có công, bảo trợ xã hội, bảo vệ và chăm sóc trẻ em, bình đẳng giới, phòng chống tệ nạn xã hội (sau đây gọi chung là lĩnh vực lao động, người có công và xã hội) trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.

Lãnh đạo Bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ cấu tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Các tổ chức giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước
  • Vụ Bảo hiểm xã hội
  • Vụ Pháp chế
  • Vụ Hợp tác quốc tế
  • Vụ Kế hoạch – Tài chính
  • Vụ Bình đẳng giới
  • Vụ Tổ chức cán bộ
  • Cục Quan hệ lao động và Tiền lương
  • Cục Việc làm
  • Cục Bảo trợ xã hội
  • Cục Trẻ em
  • Cục Quản lý lao động ngoài nước
  • Cục An toàn lao động
  • Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội
  • Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp
  • Thanh tra
  • Văn phòng
Các tổ chức sự nghiệp thuộc Bộ
  • Viện Khoa học Lao động và Xã hội
  • Bệnh viện Chỉnh hình – Phục hồi chức năng Hà Nội
  • Trung tâm Thông tin
  • Báo Lao động và Xã hội
  • Tạp chí Lao động và Xã hội
  • Tạp chí Gia đình và Trẻ em
  • Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam
  • Trung tâm Lao động ngoài nước
  • Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lao động – xã hội
  • Trường Đại học Lao động - Xã hội
  • Báo điện tử Dân trí

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trong chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập ngày 28 tháng 8 năm 1945 và ra mắt ngày 2 tháng 9 năm 1945 có Bộ Lao động và Bộ Cứu tế xã hội trong tổng số 13 bộ. Hai bộ này là tiền thân của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ngày nay. Trong Chính phủ liên hiệp lâm thời được thành lập ngày 2 tháng 3 năm 1946, 2 bộ nói trên được thay thế bằng Bộ Xã hội (có 3 Nha: Nha Y tế, Nha Cứu tế xã hội và Nha Lao động trung ương (từ 27 tháng 3 năm 1946 Giám đốc là Nguyễn Lê Giang[3])). Sau đó, trong Chính phủ liên hiệp kháng chiến cải tổ, thành lập ngày 3 tháng 11 năm 1946, Bộ Lao động và Bộ Cứu tế được lập lại, đồng thời giải thể Bộ Xã hội. Bộ Cứu tế tồn tại đến năm 1947 thì giải thể và được tái lập vào ngày 20 tháng 9 năm 1955 theo Quyết định của Hội đồng Chính phủ, nhưng cũng chỉ tồn tại đến tháng 5 năm 1959.

Ngày 19 tháng 7 năm 1947, Bộ Thương binh – Cựu binh được thành lập, đảm nhiệm công tác thương binh, liệt sĩ mà trước đó thuộc chức năng của Phòng Thương binh thuộc Chính trị Cục, Bộ Quốc phòng. Tháng 5 năm 1959, Bộ Thương binh – Cựu binh giải thể, toàn bộ công tác Thương binh liệt sĩ được chuyển giao cho Bộ Nội vụ phụ trách.

Như vậy trong Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa II (1960–1964), chức năng của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ngày nay do 2 bộ: Nội vụ và Lao động đảm nhiệm.

Phụ trách công tác thương binh, liệt sĩ ở Bộ Nội vụ ban đầu là Vụ Thương binh (có thêm công tác đối với quân nhân phục vụ do Hội đồng phục viên Trung ương chuyển giao), tiếp sau là Vụ Dân chính Thương binh (có thêm công tác hộ tịch và công tác Quản lý các trại hàng binh Âu Phi) và sau đó là Vụ Thương binh và An toàn xã hội (có thêm công tác cứu tế xã hội và công tác bảo hiểm xã hội). Ngày 20 tháng 3 năm 1965, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 36/CP thành lập Vụ số 8 trực thuộc Bộ Nội vụ để thống nhất Quản lý các chính sách, chế độ đối với gia đình những cán bộ đi "công tác đặc biệt"; Quản lý trại nhi đồng đặc biệt; đón tiếp, bố trí công việc cho đồng bào miền Nam ra Bắc; Quản lý mồ mả, hồ sơ, di sản của công nhân viên chức và đồng bào miền Nam chết ở miền Bắc. Ngày 16 tháng 8 năm 1967, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 129/CP thành lập Vụ Hưu trí thuộc Bộ Nội vụ.

Tháng 7 năm 1975, Bộ Công an và một số bộ phận của Bộ Nội vụ hợp nhất thành một bộ mới, lấy tên là Bộ Nội vụ, và bộ này không còn thực hiện chức năng cũ về thương binh, liệt sĩ nữa. Do đó Chính phủ thành lập Bộ Thương binh và Xã hội trên cơ sở bộ phận làm công tác Thương binh liệt sĩ của Bộ Nội vụ cũ.

Năm 1987, hợp nhất hai Bộ Lao động, Bộ Thương binh và Xã hội thành Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội.

Các Bộ trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ trưởng Bộ Lao động (1945–1987)[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ trưởng Bộ Cứu tế (1945–1946, 1946–1947, 1955–1959)[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ trưởng Bộ Xã hội (từ 2 tháng 3 năm 1946 đến 3 tháng 11 năm 1946)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trương Đình Tri (sau theo Pháp, bị buộc tội phản quốc và xử quyết ngày 10 tháng 10 năm 1947)

Bộ trưởng Bộ Thương binh – Cựu binh (1947–1959)[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ trưởng Bộ Nội vụ (1959–1975)[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ trưởng Bộ Thương binh Xã hội (1975–1987)[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ tự Họ và tên Nhiệm kỳ
1 Trung tướng Dương Quốc Chính (Lê Hiến Mai) 1975 – 23/04/1982
2 Thượng tướng Nguyễn Văn Khương (Song Hào) 23/04/1982 –16/02/1987

Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (từ 1987)[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ tự Họ và tên Nhiệm kỳ
1 Nguyễn Kỳ Cẩm 16/02/1987 – 26/04/1989
2 PGS. Tiến sĩ Trần Đình Hoan 26/04/1989 – 21/01/1998
3 Nguyễn Thị Hằng 21/01/1998 – 02/08/2007
4 Thạc sỹ Nguyễn Thị Kim Ngân 02/08/2007 – 23/07/2011
5 Phạm Thị Hải Chuyền 03/08/2011 – 08/04/2016
6 Thạc sỹ Đào Ngọc Dung 09/04/2016 – nay

Bê bối[sửa | sửa mã nguồn]

Ông Lê Bạch Hồng, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, nguyên Tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam bị truy tố vào ngày 8 tháng 6 năm 2019 về tội Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, gây thất thoát 1.700 tỷ khi cho vay sai đối tượng.[4]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]