Bột (vật liệu hạt)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Bộtvật liệu hạt với kích thước hạt nằm giữa cátsét, có nguồn gốc khoáng vậtthạch anh[1]feldspat. Bột có thể xuất hiện dưới dạng đất (thường trộn với cát hoặc sét) hoặc dưới dạng trầm tích ở trạng thái huyền phù khi trộn lẫn với nước (còn được gọi là bùn cát lơ lửng) và đất bùn/bùn trong một vùng nước, chẳng hạn như trong một con sông. Nó cũng có thể tồn tại dưới dạng đất trầm lắng xuống đáy một vùng nước, như dòng chảy bùn từ các vụ lở đất. Bột có diện tích bề mặt riêng vừa phải với cảm giác dẻo nhưng không dính. Bột thường tạo ra cảm giác giống như bột ngũ cốc/bột thực phẩm khi khô và cảm giác trơn trượt khi ướt. Người ta có thể quan sát bột bằng thấu kính cầm tay, với vẻ ngoài lấp lánh. Nó cũng có thể cảm nhận được bằng lưỡi giống như hạt khi đặt trên các răng cửa (ngay cả khi trộn với các hạt sét).

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

Bột được một loạt các quá trình vật lý có khả năng chia tách các tinh thể thạch anh có kích thước nói chung là cát của các loại đá nguyên sinh tạo ra bằng cách khai thác các khiếm khuyết trong mạng tinh thể của chúng.[2] Các quá trình này liên quan tới phong hóa hóa học của đá[3]lớp đất mặt, cũng như một số quá trình phong hóa vật lý như phong hóa sương muối[4]sinh mảnh vụn do muối.[5] Các quá trình chính là mài mòn thông qua vận chuyển, bao gồm tán nhỏ trong các quá trình sông, cọ mòn trong quá trình gió và nghiền sông băng.[6] Lượng bột đáng kể được tạo ra trong các môi trường bán khô hạn.[7] Bột đôi khi được gọi là "bột đá" hoặc "bụi đá", đặc biệt khi nó được tạo ra dưới tác động của sông băng. Về mặt khoáng vật học, bột chủ yếu bao gồm thạch anhfeldspat. Đá trầm tích bao gồm chủ yếu là bột được gọi là bột kết. Sự hóa lỏng được tạo ra từ những trận động đất mạnh là bột lơ lửng trong nước bị đẩy lên trên từ dưới mặt đất bằng thủy động lực.

Kích thước hạt[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thang Udden–Wentworth được Krumbein sửa đổi thì bột là các hạt có kích thước từ 0,0039 đến 0,0625 mm, lớn hơn các hạt sét nhưng nhỏ hơn các hạt cát, tương đương với giá trị của φ từ 4 tới 8 trên thang Krumbein. ISO 14688 phân loại bột là hạt có kích thước từ 0,002 mm đến 0,063 mm (chia nhỏ ra thành ba loại con là mịn, vừa và thô; tương ứng là 0,002 mm đến 0,006 mm, 0,006 mm đến 0,020 mm và 0,020 mm đến 0,063 mm). Trong thực tế, bột là khác biệt hóa học với sét, và không giống như sét, các hạt bột là xấp xỉ về kích thước theo mọi hướng; ngoài ra, các khoảng kích thước của chúng là chồng lấn lên nhau. Các hạt sét được hình thành từ các hạt dạng tấm mỏng được giữ cùng nhau bằng các lực tĩnh điện, nên chúng thể hiện sự cố kết. Bột thuần túy là không cố kết. Theo hệ thống phân loại kết cấu đất của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) thì sự khác biệt cát–bột là ở mức cỡ hạt 0,05 mm.[8] Hệ thống của USDA từng được Tổ chức Nông lương Liên Hiệp Quốc (FAO) phê chuẩn. Trong Hệ thống Phân loại Đất Hợp nhất (USCS) và hệ thống phân loại đất AASHTO thì sự khác biệt cát–bột ở mức cỡ hạt 0,075 mm (nghĩa là vật liệu lọt qua sàng cỡ mắt #200). Bột và sét được phân biệt về mặt cơ học theo độ dẻo của chúng.

Ảnh hưởng môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

Một hồ bùn (bột) ở Eichhorst, Đức.

Bột dễ dàng vận chuyển trong nước hay các chất lỏng khác và là đủ mịn để có thể vận chuyển đi xa nhờ gió dưới dạng bụi. Các lớp lắng đọng dày của vật liệu bột sinh ra từ trầm lắng nhờ các quá trình gió thường được gọi là hoàng thổ. Vật liệu bột và sét góp phần vào độ đục của nước. Bột cũng được vận chuyển trong các dòng chảy trong các đại dương. Khi bột xuất hiện dưới dạng chất gây ô nhiễm trong nước thì người ta gọi hiện tượng này là lắng đọng bùn.

Bột trầm lắng trong các trận lũ lụt hàng năm dọc theo sông Nin đã tạo ra loại đất màu mỡ góp phần duy trì văn minh Ai Cập cổ đại. Bột trầm lắng trong sông Mississippi trong suốt thế kỷ 20 đã giảm đi do hệ thống đê điều, góp phần làm biến mất các vùng đất ngập nước phòng hộ và các đảo chắn trong vùng châu thổ sông Mississippi xung quanh New Orleans.[9]

Tại đông nam Bangladesh, trong huyện Noakhali, các đập chữ thập được xây dựng trong thập niên 1960 nhờ đó bột/bùn dần dần bồi đắp thành các vùng đảo mới, gọi là "char". Huyện Noakhali đã mở rộng trên 73 kilômét vuông (28 dặm vuông Anh) đất đai trong vòng 50 năm qua.

Với sự tài trợ của Hà Lan, chính quyền Bangladesh bắt đầu hỗ trợ phát triển các char cũ vào cuối thập niên 1970, và kể từ đó thì nỗ lực này đã trở thành hoạt động liên tổ chức trong xây dựng cơ sở hạ tầng, như đường xá, cống nước, bờ bao, trường học, nơi tạm trú tránh bão, nhà vệ sinh, ao cũng như chia cấp đất cho những người định cư.[10] Tại thời điểm năm 2020, giai đoạn IV của Dự án Phát triển và Định cư Char (CDSP) dự kiến cấp khoảng 300 kilômét vuông (70.000 mẫu Anh) cho 28.000 hộ gia đình với 155.000 nhân khẩu.[10]

Một trong những nguồn sinh bột chính của các con sông chảy qua vùng đô thị là sự xáo trộn đất do hoạt động xây dựng,[11] còn đối với những con sông chảy qua vùng nông thôn là sự xói mòn do hoạt động cày bừa đồng ruộng, phát quang rừng hay đốt phá rừng.

Trong đời sống[sửa | sửa mã nguồn]

Bùn hay đất bùn trong đời sống thông thường là hỗn hợp lỏng hay bán lỏng của nước và đất bột hoặc trầm tích bột. Nói theo thuật ngữ địa chất thì bùn là hỗn hợp của nước với các hạt bột hay sét và/hoặc hệ keo (colloid). Các trầm tích bột cổ bị cứng lại theo thời gian địa chất để tạo ra bột kết, một thành phần của đá bùn hay nê nham.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Lớp đất bùn đen màu mỡ dọc theo hai bờ sông Nin được coi là biểu tượng của sự tái sinh, gắn với vị thần Ai Cập cổ đại Anubis.[12][13]

Để biết thêm chi tiết hãy tìm anh Hà Ngọc Gia Hưng :))).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phương tiện liên quan tới Bột tại Wikimedia Commons
  1. ^ Assallay, A. (tháng 11 năm 1998). “Silt: 2–62 μm, 9–4φ”. Earth-Science Reviews 45 (1–2): 61–88. Bibcode:1998ESRv...45...61A. doi:10.1016/S0012-8252(98)00035-X. 
  2. ^ Moss, A. J.; Green, Patricia (1975). “Sand and silt grains: Predetermination of their formation and properties by microfractures in quartz”. Journal of the Geological Society of Australia 22 (4): 485–495. Bibcode:1975AuJES..22..485M. doi:10.1080/00167617508728913. 
  3. ^ Nahon, D.; Trompette, R. (tháng 2 năm 1982). “Origin of siltstones: glacial grinding versus weathering”. Sedimentology 29 (1): 25–35. Bibcode:1982Sedim..29...25N. doi:10.1111/j.1365-3091.1982.tb01706.x. 
  4. ^ Lautridou, J. P.; Ozouf, J. C. (19 tháng 8 năm 2016). “Experimental frost shattering”. Progress in Physical Geography 6 (2): 215–232. doi:10.1177/030913338200600202. 
  5. ^ Goudie, A. S.; Watson, A. (tháng 1 năm 1984). “Rock block monitoring of rapid salt weathering in southern Tunisia”. Earth Surface Processes and Landforms 9 (1): 95–98. Bibcode:1984ESPL....9...95G. doi:10.1002/esp.3290090112. 
  6. ^ Wright, J.; Smith, B.; Whalley, B. (tháng 5 năm 1998). “Mechanisms of loess-sized quartz silt production and their relative effectiveness: laboratory simulations”. Geomorphology 23 (1): 15–34. Bibcode:1998Geomo..23...15W. doi:10.1016/S0169-555X(97)00084-6. 
  7. ^ Haberlah, D. (tháng 6 năm 2007). “A call for Australian loess”. Area 39 (2): 224–229. doi:10.1111/j.1475-4762.2007.00730.x. 
  8. ^ “Particle Size (618.43)”. National Soil Survey Handbook Part 618 (42-55) Soil Properties and Qualities. United States Department of Agriculture - Natural Resource Conservation Service. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2006. 
  9. ^ “Mississippi River”. USGS Biological Resources. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2005. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2006. 
  10. ^ a ă Char Development and Settlement Project Phase IV.
  11. ^ Leedy, Daniel L.; Franklin, Thomas M.; Maestro, Robert M. (1981). Planning for Urban Fishing and Waterfront Recreation (bằng tiếng Anh). U.S. Department of the Interior, Fish and Wildlife Service, Eastern Energy and Land Use Team. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2017. 
  12. ^ Hart, George (1986), A Dictionary of Egyptian Gods and Goddesses,  – via Questia (cần đăng ký mua), London: Routledge & Kegan Paul, ISBN 9780415344951. , tr. 22.
  13. ^ Freeman, Charles (1997), The Legacy of Ancient Egypt, New York: Facts on File, ISBN 9780816036561. , tr. 91.