Bahá'í tại Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đại hội đại biểu Cộng đồng tôn giáo Baha'i tại Đà Nẵng năm 2009

Tôn giáo Bahá'í được giới thiệu lần đầu tiên vào Việt Nam trong những năm 1920, sau khi Abdu'l-Baha đặt tên Đông Dương thuộc Pháp làm điểm đến tiềm năng cho giáo viên của Baha'i.[1] Sau một số chuyến viếng thăm ngắn từ các giáo viên du lịch trong suốt nửa đầu của thế kỷ 20,[2][3][4] nhóm Bahá'i đầu tiên ở Việt Nam được thành lập tại Sài Gòn vào năm 1954, với sự xuất hiện của Shirin Fozdar, một nữ tín đồ người Ấn Độ.[5][6]

Những năm 1950 và 1960 được đánh dấu bởi những thời kỳ tăng trưởng nhanh; Mặc dù cuộc chiến đang diễn ra đang ảnh hưởng đến đất nước, dân số Bahá'i đã lên tới khoảng 95.000 người ủng hộ vào năm 1975, với một số ước tính đạt 200.000 người.[6][7] Trong thời gian này, cộng đồng Baha'i đã hoàn thành nhiều công việc từ thiện, cung cấp chương trình giáo dục cho trẻ em ở nông thôn, cứu trợ thiên tai ở các khu vực bị ảnh hưởng bởi bão... Cộng đồng Bahá'i cũng tích cực trong việc thúc đẩy sự hòa hợp giữa các tôn giáo vào thời điểm xung đột tôn giáo tàn phá đất nước. Cộng đồng đã tổ chức Ngày Tôn giáo Hoàn cầu hàng năm, liên tục từ năm 1962 đến ngày đất nước thống nhất năm 1975, và các vị lãnh đạo tinh thần của các tôn giáo, các học giả, số đông tín đồ các tôn giáo đến tham dự.[6][8]

Sau khi kết thúc chiến tranh, Tôn giáo Bahá'í đã bị cấm từ năm 1978 đến năm 1992, dẫn đến sự sụt giảm số lượng cộng đồng. Cuối cùng, những hạn chế đã được nới lỏng và cộng đồng Baha'i đã có thể nộp đơn xin công nhận chính thức. Từ tháng 3 năm 2007, tôn giáo Bahá'í được chính phủ Việt Nam cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo với tên gọi "Cộng đồng Tôn giáo Bahá'í Việt Nam", và được điều hành bởi "Hội đồng tinh thần tôn giáo Bahá’í Việt Nam". Ngày 14 tháng 7 năm 2008, Ban Tôn giáo Chính phủ Việt Nam đã ký quyết định công nhận tổ chức đối với Cộng đồng tôn giáo Bahá’í Việt Nam.[7]

Hiện nay có hơn 8.000 tín đồ phân bố ở 45 tỉnh/thành phố, tập trung đông tại: Kiên Giang, Sóc Trăng, Hậu Giang, Cần Thơ, Thành phố Hồ Chí Minh, Ninh Thuận, Gia Lai, Đà Nẵng, Quảng Nam, Hà Nội.[7]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ `Abdu'l-Bahá (1991) [1916–17]. Tablets of the Divine Plan [Những Kinh bản về Kế hoạch Thiêng liêng] . Wilmette, Illinois, USA: Bahá'í Publishing Trust. tr. 40–42. ISBN 0877432333. 
  2. ^ “Hippolyte Dreyfus, apôtre d'Abdu'l-Bahá” [Hippolyte Dreyfus, Tông đồ của Đức Abdu'l-Baha]. Hội đồng Tinh thần tôn giáo Baha'i nước Pháp. Tháng 9 năm 2000. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  3. ^ M. R. Garis (1983). Martha Root: Lioness at the threshold [Martha Root: Một sư tử ở ngưỡng cửa]. Baha'i Publishing Trust. ISBN 0877431841. 
  4. ^ Root, Martha (tháng 5 năm 1924). “A Trip to Indo-China on a Cargo Boat” [Một chuyến đi đến Đông Dương trên một chiếc tàu hàng]. Star of the West 15 (2): 40. 
  5. ^ Sarwal, Anil (1989). “Shirin Fozdar: An Outstanding Pioneer” [Shirin Fozdar: Một người xung phong truyền giáo nổi bật]. Bahá'í Digest. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2008. 
  6. ^ a ă â Lược Sử Tôn Giáo Baha'i Tại Việt Nam: 50 Năm - Một Chặng Đường, 1954-2004. Cộng Đồng Tôn Giáo Baha'i Việt Nam. 2004. tr. 76. 
  7. ^ a ă â Nguyễn Xuân Huân. “Giới thiệu khái quát về tôn giáo Baha'i”. Ban Tôn giáo Chính phủ Việt Nam. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2017. 
  8. ^ “Ngày Tôn giáo Hoàn cầu: Tạo sự thống nhất giữa các tôn giáo”. Cộng Đồng Tôn Giáo Baha'i Việt Nam. Ngày 8 tháng 3, 2017. Truy cập Ngày 6 tháng 8, 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]