Bangtan Boys (nhóm nhạc)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Bangtan Boys)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bang Tan Sonyeondan
방탄소년단
BTSWings.jpg
Bang Tan Sonyeondan (WINGS concept photo)
Thông tin nghệ sĩ
Nghệ danh
  • Bang Tan SonYeondan
  • Bulletproof Boy Scouts
  • Bangtan Sonyeondan
  • 방탄소년단
Nguyên quán Seoul, Hàn Quốc
Thể loại
Năm hoạt động 2013–nay
Hãng đĩa Big Hit Entertainment
Website Trang chủ
Thành viên hiện tại
Jin
Suga
J-Hope
Rap Monster
Jimin
V
Jung Kook
Bangtan Boys
Hangul 방탄소년
Hanja 防彈少年
Romaja quốc ngữ Bangtansonyeondan
Hán-Việt Phòng Đạn Thiếu Niên Đoàn

Bang Tan Sonyeondan (Tiếng Hàn: 방탄소년단, Tiếng Nhật: 防弾少年団, Tiếng Trung: 防彈少年团, Hán-Việt: Chống Đạn Thiếu Niên Đoàn), còn được gọi là BTS - viết tắt của Bangtan Sonyeondan, tiếng Anh là Bulletproof Boys Scouts hay Bangtan Boys, là một nhóm nhạc hip-hop của Hàn Quốc gồm 7 thành viên chính thức ra mắt vào 13 tháng 06 năm 2013 do chủ tịch của Big Hit Entertainment là Bang Sihyuk thành lập nên. Nhóm trực thuộc 2 công ty quản lí: Big Hit Entertainment (Hàn Quốc); Pony Canyon (Nhật Bản). Tên fandom của nhóm là A.R.M.Y - viết tắt của "Adorable Representative M.C For Youth": A (Adorable), R (Representative), M (Master of Ceremonies), Y (Youth), có nghĩa là Đại diện tiêu biểu cho sự đáng yêu của thanh thiếu niên hay còn có nghĩa là quân đội trong tiếng Anh.

Mục lục

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi ra mắt[sửa | sửa mã nguồn]

Thành viên đầu tiên của Bangtan Boys được tuyển chọn thông qua cuộc thi thử giọng "Hit It Audition" của Big Hit được tổ chức năm 2010 và 2011. Đây là cuộc thi thử giọng toàn quốc, mọi người được tuyển chọn ngay tại chính quê hương của mình, giống như Jimin và Jungkook đến từ Busan, V và Suga đến từ Daegu.

Khi đang học lớp 7, Jungkook tham gia cuộc thi thử giọng Superstar K3 và được Big Hit tuyển chọn nên đã rút khỏi cuộc thi. Sau khi gia nhập Big Hit, cậu được đào tạo ở Movement Lifestyle tại LA trong suốt mùa hè năm 2012.

Jimin theo học trường Nghệ thuật Busan, khóa học nhảy hiện đại. Cậu được tuyển chọn thông qua một cuộc thử giọng riêng.

Rap Monster khi đó đang hoạt động dưới danh nghĩa là một rapper underground. Anh cũng đã cho ra một vài sản phẩm riêng bao gồm cả sản phẩm hợp tác cùng Zico. Nghệ danh trước đây của anh là " Runch Randa".

J-Hope từng là thành viên nhóm nhảy đường phố Nueron trước khi trở thành thực tập sinh và đoạt nhiều giải thưởng trong các dance festival ở Gwangju. Sau đó, anh theo học trường Nghệ thuật Hàn Quốc. J-Hope góp mặt trong "Animal" của Jokwon với vai trò rapper.

Ban đầu dự định ra mắt năm 2010 nhưng sau đó đã bị hoãn lại do các thành viên rời bỏ nhóm, chỉ còn lại duy nhất Rap Monster. Sau đó mới gia nhập thêm 6 thành viên như bây giờ, Jimin là thành viên cuối cùng tham gia nhóm. J-Hope từng góp giọng trong ca khúc "Animal", thuộc single solo đầu tay của đàn anh cùng công ty Jo Kwon 2AM. Trừ Rap Monster và Jimin, 5 thành viên còn lại cũng xuất hiện trong MV "I'm Da One" của Jokwon. Nhóm cũng từng tham gia vào những ca khúc của Lee Hyun (8eight), Kan Miyeon (Baby V.O.X), Lee Seunggi và concert của đàn chị Lim Junghee.

Trước khi ra mắt, nhóm đã phát hành 2 ca khúc cover. Ca khúc "Drank" của Kendrick Lamar được 3 thành viên Jin, Rap Monster và Suga cover với tên "School of Tears" - bài hát nói về xã hội hiện đại cũng như áp lực, bệnh thành tích ở trường học. Ba thành viên khác là Jimin, J-Hope và JungKook cover "Young, Wild and Free" của Wiz Khalifa thành ca khúc "Graduation Song". Riêng thành viên V lại được giữ bí mật cho đến khi trailer teaser ra mắt.

Trước khi chính thức ra mắt, nhóm nhận được sự quan tâm lớn của công chúng không chỉ bởi cái tên đặc biệt "Bangtan Boys", mà còn bởi dòng nhạc hip-hop mà nhóm theo đuổi. Với Bangtan Boys, hip-hop là phương tiện truyền tải những câu chuyện, tâm tư của nhóm với công chúng. Chính vì vậy mà không có gì đáng ngạc nhiên khi toàn bộ các ca khúc của Bangtan Boys đều do các thành viên tự sáng tác, soạn lời và sản xuất.

2013: Ra mắt chính thức, ra mắt tại Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Single ra mắt "2 COOL 4 SKOOL"[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trailer debut đầu tiên được phát hành vào ngày 26 - 5 - 2013. Ngày 2 - 6, teaser hình ảnh đầu tiên của thành viên V được đăng tải trên trang web chính thức của Bangtan Boys [1]. Tiếp sau đó, ngày 3 - 6 là teaser hình ảnh các thành viên Jin, Jimin và JungKook[2]. Cuối cùng, ngày 6 - 6 teaser của ba thành viên còn lại J-Hope, Suga, và Rap Monster được công bố[3].
  • Ngày 6 và ngày 9 - 6, BTS tung ra 2 trailer giới thiệu cho ca khúc chủ đề "No More Dream" - nằm trong Debut single "2 COOL 4 SKOOL" của nhóm phát hành ngày 11 - 6. Bài hát được đánh giá cao khi theo đuổi phong cách độc đáo và cá tính, dù đây không phải là hình tượng mới lạ tại K-pop, song MV này đã tạo được màu sắc riêng với giọng rap cực ngầu cùng giai điệu mạnh mẽ, nam tính, lời bài hát trẻ trung có chút bất cần. Single này cũng đã đạt vị trí No.1 trên bảng xếp hạng thường nhật Hanteo.
  • Nhóm chính thức ra mắt trong showcase hoành tráng ngày 12 - 6. Sân khấu debut đầu tiên là M!Countdown ngày 13 - 6. Sau đó Big Hit còn tung ra 3 phiên bản: Dance Ver (ngày 16 - 6), Dance Practice (ngày 20 - 6) và Behind The Scenes (ngày 22 - 6) của "No More Dream".
  • Ngày 16 - 7 BTS đã phát hành một MV mới cho ca khúc "We Are Bulletproof Pt.2" của mình. "We Are Bulletproof Pt.2" là ca khúc thứ hai nằm trong đĩa đơn "2 COOL 4 SKOOL", chủ yếu thể hiện những màn vũ đạo khéo léo của họ. Và Dance Ver của ca khúc này cũng đã được phát hành ngày 26 cùng tháng.

Single ra mắt tại Nhật Bản "2 COOL 4 SKOOL"[sửa | sửa mã nguồn]

  • Album debut tại Nhật của nhóm - "2 Cool 4 Skool" được phát hành vào ngày 23 tháng 4. Đĩa đơn đầu tiên là phiên bản tiếng Nhật của "No More Dream" được phát hành vào ngày 04/06/2014. Album này của nhóm đạt vị trí thứ 2 trong bảng xếp hạng hàng tuần của Oricon[4], bán được hơn 34.000 bản.

Mini album thứ 1 "O! RUL8,2?" (Oh! Are You Late, Too?)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Comeback trailer của BTS đăng tải trên kênh YouTube chính thức của Big Hit (ibighit) vào ngày 27 - 8 với những hình ảnh ấn tượng in biểu tượng BTS cùng giọng rap mạnh mẽ của leader Rap Monster, kết thúc trailer là tiêu đề mini album được viết bằng màu đỏ nổi bật trên nền trắng. Ngày 4 - 9 concept trailer được đăng tải với vũ đạo mạnh mẽ, đẹp mắt và beat nhạc dồn dập. Sau 2 teaser và album preview (ngày 8 - 9) được tung ra, Bangtan Boys đã comeback với 1st Mini Album "O! RUL8,2?" (Oh! Are You Late, Too?) với bài hát chủ đề "N.O" phát hành ngày 11 - 9.
  • Sau khi kết thúc sân khấu quảng bá "N.O" cuối cùng trên Inkigayo (ngày 20 - 10). BTS quay lại các show âm nhạc hàng tuần với "Attack on Bangtan" (진격의 방탄) (trích trong 1st Mini Album) vào ngày 6 - 11 trên sân khấu của Show Champion. Họ kết thúc loạt quảng bá này ngày 17 - 11.

2014: Skool Luv Affair, Dark&Wild, Album phòng thu tiếng Nhật đầu tiên, Single tiếng Nhật thứ hai và thứ ba[sửa | sửa mã nguồn]

Mini album thứ 2 "Skool Luv Affair"[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 12 - 2 - 2014, nhóm đã cho ra mắt mini album thứ 2 mang tên "Skool Luv Affair" với bài hát chủ đề là "Boy In Luv" được sản xuất bởi các nhạc sĩ, producers và 2 thành viên của nhóm là leader Rap Monster và Suga. Ca khúc đã được đề cử No.1 trên SBS Inkigayo và là ca khúc đầu tiên của nhóm được đề cử trong chưa đầy một năm ra mắt.
  • Album "Skool Luv Affair" của BTS nằm trong danh sách những album có sức ảnh hưởng rất lớn tại thời điểm phát hành.[5]

Album phòng thu thứ 1 "Dark&Wild"[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 20 - 8, nhóm ra phát hành album phòng thu đầu tiên là "Dark&Wild" bao gồm 14 bài hát. Album này đã bán được hơn 109.098 bản. Trong đó, bài hát chủ đề lần này là "Danger". Nhạc sĩ Thanh Bùi cũng tham gia sáng tác ca khúc "Danger" cùng công ti quản lí
  • 21/10/2014 phát hành MV "War of Hormone", một track trong album "Dark&Wild"

Album phòng thu tiếng Nhật thứ 1 "Wake up" - Single tiếng Nhật thứ 2[sửa | sửa mã nguồn]

  • Album được phát hành ngày 24/12/2014 với 13 ca khúc, bao gồm cả các phiên bản tiếng Nhật của "No More Dream", "Boy in Luv" và "Danger", hai bài hát tiếng Nhật "The Stars" và "Wake Up".
  • 2nd Single là phiên bản tiếng Nhật của ca khúc "Boy In Luv" được phát hành vào ngày 16/07/2014. Bài hát đạt vị trí thứ tư trong bảng xếp hạng hàng tuần của Oricon[6] và bán được hơn 44.001 bản[7] bao gồm một phiên bản tiếng Nhật của "N.O", " Just One Day".

Single tiếng Nhật thứ 3[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Danger" (Japanese ver) được phát hành vào ngày 19/11/2014. Bài hát đạt vị trí thứ năm trong bảng xếp hạng hàng tuần của Oricon, bán được 49.124 bản trong tuần đầu tiên[8]. Các đơn đã được phát hành bao gồm phiên bản SONPUB remix tiếng Nhật của "Attack on Bangtan" ("進 撃 の 防 弾") và phiên bản tiếng Nhật của "Miss Right"

2015: Hwa Yang Yeon Hwa (Hoa dạng niên hoa), Single tiếng Nhật thứ 4[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hwa Yang Yeon Hwa: Quãng thời gian tươi đẹp nhất trong cuộc đời của mỗi con người.
  • Hwa Yang Yeon Hwa (Hoa dạng niên hoa) là dự án bao gồm 3 mini-album có sự kết nối với nhau, nói về "tuổi thanh xuân" thể hiện khoảng thời gian tươi đẹp nhất đời người với cả hai sắc thái rực rỡ và u tối. Ý tưởng này đã được ấp ủ trong một thời gian dài. Hwa Yang Yeon Hwa Pt.1 được phát hành vào 29/04/2015, Pt.2 được ra mắt vào 30/11/2015 và Hwa Yang Yeon Hwa: Young Forever được phát hành ngày 2/5/2016
  • Từ 01/12/2015 - 08/12/2015 Big Hit Entertainment đã mở triển lãm Butterfly Dream tiết lộ hậu trường, những thước ảnh độc quyền, quá trình quay phim và chụp ảnh cho album. Đặc biệt trình chiếu MV I Need U + Prologue + MV Run để Hwa Yang Yeon Hwa trở thành một thước phim xuyên suốt.

Mini album thứ 3 "Hwa Yang Yeon Hwa Pt.1 - The Most Beautiful Moment In Life Pt.1 - In The Mood For Love Pt.1"[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 29 - 4 - 2015, nhóm phát hành mini album vol.3 "Hwa Yang Yeon Hwa Pt.1" (Hoa dạng niên hoa Pt.1) bao gồm 9 bài hát được sản xuất bởi các nhạc sĩ, producers và các thành viên của nhóm. Album lần này nói về tuổi thanh xuân - quãng thời gian đẹp nhất đời người nhưng đồng thời cũng rất u ám, thể hiện mặt tối của thời thanh xuân ấy. Trong đó bài hát chủ đề là "I Need U". Sau khi phát hành, bài hát "I Need U" đã No.1 real time trên Genie, Daum Music, Soribada... và cũng nằm trong Top 10 real time Digital trên Melon, Bugs và Naver Music. Ca khúc đã mang về cho nhóm những chiến thắng đầu tiên trong các chương trình âm nhạc.
  • Album "Hwa Yang Yeon Hwa Pt.1" của BTS đứng thứ 10 ở bảng xếp hạng top 20 album bán chạy nhất thế giới "World's Top 20 Best-selling Albums" của World Music Awards.
  • Kênh truyền hình Mỹ Fuse TV đã công bố danh sách 27 album đỉnh nhất trong nửa đầu năm 2015. Cùng với album “Hwa Yang Yeon Hwa Pt.1”, BTS đã trở thành đại diện duy nhất của Hàn Quốc sánh vai cùng hàng loạt tên tuổi quốc tế như Kendrick LamarCiaraFall Out BoyDrake, Calvin Harris… trong danh sách do Fuse TV bình chọn[9]. Đại diện Jeff Benjamin của Fuse TV đánh giá: “Thông qua “Hwa Yang Yeon Hwa Pt.1” BTS đã tìm được sự cân bằng, cũng như xây dựng được một thế giới âm nhạc vững chắc riêng cho bản thân”.
  • Ngày 24/6/2015, BTS đã phát hành một MV mới cho ca khúc "Dope", nhận được 1,000,000 views trong vòng chưa đầy 15 giờ[10]. Ca khúc là track 5 trong album "Hwa Yang Yeon Hwa Pt.1" với giai điệu gây nghiện và vũ đạo được coi là nhanh nhất của họ.
  • Bảng Xếp Hạng Gaon: '"Top 15 Lượng Sale Album Nhiều Nhất Của Nghệ sĩ" nửa đầu năm 2015, cùng "Hwa Yang Yeon Hwa Pt.1" BTS đã đứng thứ 3 sau Big BangEXO với 196,620 bản đồng thời giúp Big Hit Entertainment đứng thứ 3 sau SM EntertainmentYG Entertainment trong '"Top 10 doanh số album nhiều nhất của các công ty"
  • BTS "Dope" MV đứng #4 ở Mĩ và #8 thế giới trong BXH MV K-pop được xem nhiều nhất Youtube tháng 6 - 2015.
  • "Dope" đứng vị trí thứ 3 trên  Billboard's World Digital Chart dù đã được phát hành 2 tháng trước đó.[11]
  • Theo bảng thống kê của Billboard về những bài hát của Kpop có lượng digital lớn nhất và MV Kpop có lượt xem cao nhất trong mùa hè 2015: "Dope" #9 và "I Need U" #14 trên top 20 bài hát Kpop có lượng digital lớn nhất thế giới[12]

Mini album thứ 4 "Hwa Yang Yeon Hwa Pt.2 - The Most Beautiful Moment In Life Pt.2 - In The Mood For Love Pt.2"[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 30/11/2015, nhóm phát hành mini-album vol.4 "Hwa Yang Yeon Hwa Pt.2" (Hoa dạng niên hoa Pt.2) tiếp nối mini-album vol.3 "Hwa Yang Yeon Hwa Pt.1" gồm 9 bài hát. Hwa Yang Yeon Hwa Pt.2 là mảnh ghép hoàn thiện bức tranh "tuổi trẻ vừa tươi đẹp vừa đau buồn" mà BTS đã vẽ ra từ 29/04/2015. Bài hát chủ đề của album lần này là RUN, một giờ ngay sau khi phát hành bài hát đã đứng #1 real time trên MelOn, Mnet, Bugs, Olleh, Naver, Genie, Monkey3, #2 trên Soribada. Đồng thời tất cả các bài trong album lần này đều lọt vào top 10 của MelOn, Genie, Bugs và Itunes Mĩ. ‪#‎RUNwithBTS‬ No.1 top trend thế giới.
  • 18/11/2015, trailer comeback "Never Mind" do Suga thể hiện được tiết lộ. Chỉ vài phút sau đó #Nevermind đã lọt vào top trend thế giới, Hàn và Thái, No.1 tìm kiếm trên Naver.
  • 22/11/2015 và 23/11, BTS đã phát hành hai bộ ảnh Je Ne Regrette (Tiếng Pháp: "Tôi chẳng hề hối tiếc điều gì") và Papillon (Tiếng Pháp: "Cánh bướm"). Khác với Hwa Yang Yeon Hwa Pt.1, cả hai bộ ảnh trong Hwa Yang Yeon Hwa Pt.2 đều mang màu sắc tươi sáng. Je Ne Regrette ca ngợi tinh thần sống hết mình, có chút nổi loạn như hình ảnh BTS băng qua đường dù đèn đỏ đang bật. Trong khi đó Papillon" lại vẽ lên một khu rừng cổ tích với khung cảnh thần tiên. Je Ne Regrette Papillon hợp vào nhau như sự đối lập giữa cuộc sống thực tại và hư ảo.
  • Ngay khi chưa phát hành album, lượng pre-order Hwa Yang Yeon Hwa Pt.2 đã vượt quá 150.000 bản
  • Album "Hwa Yang Yeon Hwa pt.2" hạ cánh tại vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng Worldwide iTunes Music Chart của Mỹ. Đây được biết là thứ hạng cao nhất của một nghệ sĩ Asia từ trước tới giờ. PSY và BTS là hai cái tên duy nhất của Hàn Quốc có mặt tại đây.
  • MV "RUN" được lọt vào top 10 trên bảng xếp hạng iTunes[13]
  • Doanh số album của "Hwa Yang Yeon Hwa Pt.2" trong tuần đầu tiên đã là 81,498 bản. Theo như bảng xếp hạng của Hanteo, đây là lượng album được bán nhiều thứ 2, sau EXO trong tuần đầu tiên[14]
  • Ngày 18/12, RUN và HYYH Pt.2 chính thức đạt vị trí No.1 tại BXH Kpop Chart của iTunes Mỹ tại hạng mục ca khúc và album. Sau khi cán mốc No.1 tại Mỹ, RUN đã nhanh chóng nắm giữ Top 2 BXH iTunes của các quốc gia như Phần Lan, Việt Nam, Pháp, Malaysia.
  • Cho đến ngày 20/12 (hết tuần thứ ba của tháng 12), tổng số album được tiêu thụ trong năm là 525.735 bản (Hwa Yang Yeon Hwa Pt.1 và Pt.2), xếp thứ 2 sau EXO. Theo như sự điều tra về cộng đồng fan cho thấy, lượng đề cập của nhóm chỉ xếp sau nhóm nhạc tiền bối EXO. Qua đó, fandom A.R.M.Y cũng đã cho thấy những hoạt động tích cực và sức ảnh hưởng về lượng album bán ra.
  • The Most Beautiful Moment in Life Pt.2 xếp thứ nhất BXH Billboard Album Thế giới (trừ Mỹ) 15 tuần liên tiếp.

Single tiếng Nhật thứ 4 "For You"[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phát hành 04/06/2015, kỷ niệm 1 năm debut tại Nhật của họ[15]. MV "For You" cũng được phát hành cùng ngày. Single đã leo lên đầu bảng xếp hạng hàng ngày của Oricon, bán được 42.611 bản trong ngày đầu tiên[16]

2016:[sửa | sửa mã nguồn]

Album đặc biệt: Hoa Dạng Niên Hoa: Young Forever[sửa | sửa mã nguồn]

- Phát hành vào ngày 02/05/2016, là album kết thúc của chuỗi "Hwa Yang Yeon Hwa".

- 3 MV được phát hành: Young Forever, bài hát chủ đề FIRESave ME

- Album có 2 ver: Day và Night.

- Mỗi album có 2 CD bao gồm các tất cả các bài hát nằm trong 2 album Hwa Yang Yeon Hwa pt.1 và pt.2, các bản remix của các ca khúc cũ và cả những bài hát mới. Sau tuần đầu tiên phát hành, album đã bán được 164,868 bản, nằm trong top 5 album bán chạy nhất trong tuần đầu tiên của Kpop.

- Ca khúc chủ đề FIRE ngay sau khi ra mắt đã nhận được rất nhiều lời khen ngợi khi cán mốc gần 5 triệu view trong chưa đầy 24h. Đây cũng là phần kết của những thông điệp cuối cùng gửi đến tuổi trẻ. Ngay trong tuần đầu tiên, lượng Album được bán ra đã vượt qua con số 100.000 bản.

Album phòng thu thứ 2: WINGS[sửa | sửa mã nguồn]

- Ngày 4/9/2016, BTS bất ngờ đăng tải short film #1 BEGIN nhá hàng cho màn comeback sắp tới của họ. Tiếp theo đó lần lượt là #2 LIE, #3 STIGMA, #4 FIRST LOVE, #5 REFLECTION, #6 MAMA và #7 AWAKE với những mối liên kết chặt chẽ đã đem lại sự thích thú cho các fans. Mỗi thước film là sự giao thoa giữa yếu tố điện ảnh, âm nhạc, văn học với những đoạn trích trong tác phẩm Demian: The Story of Youth[17] của Hermann Hesse được đánh giá rất cao.

- Ngày 25/9/2016, BTS đã tiết lộ comeback trailer "Boy Meets Evil" nằm trong full album thứ hai của họ. Intro mang âm hưởng ma mị cuốn hút người xem với vũ đạo sắc bén, giọng rap của J-Hope và beat nhạc gây nghiện.

- Ngay sau tuần đầu tiên album được công bố, lượt pre-order của "WINGS" đã đạt trên 500.000 bản, tăng 70% so với album gần đây nhất của họ là "Young Forever".

- Ngay sau đó, vào ngày 28/9/2016, BTS đã tung ra các photo concept khác nhau cho 4 ver "W", "I', "N", "G" với những thước ảnh đẹp được đầu tư kĩ lưỡng và tỉ mỉ.

- Ngày 5/10/2016, BTS đã công bố track list của "WINGS", gồm 15 bài hát mang nhiều màu sắc khác nhau.

- Đúng 0 giờ ngày 10 tháng 10 (giờ địa phương), nhóm đã phát hành album phòng thu thứ 2 "WINGS" với ca khúc chủ đề  "Blood Sweat & Tears". MV "Blood Sweat & Tears" sau 24 giờ được đăng tải đã cán mốc hơn 6.3 triệu views với nhiều phản hồi tích cực và lập cho BTS nhiều kỉ lục mới

- 10/10/2016, album Wings chính thức ra mắt. Ngay lập tức, 15 bài trong album chiếm vị trí 1-15 tại các BXH trong nước và no.1 iTunes tại 57 quốc gia.

- Với MV Blood Sweat and Tears, BTS đã trở thành:

+ Nhóm nhạc Kpop có số lượt view nhiều nhất Youtube trong 24 giờ đầu tiên với MV Blood Sweat & Tears (6.347 triệu view)

+Nhóm nhạc nam Kpop có số lượt view nhiều nhất Youtube trong 24 giờ đầu tiên với MV Blood Sweat & Tears (6.347 triệu view)

+Nhóm nhạc nam Kpop (Blood Sweat & Tears) đạt 10 triệu view nhanh nhất trong vòng 41 giờ.

+ Video nhận được nhiều sự yêu thích nhất trên Vapp: BTS 'WINGS' Preview Show với 132,809,591 lượt bắn tim.

+ Video Kpop có lượt xem hằng ngày nhiều nhất trên Youtube: #1 với Blood Sweat & Tears.

+ Nhóm nhạc Kpop có nhiều lượt like nhất trong vòng 24 giờ: Blood Sweat & Tears với 582,500

+Nhóm nhạc nam có MV đạt 20 triệu view nhanh nhất trên Youtube: Blood Sweat & Tears trong vòng 136 giờ.

+ Nhóm nhạc nam Kpop có MV đạt 30 triệu view nhanh nhất trên Youtube: Blood Sweat & Tears trong gần 14 ngày.

- Ngày 10/10/2016, album WINGS chính thức được bán trên các trang mạng lớn như Synnara, Hanteo... và một lần nữa mang lại nhiều kỉ lục cho BTS:

+Thành tích cao nhất trên BXH Full Album với WINGS đạt #1 trên BXH US iTunes Overall Album.

+Số lượng album bán ra nhiều nhất trong ngày đầu tiên trên BXH Hanteo với 141,600 bản.

+Nghệ sĩ Kpop đạt vị trí cao nhất trên BXH Bài hát US iTunes Overall Top 100 với Blood Sweat & Tears đạt #29.

+Thứ hạng cao nhất (và cũng là lần đầu tiên) của nhóm nhạc Kpop trên BXH Album UK với vị trí #62 (14/10/2016).

+ Album Hàn Quốc có lượng tiêu thụ nhiều nhất trong tuần đầu tiên: WINGS với 347,428 bản được bán ra (theo BXH Hanteo) (gấp 2 lần so với Special Album Young Forever đã được nhóm ra trước đó vài tháng)

Đặc biệt, WINGS đã trở thành Album Kpop đạt vị trí cao nhất trên:

+ BXH Album Billboard của Canada: BTS WINGS #19 (29/10/2016).

+USA Billboard 200: BTS WINGS #26!!! (29/10/2016).

+Best Sales Frame cho tuần tiêu thụ đầu tiên ở Mĩ cho bất cứ nghệ sĩ/album Kpop: BTS WINGS với 16,000 unit được bán ra.

Nhờ album này, BTS đã trở thành nghệ sĩ Kpop đầu tiên có:

+Album Kpop đầu tiên lọt top Billboard 200 2 tuần liên tiếp

+3 album lọt vào Billboard 200.

+Số tuần đạt vị trí #1 nhiều nhất trên Album Thế giới của Kpop: BTS với 5 tuần.

+Billboard Social Top 50: BTS #1 (29/10/2016 và 5/11/2016).

+Vị trí cao nhất trên Billboard's Artist 100: BTS #26.

+Vị trí cao nhất và đây cũng là lần đầu tiên trên BXH Billboard's Digital Album: BTS WINGS #7 (29/10/2016).

+Thứ hạng cao nhất Billboard's Top Album Sales: BTS WINGS #20 ( 29/10/2016).

+Vị trí cao nhất trên Billboard's Top Current Album: BTS WINGS #20.

-Ngày 16/10/2016, album Wings đạt vị trí #68 trên Top Album tại Hà Lan ( 15/10/2016).

Thành công này của nhóm được cho là bởi sự đầu tư kĩ càng về mặt nội dung, ý nghĩa, được thể hiện qua các Short Film, chất lượng và sự phá cách trong âm nhạc và lời bài hát.

Hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • BTS có một chương trình tạp kĩ của riêng họ mang tên "Rookie King BTS: Channel Bangtan" (신인왕: 방탄 소년단). Phát sóng thứ ba hàng tuần trên SBS MTV, bắt đầu từ ngày 3 - 9 - 2013[18]
  • Ngày 30 - 11 - 2013: BTS được mời tham gia “7color Concert” tại Thái Lan, đã có hơn 8 nghìn fan tới ủng hộ họ.
  • BTS đã làm CF cho V app cùng các idol tên tuổi như Big Bang, Wonder Girls, Girls Day, Winner,... tập đầu tiên được lên sóng vào 1 - 8 - 2015. Họ đã có hơn 160.000 fans trên V app chỉ trong ngày đầu tiên và giữ vị trí #1[19], ngoài ra BTS cũng thắng hạng mục " Người nổi tiếng được yêu thích nhất " trên V app do fan bình chọn tại KCON 2015 LA.
  • Tháng 6 - 2014, BTS sang L.A (Los Angeles, USA) để học tập thêm về hip-hop cho album mới của họ. Trong 3 tuần học tập tại L.A, BTS được gặp các rapper huyền thoại như Warren G, Coolio. Ekip đã ghi lại toàn bộ quá trình học tập của họ tại L.A và làm thành chương trình thực tế " American Hustle Life". Không lâu sau, họ tham gia vào sự kiện KCON của Hàn Quốc cũng tại L.A cùng các nhóm nhạc thần tượng khác như SNSD, G-Dragon,...
  • Rap Monster đã phát hành mixtape với 18 tracks, bài hát chủ đề là "Do you". Ngoài ra, vào ngày 4 - 8 - 2015, Rap Monster phát hành single nhạc số với tên gọi " Fantastic" cho bộ phim FANTASTIC 4[20]
  • Như đã hứa, để bày tỏ lòng biết ơn của mình tới các fan vì đã giành được #1 với "I NEED U" trong đợt quảng bá " Hwa Yang Yeon Hwa Pt.1" BTS đã cùng xem phim "FANTASTIC 4" với 216 fans may mắn vào 7PM KST 12/08/2015 tại rạp CGV Wangsimi[21]
  • Trong một cuộc khảo sát do fan bình chọn được tổ chức bởi KFM, BTS được chọn là nhóm nhạc K-pop có bài hát được nghe nhiều nhất tại châu Âu.[cần dẫn nguồn]
  • Ở MTV EMA 2015, BTS đã chiến thắng ở hạng mục 2015 Best Korean Act.
  • Ngày 22/12/2015, J-Hope đã phát hành mixptape mang tên "1 VERSE".
  • Nhóm lần đầu tiên được tổ chức concert tại SVĐ Olympic Gymnastics với hai đêm diễn vào ngày 7-8/05/2016. Toàn bộ vé được tiêu thụ trong vòng 30 phút.
  • Vào tháng 7/2016, BTS cho ra mắt "Bon Voyage" - chương trình 8 tập được phát sóng trên ứng dụng VLive+ quay lại chuyến du lịch không manager dạo chơi ở Bắc Âu với những kỉ niệm khó quên.
  • Ngày 16/08/2016, Suga dưới nghệ danh Agust D đã phát hành mixtape với 10 tracks. Bài hát chủ đề là "Agust D", bên cạnh đó là MV "Give It To Me" và bài hát "So Far Away" , đánh dấu sự hợp tác đầu tiên của Suga với nữ ca sĩ Suran, cũng được giới chuyên môn đánh giá cao.

Nghệ thuật và phong cách âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Hình tượng và phong cách âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hình tượng của nhóm được thể hiện rất khác nhau qua từng album, có sự kết hợp linh hoạt và hài hòa. Từ những cậu học sinh chơi bời đến những thiếu niên với sức sống trẻ trung và tươi mới. Họ tập trung chủ yếu vào thể loại Hip-hop thu hút giới trẻ. MTV's Corynn Smith đã nhận định rằng BTS có sự kết hợp Hip-hop và Rock là yếu tố truyền cảm hứng âm nhạc cực tinh tế trong các single của họ. Và quan trọng hơn là họ không ngừng tìm hiểu về nguồn gốc của Hip-hop và trau dồi nó.

Sản xuất nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trong cuộc phỏng vấn cho Cuvism Magazine, BTS đã nói rằng "Bangtan Boys" có nghĩa là "chống lại những viên đạn của thế giới đang chĩa vào giới trẻ", nhóm viết nhạc với mong muốn có thể lên án sự áp bức của xã hội đối với giới trẻ cũng như lời bài hát của họ liên quan đến giới trẻ. J-Hope cho biết: "Tôi nghĩ rằng chúng tôi đã nhận được rất nhiều cảm hứng sáng tác từ cuộc sống hàng ngày, chúng tôi viết nhạc về nhiều điều gần gũi và thậm chí chúng tôi có thể viết ngay cả ở đây. Chúng tôi nhận được rất nhiều cảm hứng trên đường đến phòng tập và ngay cả khi chúng tôi ăn. Chúng tôi có xu hướng viết về những điều nhỏ bé trong cuộc sống"
  • Họ viết nhạc như kể về cuộc sống của mình, họ thường viết về niềm đam mê, sở thích, những khó khăn của tuổi trẻ.
  • Trong tất cả các album của mình, các thành viên của BTS đều tham gia sáng tác.

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ danh Tên khai sinh Ngày sinh Cung hoàng đạo Nơi sinh Chiều cao Vị Trí
Hanja
Jin Kim Seok Jin 김석진 Kim Thạc Trân 金硕珍 4 tháng 12,1992 (24 tuổi) Nhân Mã Gyeonggi 1m79 Hát phụ, Visual
Suga 슈가 Min Yoon Gi 민윤기 Mẫn Doãn Kỳ 闵玧其 9 tháng 3, 1993 (23 tuổi)  Song Ngư Daegu 1m76 Rap chính
J-hope 제이홉 Jung Ho Seok 정호석 Trịnh Hạo Thạc 郑号锡 18 tháng 2, 1994 (22 tuổi) Bảo Bình Gwangju 1m77 Nhảy chính, Rap dẫn
Rap Monster 랩몬스터 Kim Nam Joon 김남준 Kim Nam Tuấn 金南俊 12 tháng 9, 1994 (22 tuổi)  Xử Nữ Ilsan 1m82 Trưởng nhóm, Rap chính
Jimin 지민 Park Ji Min 박지민 Phác Chí Mẫn 朴智旻 13 tháng 10,1995 (21 tuổi) Thiên Bình Busan 1m75 Hát chính, Nhảy dẫn
V Kim Tae Hyung 김태형 Kim Tại Hưởng 金泰亨 30 tháng 12,1995 (21 tuổi) Ma Kết Daegu 1m79 Hát dẫn, Face Of The Group
Jung Kook 정국 Jeon Jung Kook 전정국 Điền Chính Quốc 田柾国 1 tháng 9, 1997 (19 tuổi)  Xử Nữ Busan 1m78 Hát chính, Rap phụ, Nhảy dẫn, Center, Maknae

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

No. Tiêu đề Danh sách nhạc Chi tiết album Doanh số bán hàng
Tiếng Hàn
1st Dark & Wild
  1. Danger
  2. 호르몬 전쟁 (War of Hormone)
  3. Rain
  4. 이불 킥 (Blanket Kick)
  5. Let Me Know
  6. 24/7=Heaven
  7. 여기 봐 (Look Here)
  8. 핸드폰 좀 꺼줄래 (Would You Turn off Your cellphone?)
  9. "2학년 (2nd Grade)
  10. 힙합 성애 자 (Hip Hop Lover)
  11. BTS Cypher Pt. 3: Killer
  12. Intro: What am I to you
  13. Outro: 그게 말이 돼? (Outro: Does that make sense?)
  14. Interlude: 뭐해 (Interlude: What Are You Doing)
    • Phát hành: ngày 19 tháng tám năm 2014
    • Nhãn hiệu: Bighit Entertaiment
    • Định dạng: CD, kĩ thuật số tải
  • KOR: 156,113+ 
  • JPN: 6,108+
2nd Wings
  1. Intro: Boy Meets Evil
  2. Blood Sweat & Tears (피 땀 눈물)
  3. Begin (Jungkook Solo)
  4. Lie (Jimin Solo)
  5. Stigma (V Solo)
  6. First Love (Suga Solo)
  7. Reflection (Rap Monster Solo)
  8. MAMA (J-Hope Solo)
  9. Awake (Jin Solo)
  10. Lost
  11. BTS Cypher 4
  12. Am I Wrong
  13. 21st Century Girls (21세기 소녀)
  14. Two! Three! (Still Wishing There Will Be Better Days) (둘! 셋! (그래도 좋은 날이 더 많기를))
  15. Interlude: Wings
    • Phát hành: ngày 10 tháng 10 năm 2016
    • Nhãn: Big Hit Entertainment
    • Định dạng: CD, kỹ thuật số tải
N/A
Tiếng Nhật
1st Wake Up
  1. Intro
  2. The Stars
  3. Jump (Japanese Ver.)
  4. Danger (Japanese Ver.)
  5. Boy In Luv (Japanese Ver.)
  6. Just One Day (Japanese Ver. Extended)
  7. いいね! (Ī ne! / I Like It!)
  8. いいね!Pt.2~あの場所で~ (Ī ne! Pt. 2 ~ Ano basho de ~ / I Like It Pt.2 ~In That Place~)
  9. No More Dream (Japanese Ver.)
  10. 進撃の防弾 (Shingeki no bōdan / Attack on Bangtan)
  11. N.O (Japanese Ver.)
  12. Wake up
  13. Outro
    • Phát hành: ngày 24 tháng 12 năm 2014
    • Nhãn: Pony Canyon
    • Định dạng: CD, CD + DVD
  • JPN: 27.538
2nd Youth
  1. Introduction : Youth
  2. Run (Japanese Ver.)
  3. Fire (Japanese Ver.)
  4. Dope (超ヤベー Japanese Ver.)
  5. Good Day
  6. Save Me (Japanese Ver.)
  7. フンタン少年団 (Boyz with Fun Japanese Ver.)
  8. ペップセ (Baepsae Japanese Ver.)
  9. Wishing on a star
  10. Butterfly (Japanese Ver.)
  11. For You
  12. I Need U (Japanese Ver.)
  13. EPILOGUE : Young Forever (Japanese Ver.)
    • Phát hành: 07 Tháng 9 năm 2016
    • Nhãn: Pony Canyon
    • Định dạng: CD, CD + DVD
  • JPN: 100.000 (Vàng)

Album tổng hợp[sửa | sửa mã nguồn]

No. Đề mục Danh sách nhạc Chi tiết album Doanh số bán hàng
Tiếng Nhật
1st 2Cool 4Skool / O!RUL8,2?
  • Phát hành: 23 tháng 4, 2014
  • Nhãn: Pony Canyon
  • Định dạng: CD + DVD
  • JPN: 1,627+
Tiếng Hàn
1st The Most Beautiful Moment In Life: Young Forever
  • CD1
  1. Intro: 화양연화 (Intro: Hwayang Yeonhwa / Intro: The Most Beautiful Moment in Life)
  2. I Need U
  3. 잡아줘 (Jabajwo / Hold Me Tight)
  4. 고엽 (Goyeob / Dead Leaves)
  5. Butterfly (Prologue Remix)
  6. Run
  7. Ma City
  8. 뱁새 (Baepsae / Silver Spoon)
  9. 쩔어 (Jjeoreo / Dope)
  10. 불타오르네 (Bultaoreune / Fire)
  11. Save Me
  12. Epilogue: Young Forever
  • CD2
  1. Converse High
  2. 이사 (Isa / Moving On)
  3. Whalien 52
  4. Butterfly
  5. House of Cards (Full Length Edition)
  6. Love Is Not Over (Full Length Edition)
  7. I Need U (Urban Remix)
  8. I Need U (Remix)
  9. Run (Ballad Mix)
  10. Run (Alternative Mix)
  11. Butterfly (Alternative Mix)
  • KOR: 345,743+ 
  • CHN: 148.064 
  • JPN: 15.610 
  • Mỹ: 6.000 

Mini album[sửa | sửa mã nguồn]

No. Đề mục Danh sách nhạc Chi tiết album Doanh số bán hàng
1st O!RUL8,2?
  1. Intro: O!RUL8,2?
  2. N.O
  3. We On
  4. Skit: R U Happy Now?
  5. If I Ruled The World
  6. Coffee
  7. BTS Cypher Pt.1
  8. 진격의 방탄 (Jingyeogui Bangtan / Attack On Bangtan)
  9. 팔도강산 (Paldogangsan / Satoori Rap)
  10. Outro: Luv In Skool
  • KOR: 87,163+ 
  • JPN: 1,148+
2nd Skool Luv Affair
  1. Intro: Skool Luv Affair
  2. 상남자 (Sang-namja / Boy In Luv)
  3. Skit: Soulmate
  4. 어디에서 왔는지 (Eodieseo wassneunji / Where did you come from?)
  5. 하루만 (Haruman / Just One Day)
  6. Tomorrow
  7. BTS Cypher Pt. 2: Triptych
  8. 등골브레이커 (Deung-gol beuleikeo / Spine Breaker)
  9. Jump
  10. Outro: Propose
    • Phát hành: 12 Tháng Hai 2014
    • Nhãn: Big Hit Entertainment
    • Định dạng: CD, kỹ thuật số tải
  • KOR: 145,299+ 
  • JPN: 9,080+
Skool Luv Affair Special Addition

Bổ sung thêm

  1. Miss Right
  2. I Like It (좋아요) [Slow Jam Remix]
Skool Luv Affair Special Addition
  • Phát hành: ngày 14 tháng 5 năm 2014
  • Nhãn: Big Hit Entertainment
  • Định dạng: CD, kỹ thuật số tải
  • KOR: 14,852+
3rd The Most Beautiful Moment in Life, Phần 1
  1. Intro: 화양연화 (Intro: HwaYang YeonHwa / Intro: The Most Beautiful Moment in Life)
  2. I Need U
  3. 잡아줘 (Jabajwo / Hold Me Tight)
  4. Skit: Expectation!
  5. 쩔어 (Jjeoreo / Dope)
  6. 흥탄소년단 (Heungtan-Sonyeondan / Boyz with Fun)
  7. Converse High
  8. 이사 (Isa / Moving On)
  9. Outro: Love Is Not Over
  • Phát hành: 29 tháng 4 năm 2015
  • Nhãn: Big Hit Entertainment
  • Định dạng: CD, kỹ thuật số tải
  • KOR: 294,153+ 
  • JPN: 12,061+ 
  • Mỹ: 2.000+ 
4th The Most Beautiful Moment in Life, Phần 2
  1. Intro: Never Mind
  2. Run
  3. Butterfly
  4. Whalien 52
  5. Ma City
  6. 뱁새 (Baepsae / Silver Spoon)
  7. Skit: One Night in a Strange City
  8. 고엽 (Goyeob / Dead Leaves)
  9. Outro: House of Cards
  • Phát hành: ngày 30 tháng 11 2015
  • Nhãn: Big Hit Entertainment
  • Định dạng: CD, kỹ thuật số tải
  • KOR: 369,239+ 
  • JPN: 16,358+ 
  • Mỹ: 5.000 + 

Album đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Đề mục Danh sách nhạc Chi tiết album Doanh số bán hàng
2Cool 4Skool
  1. Intro: 2 Cool 4 Skool (featuring DJ Friz)
  2. Skit: Circle Room Talk
  3. No More Dream
  4. Interlude
  5. I Like It (좋아요; Joayo)
  6. Outro: Circle Room Cypher
  • KOR: 69,119+

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu đề Năm Album Doanh số bán hàng
No More Dream 2013 2 Cool 4 Skool
  • KOR: 23.237
We Are Bulletproof Pt. 2 N/A
N.O O!RUL8,2?
  • KOR: 37.720
진격의 방탄 (Attack on Bangtan)
  • KOR: 3769
상남자 (Boy In Luv) 2014 Skool Luv Affair
  • KOR: 204.742
하루 만 (Just One Day)
  • KOR: 28.255
Miss Right Skool Luv Affair Special Addition
  • KOR: 45.932
Danger Dark & Wild
  • KOR: 56.577
호르몬 전쟁 (War of Hormone)
  • KOR: 36.674
I Need U 2015 The Most Beautiful Moment in Life, Phần 1
  • KOR: 819.614
쩔어 (Dope)
  • KOR: 360.349
Run The Most Beautiful Moment in Life, Phần 2
  • KOR: 604.771
Epilogue: Young Forever 2016 The Most Beautiful Moment In Life: Young Forever
  • KOR: 103.724
불타 오르네 (Fire)
  • KOR: 550.618
Save Me
  • KOR: 237.521
피 땀 눈물 (Blood Sweat & Tears) Wings N/A

Ca khúc chủ đề tiếng Nhật[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu đề Năm Album Doanh số bán hàng
No More Dream 2014 Wake up
  • JPN: 34.748
Boy In Luv
  • JPN: 44.302
Danger
  • JPN: 50.261
For You 2015 Youth
  • JPN: 75.151
  • RIAJ: Vàng
I Need U
  • JPN: 75.151
  • RIAJ: Vàng
Run 2016
  • JPN: 133.469
  • RIAJ: Vàng

Chương trình tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kênh Chương trình Thành viên Vai trò Ghi chú
2013 SBS MTV Rookie King: Bangtan Channel Tất cả Chính thức 8 tập
Arirang After School Club Khách mời Tập 24
2014 YinYueTai BTS China Job Chính thức 3 tập (tài liệu)
Mnet M Wide News & Open Studio Khách mời
Arirang After School Club Tập 46
Rap Monster, Jimin Tập 56, After Show
Mnet Beatles Code Tất cả Tập 15 & Park Ji-yoon
MBC Every1 Weekly Idol Tập 144
Mnet 4Things Tập 3 (Phim tài liệu về Rap Monster)
Arirang After School Club Rap Monster Tập 63, After Show
Tập 64, After Show
Rap Monster, Jimin, Jung Kook Tập 68, After Show
Tập 70, After Show
Mnet American Hustle Life Tất cả Chính thức 8 tập
Arirang After School Club Khách mời Tập 95
Mnet America GO! BTS Chính thức The whole filming was held in L.A
KBS A Song for You Season 3 Khách mời Tập 12
MBC Show! Music Core V MC đặc biệt
MBC Every1 100's Choice Best Ramen J-Hope Khách mời Tập 6
2015 SBS MTV Best of the Best V MC đặc biệt 4 tập đặc biệt với Sujeong Lovelyz
YinYueTai Idol Show Tất cả Chính thức 2 tập
Arirang After School Club Khách mời Tập 158
Tập 191
KBS Hello Counselor V, Rap Monster Tập 223 với Jessi,Lim Yo-Hwan, Kim Kayeon
SBS Star King Tập 413
KBS2 Crisis Escape No.1 Tất cả
MBC Every1 Weekly Idol Tập 203
Mnet Yaman TV Tập 23
SBS Running Man Rap Monster Khách mời Tập 265
MBC Flower Boy Bromance V Chính thức Tập 1,2,3,4 với Kim Minjae
2016 SBS Star King V, J-Hope Khách mời Tập 433
SBS Rap Monster, Jimin, J-Hope Tập 447
SBS Inkigayo V, JHope MC đặc biệt với Mamamoo Solar, Wheein
SBS Running Man Tất cả Khách mời Tập 300
MBC Show ! Music Core JungKook, Jimin MC đặc biệt
SBS Inkigayo Jin, Rap Monster với Kei, Mijoo (Lovelyz)
SBS Same Bed Different Dreams J-Hope Khách mời Tập 46
MBC Flower Boy Bromance Jungkook Chính thức với Minwoo Shinhwa
MBC Duet song festival Rap Monster Khách Mời với Yuiko (student)
MBC King of masked singer Jung Kook Thí sinh Round 1+2
KBS GuraChaCha Time Slip: New Boy Rap Monster Khách mời Kim Gura, Cha Tae Hyun, Eun Ji Won, Kim Byung Ok
MBC Star Show 360 Tất cả Khách mời Tak Jae-hoon, Leeteuk, I.O.I Sohye

Chương trình radio[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày tháng Tiêu đề Kênh Thành viên
2013 22/06/2013 Shim Shim Tapa MBC Tất cả
29/06/2013 Kiss the Radio KBS
11/08/2013 Rap Monster & Suga
01/10/2013 Shim Shim Tapa MBC Tất cả
06/10/2013 Kiss the Radio KBS
13/10/2013 Rooftop Radio
2014 20/02/2014
27/02/2014 Shim Shim Tapa MBC
14/06/2014 C-Radio Idol True Colours
30/08/2014 Kiss the Radio KBS
01/09/2014 Jimin
03/09/2014 Power Time SBS Tất cả
12/09/2014 Volume Up Radio KBS
2015 04/01/2015 Kiss the Radio Jimin & J-Hope
07/03/2015 C-Radio Idol True Colours MBC Tất cả ngoại trừ Rap Monster
05/05/2015 Kiss the Radio KBS Tất cả
10/05/2015 Cool FM Changmin's Music Plaza
29/06/2015 Park Sohyun's Love Game Radio SBS
02/07/2015 Kiss the Radio KBS
20/12/2015 Changmin's Music Plaza KBS Tất cả
2016 12/05/2016

20/10/2016

Cultwo Show

Park So Hyun's Love Game Radio

SBS Tất cả

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]