Bangtan Boys

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bangtan Boys
방탄소년단
Bangtan Boys in October 2013.jpg
Từ trái sang: V, Suga, Jin, JungKook, Rap Monster, Jimin, J-Hope
Thông tin nghệ sĩ
Nghệ danh BTS, Bulletproof Boy Scouts, Bangtan Sonyeondan
Nguyên quán Seoul, Hàn Quốc
Thể loại Hip-hop
Năm hoạt động 2013–nay
Hãng đĩa Big Hit Entertainment
Website Official website
Thành viên hiện tại
Jin
Suga
J-Hope
Rap Monster
Jimin
V
Jung Kook
Bangtan Boys
Hangul 방탄소년
Hanja 防彈少年
Romaja quốc ngữ Bangtansonyeondan
Hangugeo-Chosonmal.png
Bài viết này có chứa các ký tự Triều Tiên. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các ký tự Chosŏn'gŭl hay Hanja.

Bangtan Boys (Tiếng Hàn: 방탄소년단, Tiếng Nhật: 防弾少年団, Tiếng Trung: 防彈少年团, Hán-Việt: Phòng Đạn Thiếu Niên Đoàn) còn được gọi là BTS (viết tắt của Bangtan Sonyeondan). Tên tiếng Anh là Bulletproof Boy Scouts. Ngoài ra nhóm có cái tên khác được fandom Việt Nam đặt tên là Đoàn Thiếu Niên Chống Đạn.

BTS là một nhóm nhạc hip-hop của Hàn Quốc gồm 7 thành viên chính thức ra mắt vào 13/06/2013 do chủ tịch của Big Hit Entertainment là Bang Sihyuk thành lập nên. Nhóm trực thuộc 2 công ty quản lí: Big Hit Entertainment (Hàn Quốc); Pony Canyon (Nhật Bản)

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi xuất hiện[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thành viên đầu tiên của Bangtan Boys được tuyển chọn thông qua cuộc thi thử giọng "Big Hit'" của Big Hit được tổ chức năm 2010 và 2011. Đây là cuộc thi thử giọng toàn quốc, mọi người được tuyển chọn ngay tại chính quê hương của mình, giống như Jimin và Jungkook đến từ Busan, V và Suga đến từ Daegu. Khi đang học lớp 7, Jungkook tham gia cuộc thi thử giọng Superstar K3 và được Big Hit tuyển chọn sau khi rời khỏi cuộc thi. Anh được đào tạo ở Movement Lifestyle tại LA trong suốt mùa hè năm 2012. Jimin theo học trường Nghệ thuật Busan và tham gia khóa học nhảy hiện đại. Anh được tuyển chọn thông qua một cuộc thử giọng riêng. Trước khi tham gia thử giọng, Jin đang là học sinh chuyên ngành diễn xuất. Rap Monster khi đó đang hoạt động dưới danh nghĩa là một rapper underground. Anh cũng đã cho ra một vài sản phẩm riêng bao gồm cả sản phẩm hợp tác cùng Zico. Nghệ danh trước đây của anh là "Runch Randa". J-Hope từng là thành viên nhóm nhảy đường phố Nueron trước khi trở thành thực tập sinh và đoạt nhiều giải thưởng trong các dance festival ở Gwangju. Sau đó, anh theo học trường Nghệ thuật Hàn Quốc. J-Hope góp mặt trong "Animal" của Jokwon với vai trò rapper.
  • Ban đầu dự định ra mắt năm 2010 nhưng sau đó đã bị hoãn lại do các thành viên rời bỏ nhóm, chỉ còn lại duy nhất Rap Monster. Sau đó mới gia nhập thêm 6 thành viên như bây giờ, Jimin là thành viên cuối cùng tham gia nhóm. J-Hope từng góp giọng trong ca khúc "Animal", thuộc single solo đầu tay của đàn anh cùng công ty Jo Kwon 2AM. Trừ Rap Monster và Jimin, 5 thành viên còn lại cũng xuất hiện trong MV "I'm Da One" của Jokwon. Nhóm cũng từng tham gia vào những ca khúc của Lee Hyun (8eight), Kan Miyeon (Baby V.O.X), Lee Seunggi và concert của đàn chị Lim Junghee.
  • Trước khi ra mắt, nhóm đã phát hành 2 ca khúc cover. Ca khúc "Drank" của Kendrick Lamar được 3 thành viên Jin, Rap Monster và Suga cover với tên "School of Tears" - bài hát nói về xã hội hiện đại cũng như áp lực, bệnh thành tích ở trường học. Ba thành viên khác là Jimin, J-Hope và JungKook cover "Young, Wild and Free" của Wiz Khalifa thành ca khúc "Graduation Song". Riêng thành viên V lại được giữ bí mật cho đến khi trailer teaser ra mắt.
  • Trước khi chính thức ra mắt, nhóm nhận được sự quan tâm lớn của công chúng không chỉ bởi cái tên đặc biệt "Bangtan Boys", mà còn bởi dòng nhạc rap/hip-hop mà nhóm theo đuổi. Với Bangtan Boys, hip-hop là phương tiện truyền tải những câu chuyện, tâm tư của nhóm với công chúng. Chính vì vậy mà không có gì đáng ngạc nhiên khi toàn bộ các ca khúc của Bangtan Boys đều do các thành viên tự sáng tác, soạn lời và sản xuất.

2013[sửa | sửa mã nguồn]

Debut single "2 COOL 4 SKOOL"[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trailer debut đầu tiên được phát hành vào ngày 26 - 5 - 2013. Ngày 2 - 6, teaser hình ảnh đầu tiên của thành viên V được đăng tải trên trang web chính thức của Bangtan Boys [1]. Tiếp sau đó, ngày 3 - 6 là teaser hình ảnh các thành viên V, Jin, Jimin và JungKook[2]. Cuối cùng, ngày 6 - 6 teaser của ba thành viên còn lại: J-Hope, Suga, và Rap Monster được công bố[3].
  • Ngày 6 và ngày 9 - 6, BTS tung ra 2 trailer giới thiệu cho ca khúc chủ đề "No More Dream" - nằm trong Debut single "2 COOL 4 SKOOL" của nhóm phát hành ngày 11 - 6. Bài hát được đánh giá cao khi theo đuổi phong cách độc đáo và cá tính, dù đây không phải là hình tượng mới lạ tại K-pop, song MV này đã tạo được màu sắc riêng với giọng rap cực ngầu cùng giai điệu mạnh mẽ, nam tính, lời ca trẻ trung có chút bất cần. Single này cũng đã đạt vị trí No.1 trên bảng xếp hạng thường nhật Hanteo.
  • Nhóm chính thức ra mắt trong showcase hoành tráng ngày 12 - 6. Sân khấu debut đầu tiên là M!Countdown ngày 13 - 6. Sau đó Big Hit còn tung ra 3 phiên bản: Dance (ngày 16 - 6), BTS luyện tập vũ đạo (ngày 20 - 6) và phiên bản Behind The Scenes (ngày 22 - 6) của "No More Dream".
  • Ngày 16 - 7 BTS đã phát hành một MV mới cho ca khúc "We Are Bulletproof Pt.2" của mình. "We Are Bulletproof Pt.2" là ca khúc thứ hai nằm trong đĩa đơn "2 COOL 4 SKOOL", chủ yếu khoe những vũ đạo khéo léo của họ. Và MV Dance.Ver của ca khúc này cũng đã được phát hành ngày 26 cùng tháng.

Japanese debut single "2 COOL 4 SKOOL"[sửa | sửa mã nguồn]

  • Album debut tại Nhật của nhóm "2 Cool 4 Skool" được phát hành vào ngày 23 tháng 4. Đĩa đơn đầu tiên là phiên bản tiếng Nhật của "No More Dream" được phát hành vào ngày 04/06/2014. Nó đạt vị trí thứ trong bảng xếp hạng hàng tuần của Oricon[4], bán được hơn 34.000 bản.

1st Mini Album "O! RUL8,2?" (Oh! Are You Late, Too?)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Comeback trailer của BTS đăng tải trên kênh YouTube chính thức của Big Hit vào ngày 27 - 8 với những hình ảnh ấn tượng in biểu tượng BTS cùng giọng rap mạnh mẽ của Rap Monster, kết thúc trailer là tiêu đề mini album được viết bằng màu đỏ nổi bật trên nền trắng. Ngày 4 - 9 concept trailer được đăng tải với vũ đạo mạnh mẽ, đẹp mắt và beat nhạc dồn dập. Sau 2 teaser và bản nghe thử album (ngày 8 - 9) được tung ra, Bangtan Boys đã comeback với 1st Mini Album "O! RUL8,2?" (Oh! Are You Late, Too?) với bài hát chủ đề "N.O" phát hành ngày 11 - 9.
  • Sau khi kết thúc sân khấu quảng bá "N.O" cuối cùng trên Inkigayo (ngày 20 - 10). BTS quay lại các show âm nhạc hàng tuần với "Attack on Bangtan" (진격의 방탄) (trích trong 1st Mini Album) vào ngày 6 - 11 trên sân khấu của Show Champion. Họ kết thúc loạt quảng bá này ngày 17 - 11.

2014[sửa | sửa mã nguồn]

Mini album vol.2 "Skool Luv Affair"[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 12 - 2 - 2014, nhóm đã cho ra mắt mini album thứ 2 mang tên "Skool Luv Affair" với bài hát chủ đề là "Boy In Luv" được sản xuất bởi các nhạc sĩ, producer và 2 thành viên của nhóm là leader Rap Monster và Suga. Ca khúc đã được đề cử No.1 trên SBS Inkigayo và là ca khúc đầu tiên của nhóm được đề cử trong chưa đầy một năm ra mắt.
  • Album "Skool Luv Affair" của BTS nằm trong danh sách những album có sức ảnh hưởng rất lớn tại thời điểm phát hành.[5]

Full album vol.1 "Dark&Wild"[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 20 - 8, nhóm ra phát hành album phòng thu đầu tiên là "Dark&Wild" bao gồm 14 bài hát. Album này đã bán được bán được hơn 109.098 bản. Trong đó, bài hát chủ đề lần này là Danger. Nhạc sĩ Thanh Bùi tham gia sáng tác cùng công ty quản lí cho ca khúc "Danger"
  • 21/10/2014 phát hành MV "War of Hormone", một track trong album "Dark&Wild"

1st Japanese studio album "Wake up" - 2nd Japanese Single[sửa | sửa mã nguồn]

  • Album được phát hành ngày 24/12/2014 với 13 ca khúc, bao gồm cả các phiên bản tiếng Nhật của "No More Dream", "Boy in Luv" và "Danger", hai bài hát tiếng Nhật "The Stars" và "Wake Up".
  • 2nd Single là phiên bản tiếng Nhật của ca khúc "Boy In Luv" được phát hành vào ngày 16/07/2014. Nó đạt vị trí thứ tư trong bảng xếp hạng hàng tuần của Oricon[6] và bán được hơn 44.001 bản[7] bao gồm một phiên bản tiếng Nhật của "N.O", " Just One Day".

3rd Japanese Single[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phiên bản Nhật của "Danger" được phát hành vào ngày 19/11/2014. Nó đạt vị trí thứ năm trong bảng xếp hạng hàng tuần của Oricon, bán 49.124 bản trong tuần đầu tiên[8]. Các đơn đã được phát hành bao gồm phiên bản SONPUB remix tiếng Nhật của "Attack on Bangtan" ("進 撃 の 防 弾") và phiên bản tiếng Nhật của "Miss Right"

2015: Hwa Yang Yeon Hwa (Hoa dạng niên hoa)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hwa Yang Yeon Hwa nghĩa là quãng thời gian đẹp nhất của cuộc đời.
  • Hwa Yang Yeon Hwa (Hoa dạng niên hoa) là dự án bao gồm 2 mini-album có sự kết nối với nhau, nó về "tuổi thanh xuân" thể hiện khoảng thời gian tươi đẹp nhất trong đời người với cả hai sắc thái rực rỡ và u tối. Ý tưởng này đã được ấp ủ trong một thời gian dài. Hwa Yang Yeon Hwa Pt.1 được phát hành vào 29/04/2015, Pt.2 được ra mắt vào 30/11/2015 và Hwa Yang Yeon Hwa: Young Forever được phát hành ngày 2/5/2016
  • Từ 01/12/2015 - 08/12/2015 Big Hit Entertainment đã mở triển lãm Butterfly Dream tiết lộ hậu trường, những thước ảnh độc quyền, quá trình quay phim và chụp ảnh cho album...Đặc biệt trình chiếu MV I Need U + Prologue + MV Run để Hwa Yang Yeon Hwa trở thành một thước phim xuyên suốt.

Mini album vol.3 "Hwa Yang Yeon Hwa Pt.1 - The Most Beautiful Moment In Life Pt. 1"[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 29 - 4 - 2015, nhóm phát hành mini album vol.3 "Hwa Yang Yeon Hwa Pt.1" (Hoa dạng niên hoa Pt.1) bao gồm 9 bài hát đều được sản xuất bởi các nhạc sĩ, producer và các thành viên của nhóm. Album lần này nói về tuổi thanh xuân - quãng thời gian đẹp nhất trong cuộc đời nhưng đồng thời cũng rất u ám, thể hiện mặt tối của quãng thanh xuân ấy. Trong đó bài hát chủ đề là "I Need U". Sau khi phát hành, bài hát "I Need U" đã No.1 real time trên Genie, Daum Music, Soribada... và cũng nằm trong Top 10 real time Digital trên Melon, Bugs và Naver Music. Ca khúc đã mang về cho nhóm những chiến thắng đầu tiên trong các chương trình âm nhạc.
  • Album "Hwa Yang Yeon Hwa Pt.1" của BTS đứng thứ 10 ở bảng xếp hạng top 20 album bán chạy nhất thế giới "World's Top 20 Best-selling Albums" của World Music Awards.
  • Kênh truyền hình Mỹ Fuse TV đã công bố danh sách 27 album đỉnh nhất trong nửa đầu năm 2015. Cùng với album “Hwa Yang Yeon Hwa Pt.1 (The Most Beautiful Moment In Life)”, BTS đã trở thành đại diện duy nhất của Hàn Quốc sánh vai cùng hàng loạt tên tuổi quốc tế như Kendrick LamarCiaraFall Out BoyDrake, Calvin Harris… trong danh sách do Fuse TV bình chọn[9]. Đại diện Jeff Benjamin của Fuse TV đánh giá: “Thông qua “Hwa Yang Yeon Hwa Pt.1” BTS đã tìm được sự cân bằng, cũng như xây dựng được một thế giới âm nhạc vững chắc riêng của bản thân”.
  • Ngày 24 - 6 - 2015 BTS đã phát hành một MV mới cho ca khúc "Dope", nhận được 1,000,000 trong vòng chưa đầy 15 giờ[10]. Ca khúc là track 5 trong album "Hwa Yang Yeon Hwa Pt.1" với giai điệu gây nghiện và vũ đạo được coi là nhanh nhất từ khi ra mắt đến giờ của họ.
  • Bảng Xếp Hạng Gaon: '"Top 15 Lượng Sale Album Nhiều Nhất Của Nghệ Sĩ" nửa đầu năm 2015, cùng "Hwa Yang Yeon Hwa Pt.1" BTS đã đứng thứ 3 sau Big BangEXO với 196,620 bản đồng thời giúp Big Hit Entertainment đứng thứ 3 sau SM EntertainmentYG Entertainment trong '"Top 10 doanh số album nhiều nhất của các công ty"
  • BTS "Dope" MV đứng #4 ở Mĩ và #8 thế giới trong BXH MV K-pop được xem nhiều nhất Youtube tháng 6 - 2015.
  • "Dope" đứng vị trí thứ 3 trên  Billboard's World Digital Chart dù đã được phát hành 2 tháng trước đó.[11]
  • Theo bảng thống kê của Billboard về những bài hát của Kpop có lượng digital lớn nhất và MV Kpop có lượt xem cao nhất trong mùa hè 2015: "Dope" #9 và "I Need U" #14 trên top 20 bài hát Kpop có lượng digital lớn nhất thế giới[12]

Mini album vol.4 "Hwa Yang Yeon Hwa Pt.2 - The Most Beautiful Moment In Life Pt. 2"[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 30- 11- 2015, nhóm phát hành mini-album vol.4 "Hwa Yang Yeon Hwa Pt.2" (Hoa dạng niên hoa Pt.2) hay "The Most Beautiful Moment In Life Pt.2" tiếp nối mini-album vol.3 "Hwa Yang Yeon Hwa Pt.1 gồm 9 bài hát. Hwa Yang Yeon Hwa Pt.2 là mảnh ghép hoàn thiện bức tranh "tuổi trẻ vừa tươi đẹp vừa đau buồn" mà BTS đã vẽ ra từ 29/04/2015. Bài hát chủ đề là RUN, ngay một giờ sau khi phát hành bài hát đã đứng #1 real time trên MelOn, Mnet, Bugs, Olleh, Naver, Genie, Monkey3, #2 trên Soribada. Đồng thời tất cả các bài trong album lần này đều lọt vào top 10 của MelOn, Genie, Bugs và Itunes Mĩ. ‪#‎RUNwithBTS‬ No.1 top trend thế giới.
  • 18/11/2015 trailer comeback Never Mind xuất xưởng. Chỉ vài phút sau đó #Nevermind đã lọt vào top trend thế giới, Hàn và Thái, No.1 tìm kiếm trên Naver.
  • 22/11/2015 và 23/11 phát hành hai bộ ảnh Je Ne Regrette (Tiếng Pháp: "Tôi chẳng hối tiếc điều gì") và Papillon (Tiếng Pháp: "Cánh bướm") Khác với Hwa Yang Yeon Hwa Pt.1 cả hai bộ ảnh trong Hwa Yang Yeon Hwa Pt.2 đều mang màu sắc tươi sáng. Je Ne Regrette ca ngợi tinh thần sống hết mình, có chút nổi loạn như hình ảnh BTS băng qua đường dù đèn đỏ đang bật. Trong khi đó Papillon lại vẽ lên một khu rừng cổ tích với khung cảnh thần tiên. Je Ne RegrettePapillon ráp vào nhau như sự đối lập giữa cuộc sống thực tại và hư ảo.
  • Ngay khi chưa phát hành album, lượng pre-order Hwa Yang Yeon Hwa Pt.2 đã vượt quá 150.000 bản
  • Album "HwangYangYeonHwa pt.2" hạ cánh tại vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng Worldwide iTunes Music Chart của Mỹ. Được biết, đây là thứ hạng cao nhất từ trước tới giờ của một nghệ sĩ châu Á. PSY và BTS là hai cái tên duy nhất của Hàn Quốc có mặt tại đây.
  • MV "RUN" của BTS lọt vào top 10 trên bảng xếp hạng iTunes[13]
  • Doanh số album "Hwa Yang Yeon Hwa Pt.2 trong tuần đầu tiên đã là 81,498 bản. Theo như bảng xếp hạng của Hanteo, đây là lượng album được bán nhiều thứ 2, sau EXO trong tuần đầu tiên[14]
  • Ngày 18/12, RUN và HYYH pt2 chính thức đạt vị trí No1 tại BXH Kpop Chart của iTunes Mỹ hạng mục ca khúc và album. Sau khi cán mốc No.1 tại Mỹ, RUN đã nhanh chóng nắm giữ Top 2 BXH iTunes của các quốc gia như Phần Lan, Việt Nam, Pháp, Malaysia.
  • Cho đến ngày 20/12 (hết tuần thứ 3 của tháng 12), tổng số album được tiêu thụ trong năm là 525.735 bản (Hwa Yang Yeon Hwa Pt.1 và Pt.2), xếp thứ 2 sau EXO. Điều tra cộng đồng fan cho thấy, lượng đề cập của nhóm chỉ xếp sau nhóm nhạc tiền bối EXO. Qua đó, fandom A.R.M.Y cũng đã cho thấy những hoạt động tích cực và sức ảnh hưởng với lượng album bán ra.
  • The Most Beautiful Moment in Life Pt.2, xếp thứ nhất BXH Billboard Album Thế giới (trừ Mỹ) 4 tuần liên tiếp và nằm trong top10 của BXH này trong 15 tuần liên tiếp nữa.

4th Japanese single "For You"[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phát hành 04/06/2015, kỷ niệm 1 năm debut tại Nhật của họ[15]. MV "For You" cũng được phát hành vào cùng ngày. Single đã leo lên đầu bảng xếp hạng hàng ngày của Oricon, bán 42.611 bản trong ngày đầu tiên[16]

2016[sửa | sửa mã nguồn]

Special album: Hwa Yang Yeon Hwa: Young Forever[sửa | sửa mã nguồn]

Phát hành ngày 02/05/2016, là album kết thúc của chuỗi Hwa Yang Yeon Hwa.

Có 3 MV được phát hành là Young Forever, bài hát chủ đề FIRESave ME

Album có 2 phiên bản: Day và Night.

Mỗi album có 2 CD gồm các tất cả các bài hát trong album Hwa Yang Yeon Hwa , các bản remix của các ca khúc đó và những bài hát mới.

Hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tháng 6 - 2013, BTS sang L.A (Los Angeles, USA) để học tập thêm về hip-hop cho ca album mới của họ. Trong 3 tuần học tập tại L.A, BTS được gặp các rapper huyền thoại như Warren G, Coolio. Ekip và nhân viên đã ghi lại quá trình học tập tại L.A để làm thành chương trình thực tế " American Hustle Life". Không lâu sau, họ tham gia vào sự kiện KCON của Hàn Quốc cũng tại L.A cùng các nhóm nhạc thần tượng khác như SNSD, G-Dragon,...
  • BTS có một chương trình tạp kĩ của riêng họ mang tên "Rookie King BTS: Channel Bangtan" (신인왕: 방탄 소년단). Phát sóng thứ ba hàng tuần trên SBS MTV, bắt đầu từ ngày 3 - 9 - 2013[17]
  • Ngày 30 - 11 - 2013: BTS được mời tham gia “7color Concert” tại Thái Lan, đã có hơn 8 nghìn fan tới ủng hộ họ.
  • BTS đã làm CF cho V app cùng các idol tên tuổi như Big Bang, Wonder Girls, Girls Day, Winner,... tập đầu tiên lên sóng vào 1 - 8 - 2015. Họ đã có hơn 160.000 fans trên V app chỉ trong vòng ngày đầu tiên và giữ vị trí #1[18], ngoài ra BTS cũng thắng hạng mục " Người nổi tiếng được yêu thích nhất " trên V app do fan bình chọn tại KCON 2015 LA.
  • Rap Monster đã phát hành mixtape với 18 track. Ngoài ra, vào ngày 4 - 8 - 2015, Rap Monster phát hành single nhạc số với tên gọi " Fantastic" cho bộ phim FANTASTIC 4[19]
  • Như đã hứa, để bày tỏ lòng biết ơn của mình tới các fan vì đã dành được #1 với "I NEED U" trong đợt quảng bá " Hwa Yang Yeon Hwa Pt.1" BTS đã cùng xem phim "FANTASTIC 4" với 216 fans may mắn vào 7PM KST 12/08/2015 tại rạp CGV Wangsimi[20]
  • Trong một cuộc khảo sát do fan bình chọn được tổ chức bởi KFM, BTS được chọn là nhóm nhạc K-pop có bài hát nghe nhiều nhất tại châu Âu.[cần dẫn nguồn]
  • MTV EMA 2015: BTS là người chiến thắng ở mục 2015 Best Korean Act ở MTV EMA 2015

2016 Vào ngày 02.05 nhóm trở lại với Album mang tên Young Forever với ca khúc chủ đề Fire ngay khi ra mắt ca khúc nhận được nhiều lời khen ngợi khi cán mốc 3 triệu view trong chưa đầy 24h và đây cũng là phần kết với những thông điệp cuối cùng gửi đến tuổi trẻ. Ngay trong tuần đầu tiên Album đã vượt qua con số 100.000 bản Nhóm lần đầu tiên được tổ chức concert tại SVĐ Olympic Gymnastics với hai đêm diễn vào 7-8.05.2016. Toàn bộ vé được tiêu thụ trong 30 phút

Nghệ thuật và âm nhạc ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Hình tượng và phong cách âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hình tượng của nhóm được thể hiện linh hoạt rất khác nhau, từ những cậu bé chơi bời đến những hình tượng trẻ trung. Họ tập trung chủ yếu vào thể loại Hip-hop hấp dẫn giới trẻ. MTV's Corynn Smith đã nhận định rằng BTS kết hợp Hip-hop và Rock là yếu tố truyền cảm hứng âm nhạc cực tinh tế trong các single của họ. Và quan trọng là họ không ngừng tìm hiểu về nguồn gốc của Hip-hop và trau dồi nó.

Sản xuất nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trong cuộc phỏng vấn cho Cuvism Magazine, BTS đã nói rằng "Bangtan Boys" có nghĩa là "ngăn chặn những viên đạn của thế giới", nhóm mong muốn viết nhạc về sự áp bức của xã hội đối với giới trẻ cũng như lời bài hát của họ liên quan đến giới trẻ. J-Hope cho biết: "Tôi nghĩ rằng chúng tôi nhận được rất nhiều cảm hứng từ cuộc sống hàng ngày, chúng tôi viết nhạc về nhiều điều gần gũi thậm chí chúng tôi có thể viết ngay cả ở đây. Chúng tôi nhận được rất nhiều cảm hứng khi đi đến phòng tập và ngay cả khi chúng tôi ăn. Chúng tôi có xu hướng viết về những những điều nhỏ bé trong cuộc sống"
  • Họ viết nhạc như kể về cuộc sống của mình, họ thường viết về niềm đam mê, sở thích, những khó khăn trong quãng thời gian thực tập sinh hay về một kỉ niệm đáng nhớ nào đó. Tất cả những gì họ thể hiện trong bài hát của mình đều là những câu chuyện về chính những trải nghiệm thật của họ.
  • Trong tất cả các Album của mình, các thành viên của BTS đều tham gia sản xuất và viết lời.

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Tên khai sinh Tên chữ Hán Nghệ danh Ngày sinh Nơi sinh Vị Trí
김석진 Kim Seok Jin 金硕珍 Kim Thạc Trân 진 Jin 4/12/1992

( 24 tuổi )

Gyeonggido, Gwacheon Hát thứ chính, Visual
민윤기 Min Yoon Gi 闵玧其 Mẫn Doãn/Duẫn Kỳ 슈가 Suga 9/3/1993

( 23 tuổi )

Buk-gu, Daegu Rap dẫn , sáng tác
정호석 Jung Ho Seok 郑号锡 Trịnh Hiệu Tích 제이홉 J-Hope 18/2/1994

( 22 tuổi )

Gwangju Nhảy chính, Rap dẫn , sáng tác
김남준 Kim Nam Joon 金南俊 Kim Nam Tuấn 랩몬스터 Rap Monster 12/9/1994

( 22 tuổi )

Ilsan, Gyeonggi-do Rap chính. Trưởng nhóm , sáng tác
박지민 Park Ji Min 朴智旻 Phác Trí Mân 지민 Jimin 13/10/1995

( 21 tuổi )

Busan Hát dẫn , Nhảy dẫn
김태형 Kim Tae Hyung 金泰亨 Kim Thái Hanh 뷔 V 30/12/1995

( 21 tuổi )

Daegu Hát thứ chính
전정국 Jeon Jung Kook 田柾国 Điền Chính Quốc 정국 Jungkook 1/9/1997

( 19 tuổi )

Busan Hát chính, Nhảy dẫn, Rap phụ , Maknae, Center

PChuyến lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2014: O! RUL8,2? Showcase (Germany, Sweden, Brazil).
  • 2014: Music Bank in Mexico.
  • 2014: BTS 2014 TRILOGY LIVE EPISODE I. THE RED BULLET
Ngày Thành phố Quốc gia Địa điểm
BTS 2014 TRILOGY LIVE EPISODE 1. THE RED BULLET
1710 - 19/10/2014 Seoul Korea AX-KOREA
13/11 - 14/11/2014 Kobe Nhật Bản Kobe Kokusai Hall
16/11/2014 Tokyo Tokyo Kokusai Forum Hall
07/12/2014 Malina Philippines Moa Arena
13/07/2014 Singapore Singapore Star Theatre
20/12/2014 Bangkok Thailand Cown Hall
03/08/2015 Taipei Đài Loan New Taipei City Exhibition Hall
  • 2015: WAKE UP TOUR in JAPAN.
Ngày Thành phố Quốc gia Địa điểm
BTS 1st JAPAN TOUR 2015 WAKE UP: OPEN YOUR EYES
10/03/2015 Tokyo Nhật Bản Makuhari Messe Event Hall
11/03/2015
13/03/2015 Osaka Festival Hall
14/03/2015
17/03/2015 Nagoya Zepp Nagoya
19/03/2015 Fukuoka Zepp Fukuoka
Ngày Thành phố Quốc gia Địa điểm
BTS 2014 TRILOGY LIVE EPISODE 2. THE RED BULLET
06/06/2015 Kuala Lumpur Malaysia Mega Star Arena
10/07/2015 Sydney Australia Roundhouse
12/07/2015 Melbourne Plenary
16/07/2015 New York City United States Best Buy Theater
18/07/2015 Dallas Verizon Theatre
24/07/2015 Chicago Rosemont Theatre
26/07/2015 Los Angeles Club Nokia
29/07/2015 Mexico City México Pabellon Oeste
31/07/2015 Sao Paulo Brazil Audio
02/08/2015 Santiago Chile Movistar Arena
08/08/2015 Bangkok Thailand Muang Thong Thani
29/08/2015 Hongkong Hong Kong Asia World Expo
  • 2015 BTS Highlight Tour
Ngày Thành phố Quốc gia Địa điểm
22/09/2015 San Francisco United States Nourse Theater
24/09/2015 Houston House of Blues
26/09/2015 Atlanta Center Stage
27/09/2015 Toronto Canada Phoenix Concert Theatre
  • 방탄소년단 2015 BTS LIVE < 화양연화 on stage> 
Ngày Thành phố Quốc gia Địa điểm
27/11/2015 Seoul Korea SK Olympic Handball Gymnasium
28/11/2015
29/11/2015
08/12/2015 Yokohama Nhật Bản Yokohama Arena
09/12/2015
26/12/2015 Kobe Kobe World Hall
27/12/2015
  • Sự nổi tiếng của BTS một lần nữa lại được chứng minh tại Thái Lan.[5]

- Vào ngày 8 - 8 - 2015, BTS đã hoàn thành tour diễn "The Red Bullet <Second Half>" tại Thunder Dome, Bangkok,Thái Lan. Họ đã trải qua một đêm diễn tuyệt vời cùng với 5000 fan tại đây.

- BTS ‬(방탄소년단)‬ đạt hơn 30 triệu trái tim (trên V app), kỷ lục cao nhất của V app kể từ lúc phát hành. 80 phút trước lúc phát sóng Run! BTS live in Thailand, nó đã đạt đến 25 triệu trái tim.

- Trước concert ở Bangkok, BTS cũng được mời tham gia chương trình phát sóng trực tiếp buổi sáng của Thái Lan, và chương trình cho biết rating của chương trình tại địa phương đã tăng đến 70%.

  • Tour lưu diễn thế giới "THE RED BULLET" của BTS kéo dài trong vòng 11 tháng, bao gồm 25 concerts đã kết thúc vào ngày 29 - 8. Tập trung 80.000 fan đến từ 18 thành phố trong 13 quốc gia khác nhau.

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày tháng Lễ trao giải Giải thưởng Kết quả
Năm 2013 14/11/2013 MelOn Music Awards (MMA) 2013 Rookie Award Đoạt giải
02/12/2013 So-Loved Awards 2013 Best Male Debut

Best Single Album (2 Cool 4 Skool)

Đoạt giải
13/12/2013 SBS Pop Asia Awards Best Rookie Group Đoạt giải
17/12/2013 Remarkable Awards 2013 Best New Artist Đoạt giải
31/12/2013 Soompi Awards 2013 Rookie of the Year Đoạt giải
2013 Mnet Asian Music Awards Best New Male Artist Đoạt Giải
Năm 2014 16/01/2014 28th Golden Disk Awards Newcomer Award Đoạt Giải
23/01/2014 Seoul Music Awards 2013 Best Rookie Award Đề cử
12/02/2014 Gaon Chart K-Pop Awards Best New Artist (Male Group) Đoạt giải
15/04/2014 Yin Yue Tai 2nd V Chart Awards Top New Artist Đoạt giải
1/10/2014 So-Loved Awards Choreography Male

Hip Hop/ R&B

Best Song (Boy In Luv)

Đoạt giải
25/11/2014 Pops in Seoul Rising Star 2014 Đoạt giải
28/12/2014 5th Philippine Kpop Convention Best New Artist 2013 Đoạt giải
2014 Mnet Asian Music Awards (MAMA) Best Dance Performance (Male Group): Boy In Luv Đề cử
2014 Mnet Asian Music Awards (MAMA) Union Pay Song Of The Year: Boy In Luv Đề cử
Năm 2015 2015 Eat your Kimchi Awards Best Male Group Đoạt giải
15/01/2015 29th Golden Disk Awards Bonsang Award Đoạt giải
2015 29th Golden Disk Awards Album Award: Album Dark & Wild Đoạt giải
22/01/2015 24th Seoul Music Awards Bonsang Award Đoạt giải
28/01/2015 4th Gaon Chart K-Pop Awards World Rookie Award Đoạt giải
16/01/2015 International K-Music Awards Best Male Group

Best Choreography

Đoạt giải
2015 Remarkable Awards Best Male Dance Đoạt giải
MTV Europe Music Awards Best Korea Act Đoạt giải
MTV Europe Music Awards (MTV EMA) Worldwide Act: Asia Đề cử
30/10/2015 Mnet Asian Music Awards (MAMA) Best Male Group
Artist Of Year
7/11/2015 MelOn Music Awards (MMA) 2015 Best Dance Male Artists Đoạt giải
02/12/2015 Mnet Asian Music Awards (MAMA) BEST WORLD PERFORMER Đoạt giải
18/12/2015 Hello Asia K-Pop Awards Best Music Video (DOPE) Đoạt giải
Best Dance Performance (DOPE) Đoạt giải
Group of the Year Đoạt giải
Artist of the Year Đoạt giải
Năm 2016 14/01/2016 25th Seoul Music Awards Bonsang Award Đoạt giải
21/01/2016 30th Golden Disk Award Bonsang Award Album Division Đoạt giải
17/02/2016 5th Gaon Chart K-Pop Awards World K-POP Star Đoạt giải
23/02/2016 Soompi Awards 2015 Breakout Artist Đoạt giải
Best Stage Outfit: DOPE Đoạt giải
Best Choreography: DOPE Đoạt giải

Chương trình âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày tháng Bài hát Chương trình Kết quả
2015 05/05/2015 I Need U SBS The Show No.1
07/05/2015 M! Countdown No.1
08/05/2015 Music Bank No.1
12/05/2015 SBS The Show No.1
13/05/2015 Show Champion No.1
08/12/2015 RUN SBS The Show No.1
09/12/2015 Show Champion No.1
11/12/2015 Music Bank No.1
16/12/2015 Show Champion No.1
2016 08/01/2016 Music Bank No.1
12/05/2016 FIRE M! Countdown No.1
13/05/2016 FIRE Music Bank No.1
15/5/2016 FIRE Inkigayo No.1

Video ca nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày phát hành Tên MV
Hàn Quốc
11/06/2013 No More Dream
16/06/2013 No More Dream (Dance ver.)
16/07/2013 We Are Bulletproof Pt.2
10/09/2013 N.O
01/10/2013 Beautiful (J-Hope, Jimin, V, Jungkook)
22/10/2013 어른아이 (Adult Child) (Jin, Suga, Rap Monster)
11/02/2014 상남자 (Boy In Luv)
20/02/2014 상남자 (Boy In Luv) (Dance ver.)
06/04/2014 하루만 (Just One Day)
19/08/2014 Danger
21/10/2014 호르몬전쟁 (War of Hormone)
30/04/2015 I Need U
10/05/2015 I Need U (Original ver.)
24/06/2015 쩔어 (Dope)
04/08/2015 Fantastic (Rap Monster)
29/11/2015 RUN
19/04/2016 Young Forever
02/05/2016 Fire
15/05/2016 Save me
Nhật Bản
25/05/2014 No More Dream
04/07/2014 Boy In Luv
09/11/2014 Danger
05/06/2015 For You
01/12/2015 I Need U
11/03/2016 Run
Solo (Rap Monster)
12/03/2015 Awakening (각성)
19/03/2015 Do You
26/03/2015 Joke (농담)
Hợp tác
Ngày phát hành Tên MV Thành viên Nghệ sĩ khác
20/12/2013
Perfect Christmas Rap Monster, Jungkook Jokwon, Lim Jeong Hee, Jo Hee (8eight)
13/05/2014 Unpack Your Bags Rap Monster DJ Soulscape
13/11/2014 Danger (Mo-Blue-Mix) All members Thanh Bùi
14/03/2015 P.D.D (Please Don't Die) Rap Monster Warren G
04/08/2015 Fantastic4 Rap Monster Mandy Ventrice


Chương trình thực tế & truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kênh Chương trình Thành viên Vai trò Ghi chú
2013 SBS MTV Rookie King: Channel Bangtan Tất cả thành viên Chính thức 8 tập
Arirang After School Club Khách mời Tập 24
2014 YinYueTai BTS China Job Chính thức 3 tập (tài liệu)
Mnet M Wide News & Open Studio Khách mời
Arirang After School Club Tập 46
Rap Monster, Jimin Tập 56 After Show
Mnet Beatles Code 3D Tất cả thành viên Tập 15 & Park Ji-yoon
MBC Every1 Weekly Idol Tập 144
Mnet 4Things Tập 3 (Phim tài liệu về Rap Monster)
Arirang After School Club Rap Monster Tập 63, After Show
Tập 64, After Show
Rap Monster, Jimin, Jung Kook Tập 68, After Show
Tập 70, After Show
Mnet American Hustle Life Tất cả thành viên Chính thức 8 tập
Arirang After School Club Khách mời Tập 95
Mnet America GO! BTS Chính thức The whole filming was held in L.A
KBS A Song for You Season 3 Khách mời Tập 12
MBC Show! Music Core V MC đặc biệt
MBC Every1 100's Choice Best Ramen J-Hope Khách mời Tập 6
2015 SBS MTV Best of the Best V MC đặc biệt 4 tập đặc biệt với Sujeong Lovelyz
YinYueTai Idol Show Tất cả thành viên Chính thức 2 tập
Arirang After School Club Khách mời Tập 158
Tập 191
KBS Hello Counselor V, Rap Monster Tập 223 với Jessi, Lim Yo-Hwan, Kim Kayeon
SBS Star King Tập 413
KBS2 Crisis Escape No.1 Tất cả thành viên
MBC Every1 Weekly Idol Tập 203
Mnet Yaman TV Tập 23
SBS Running man Rap Monster Khách mời Tập 265
MBC Flower Boy Bromance V Chính thức Tập 1,2,3,4 với Kim Minjae
2016 SBS Star King V , J-Hope Khách mời Tập 433
SBS Rap Monster , Jimin , J-Hope Khách mời Tập 447
SBS Running Man Tất cả thành viên Khách mời Tập 300
MBC Show ! Music Core JungKook MC đặc biệt
SBS Same Bed Different Dreams J-Hope Khách mời Tập 46

Radio[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày tháng Tiêu đề Kênh Thành viên
2013 22/06/2013 Shim Shim Tapa MBC Tất cả thành viên
29/06/2013 Kiss the Radio KBS
11/08/2013 Rap Monster & Suga
01/10/2013 Shim Shim Tapa MBC Tất cả thành viên
06/10/2013 Kiss the Radio KBS
13/10/2013 Rooftop Radio
2014 20/02/2014
27/02/2014 Shim Shim Tapa MBC
14/06/2014 C-Radio Idol True Colours
30/08/2014 Kiss the Radio KBS
01/09/2014 Jimin
03/09/2014 Power Time SBS Tất cả thành viên
12/09/2014 Volume Up Radio KBS
2015 04/01/2015 Kiss the Radio Jimin & J-Hope
07/03/2015 C-Radio Idol True Colours MBC Jin, Suga, J-Hope, Jimin, V, Jungkook
05/05/2015 Kiss the Radio KBS Tất cả thành viên
10/05/2015 Cool FM Changmin's Music Plaza
29/06/2015 Park Sohyun's Love Game Radio SBS
02/07/2015 Kiss the Radio KBS
20/12/2015 Changmin's Music Plaza KBS Tất cả thành viên
2016 12/05/2016 Cultwo Show SBS Tất cả thành viên

Idol Star Athletic Championship[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày tháng Thành viên Môn Thành tích
2014 13/01/2014 Rap Monster, Jin, J-Hope, Jimin, V, Jungkook • Nhảy cao: Jimin

• Bóng đá: Jimin

• Huy chương bạc: Jimin (Nhảy cao)

• Huy chương bạc: Jimin (Bóng đá)

2015 10/08/2015 Tất cả thành viên • Chạy cự li 60m: Jimin, Jungkook

• Chạy tiếp sức 400m: J-Hope, Jimin, V, Jungkook

• Bóng rổ: Suga

• Cổ vũ năng nổ: Jin

• Huy chương bạc: Jimin, Jungkook (Chạy cự li 60m)

• Huy chương vàng: J-Hope, Jimin, V, Jungkook (Chạy tiếp sức 400m)

• Huy chương vàng: Suga (Bóng rổ)

• Hạng nhất toàn đoàn

• Huy chương vàng do ARMY bình chọn

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]