Bộ Tổng tư lệnh Lục quân (Đức Quốc xã)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bộ Tư lệnh Lục quân
Oberkommando des Heeres
OKH2.svg
Hiệu kỳ 1938-1942
Thành lập1935
Giải tán23 tháng 5, 1945
Quốc gia Đức Quốc xã
Quân chủng Lục quân Đức Quốc xã
Phân loạiBộ chỉ huy tối cao
Bộ phận củaOberkommando der Wehrmacht
Tên khácOKH
Các tư lệnh
Tổng tham mưu trưởngWilhelm Keitel
Huy hiệu
Lệnh kỳ 1936-1938OKH1.svg
Lệnh kỳ 1938-1942OKH2.svg

Bộ Tổng tư lệnh Lục quân (tiếng Đức: Oberkommando des Heeres, viết tắt OKH), hay Bộ Tư lệnh Lục quân, là cơ quan tối cao của Lục quân Đức Quốc xã. Nó được thành lập vào năm 1935 như một phần quá trình tái quân sự hóa nước Đức của Adolf Hitler. Từ năm 1938, OKH cùng với OKL (Oberkommando der Luftwaffe, Bộ Tư lệnh Không quân) và OKM (Oberkommando der Marine, Bộ Tư lệnh Hải quân), ngoại trừ Waffen-SS, về danh nghĩa chính thức trực thuộc OKW ( Oberkommando der Wehrmacht). Trong chiến tranh, OKH chịu trách nhiệm lập kế hoạch chiến lược cho các Cụm tập đoàn quânTập đoàn quân, trong khi Bộ Tham mưu OKH quản lý các vấn đề tác chiến. Do đặt ưu tiên tính chủ động trong tác chiến, mỗi đại đơn vị cấp binh đoàn Đức cũng có một cơ quan Bộ tư lệnh (ArmeeoberkommandoAOK) hoạt động phối hợp với OKH. Cho đến khi Đức bại trận tại Moskva vào tháng 12 năm 1941, OKH và các bộ phận của nó trên thực tế là cơ quan quan trọng nhất trong kế hoạch chiến tranh của Đức. OKW sau đó đã đảm nhận chức năng này cho các chiến trường khác ngoài mặt trận Đức-Xô. Chỉ huy OKH giữ chức danh Oberbefehlshaber des Heeres (Tư lệnh tối cao Lục quân, hay Tổng tư lệnh Lục quân, Tư lệnh Lục quân). Sau trận Moskva, sau khi chỉ huy OKH, Thống chế Walther von Brauchitsch được miễn nhiệm, Hitler tự bổ nhiệm mình làm Tổng tư lệnh Lục quân.

OKH và OKW[sửa | sửa mã nguồn]

Hitler là người đứng đầu OKW kể từ tháng 1 năm 1938, sử dụng nó để chuyển mệnh lệnh cho hải quân (OKM), không quân (OKL) và lục quân (OKH). Sau cuộc khủng hoảng lớn xảy ra trong Trận Moskva, Walther von Brauchitsch bị cách chức (một phần vì sức khỏe không tốt), và Hitler tự bổ nhiệm mình làm người đứng đầu OKH trong khi vẫn giữ chức vụ của mình tại OKW. Đồng thời, ông giới hạn thẩm quyền của OKH ở mặt trận Nga, trao quyền trực tiếp cho OKW đối với các đơn vị lục quân ở nơi khác. Điều này cho phép Hitler tuyên bố rằng chỉ có ông ta mới biết hoàn toàn về tình hình chiến lược của Đức, nếu bất kỳ vị tướng nào yêu cầu chuyển giao các nguồn lực giữa mặt trận Nga và một chiến trường ở nơi khác.[1]

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1944, các bộ phận dưới đây trực thuộc OKH:[2]

  • Chỉ huy trưởng Quân Dự bị và Chỉ huy Trang bị (Chef der Heeresausrüstung und Befehlshaber des Ersatzheeres): Friedrich Fromm
  • Chánh văn phòng Quản trị (Chef des Allgemeines Heeresamt): Friedrich Olbricht
  • Cục trưởng Quân khí (Chef des Heereswaffenamtes): Emil Leeb
  • Cục trưởng Quân lực (Chef des Heerespersonalamtes): Rudolf Schmundt
  • Cục trưởng Hành chính (Chef des Heeresverwaltungsamtes): Herbert Osterkamp
  • Ban Tuyên truyền và Quan hệ Công chúng: Hasso von Wedel - Albrecht Blau - Kurt Dittmar
  • Tổng thanh tra Binh chủng Thiết giáp (Generalinspekteur der Panzertruppen): Heinz Guderian
  • Tổng chỉ huy Công binh và Công trình (General der Pioniere und Festungen): Alfred Jacob
  • Tổng thanh tra Huấn luyện và Đào tạo (Generalinspektion des Militärerziehungs- und Bildungswesens): Karl-Wilhelm Specht

Lãnh đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng tư lệnh Lục quân[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng tư lệnh Lục quân (tiếng Đức: Oberbefehlshaber des Heeres) là người đứng đầu OKH và Lục quân Đức trong thời kỳ Đức Quốc xã. Các đời Tổng tư lệnh Lục quân gồm:

STT Ảnh Họ tên Thời gian sống Thời gian
tại nhiệm
Cấp bậc tại nhiệm Ghi chú
1
Bundesarchiv Bild 183-R16862, Werner von Fritsch.jpg Werner von Fritsch
1880–1939
1 tháng 1, 1934 - 4 tháng 2, 1938
General (Wehrmacht) 1.svg Thượng tướng Pháo binh (1934)
Generaloberst (Wehrmacht) 8.svg Đại tướng (1936)
Tử thương trên chiến trường ngày 22 tháng 9 năm 1939.
2
Bundesarchiv Bild 183-E00780, Walther von Brauchitsch.jpg Walther von Brauchitsch
1881–1948
4 tháng 2, 1938 - 19 tháng 12, 1941
Generaloberst (Wehrmacht) 8.svg Đại tướng (1938)
WMacht H OF10 GenFeldmarschall01 h 1942.svg Thống chế (1940)
Bị truy tố là tội phạm chiến tranh. Chết ngày 18 tháng 10 năm 1948 trước khi bị xét xử.
3
Hitler portrait crop.jpg Adolf Hitler [a]
1889–1945
19 tháng 12, 1941 - 30 tháng 4, 1945
Lãnh tụ và Thủ tướng Đế chế Tự sát ngày 30 tháng 4 năm 1945.
4
Bundesarchiv Bild 183-L29176, Ferdinand Schörner.jpg Ferdinand Schörner [b]
1892–1973
30 tháng 4, 1945 - 8 tháng 5, 1945
WMacht H OF10 GenFeldmarschall01 h 1942.svg Thống chế (1945)
Bị truy tố là tội phạm chiến tranh và bị giam giữ đến tháng 8 năm 1960.

Tổng tham mưu trưởng Lục quân[sửa | sửa mã nguồn]

HIệu kỳ Tổng tham mưu trưởng Lục quân Đức

Các đời Tổng tham mưu trưởng OKH (tiếng Đức: Chef des Generalstabes des Heeres) gồm:

STT Ảnh Họ tên Thời gian sống Thời gian
tại nhiệm
Cấp bậc tại nhiệm Ghi chú
1
Bundesarchiv Bild 146-1980-033-04, Ludwig Beck.jpg Ludwig Beck
1880–1944
1 tháng 7, 1935 - 31 tháng 8, 1938
Generalleutnant (Wehrmacht).svg Trung tướng (1932)
General (Wehrmacht) 1.svg Thượng tướng Pháo binh (1935)
Generaloberst (Wehrmacht) 8.svg Đại tướng (1938)
Tự sát ngày 20 tháng 7 năm 1944 sau khi đảo chính bất thành
2
Bundesarchiv Bild 146-1970-052-08, Franz Halder.jpg Franz Halder
1884–1972
1 tháng 9, 1938 - 24 tháng 9, 1942
General (Wehrmacht) 1.svg Thượng tướng Pháo binh (1938)
Generaloberst (Wehrmacht) 8.svg Đại tướng (1940)
Bị truy tố là tội phạm chiến tranh và bị giam giữ đến tháng 9 năm 1950.
3
Kurt Zeitzler.jpg Kurt Zeitzler
1895–1963
24 tháng 9, 1942 - 10 tháng 6, 1944
General (Wehrmacht) 1.svg Thượng tướng Bộ binh (1942)
Generaloberst (Wehrmacht) 8.svg Đại tướng (1944)
Bị truy tố là tội phạm chiến tranh và bị giam giữ đến tháng 2 năm 1947.
tạm quyền
Bundesarchiv Bild 146-2005-0030, Adolf Heusinger.jpg Adolf Heusinger [c]
1897–1982
10 tháng 6, 1944 - 21 tháng 7, 1944
Generalleutnant (Wehrmacht).svg Trung tướng (1942)
Bị thương trong âm mưu 20 tháng 7. Đại tướng Bundeswehr (1957).
tạm quyền
Heinz Guderian portrait.jpg Heinz Guderian
1888–1954
21 tháng 7, 1944 - 28 tháng 3, 1945
Generaloberst (Wehrmacht) 8.svg Đại tướng (1940)
Bị truy tố là tội phạm chiến tranh và bị giam giữ đến tháng 6 năm 1948.
tạm quyền
Bundesarchiv Bild 146-1978-111-10A, Hans Krebs.jpg Hans Krebs [d]
1898–1945
1 tháng 4, 1945 - 1 tháng 5, 1945
General (Wehrmacht) 1.svg Thượng tướng Bộ binh (1944)
Tự sát ngày 1 tháng 5 năm 1945.
tạm quyền
Bundesarchiv Bild 183-H30220, Wilhelm Keitel.jpg (cropped).jpg Wilhelm Keitel
1882–1946
1 tháng 5, 1945 - 13 tháng 5, 1945
WMacht H OF10 GenFeldmarschall01 h 1942.svg Thống chế (1940)
Bị truy tố là tội phạm chiến tranh và bị xử giảo ngày 16 tháng 10 năm 1946.
tạm quyền
Bundesarchiv Bild 146-1971-033-01, Alfred Jodl (cropped)-(a).jpg Alfred Jodl
1890–1946
13 tháng 5, 1945 - 23 tháng 5, 1945
Generaloberst (Wehrmacht) 8.svg Đại tướng (1944)
Bị truy tố là tội phạm chiến tranh và bị xử giảo ngày 16 tháng 10 năm 1946.

Cơ sở[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù cả OKW và OKH đều có trụ sở chính tại Zossen trong thời Đệ tam Đế chế, nhưng tính độc lập về chức năng và hoạt động của cả hai cơ sở vẫn hoàn toàn độc lập đối với các nhân viên tương ứng trong nhiệm kỳ của họ. Do quy mô rộng lớn của căn cứ phức hợp Zossen, ngay cả khi Maybach 2 (tổ hợp OKW) bị phá hủy hoàn toàn, các nhân viên OKH ở Maybach 1 sẽ hiếm khi nhận thấy. Những cơ sở ngụy trang này, được ngăn cách về mặt vật lý bằng hàng rào, cũng duy trì những suy nghĩ khác nhau về cấu trúc đối với mục tiêu của chúng.

Ngày 28 tháng 4 năm 1945 (hai ngày trước khi tự sát), Hitler chính thức giao OKH cho OKW, trao quyền chỉ huy các lực lượng sau này ở Mặt trận phía Đông.[3]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hitler đích thân nắm quyền chỉ huy OKH sau khi cách chức Brauchitsch để giám sát Chiến dịch Barbarossa, cuộc xâm lược Liên Xô của Đức.
  2. ^ Là một trong những viên chỉ huy quân sự mà Hitler ái mộ, Schörner đã được chỉ thị làm Tổng tư lệnh mới của OKH theo lời trăng trối và di chúc của Hitler, công bố trước khi ông ta tự tử vào ngày 30 tháng 4 năm 1945. Vào thời điểm đó, OKH nằm dưới quyền của OKW (Bộ Tư lệnh Tối cao Wehrmacht), với Chỉ huy trưởng là Thống chế Wilhelm Keitel.
  3. ^ Sau này đảm nhận các chức vụ như Tổng Thanh tra của Bundeswehr (1957–1961) và Chủ tịch Ủy ban Quân sự NATO (1961–1964)
  4. ^ Đã tự sát

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Barnett, Correlli (1989). Hitler's Generals. Grove. tr. 497. ISBN 978-1555841614.
  2. ^ CIA (1944). Who's Who In Nazi Germany (PDF). CIA. tr. 31–32. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2019.
  3. ^ Grier, Howard D. Hitler, Dönitz, and the Baltic Sea, Naval Institute Press, 2007, ISBN 1-59114-345-4. p. 121

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Geoffrey P. Megargee: Hitler und die Generäle. Das Ringen um die Führung der Wehrmacht 1933–1945. Schöningh, Paderborn u. a. 2006, ISBN 3-506-75633-8 (OT: Inside Hitler's High Command. University Press of Kansas, Lawrence KS 2000, ISBN 0-7006-1015-4 (Modern war studies)).
  • Hans-Albert Hoffmann: Die deutsche Heeresführung im Zweiten Weltkrieg. Friedland 2011, ISBN 978-3-942477-08-6.
  • "Not the Stuff of Legend: The High Command of German in World War II" - bài giảng của Tiến sĩ Geoffrey Megargee, tác giả cuốn Inside Hitler's High Command, có tại kênh YouTube chính thức của Trung tâm Giáo dục và Di sản Quân đội Hoa Kỳ