BTS (nhóm nhạc)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Bangtan Boys)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
BTS
BTS logo (2017).png
‘LG Q7 BTS 에디션’ 예약 판매 시작 (42773472410) (cropped).jpg
BTS trong một quảng cáo của LG Electronics năm 2018
Từ trái sang phải, theo chiều kim đồng hồ: V, J-Hope, RM, Jin, Jimin, JungkookSuga
Thông tin nghệ sĩ
Nghệ danh
  • Bangtan Boys
  • Beyond The Scene
  • Bangtan Sonyeondan
  • Bulletproof Boy Scouts
Nguyên quánSeoul,  Hàn Quốc
Thể loại
Năm hoạt động2013 (2013)–nay
Công ty quản lýBig Hit Entertainment
Hãng đĩa
Websitebts.ibighit.com (tiếng Hàn)
bts-official.jp (tiếng Nhật)
Thành viên hiện tại
Tên tiếng Hàn
Hangul방탄소년
Nghĩa đenBangtan Boys
Romaja quốc ngữBangtan Sonyeondan
McCune–ReischauerPangt'an Sonyǒntan
Tên tiếng Nhật
Kanji防弾少年団
Hiraganaぼうだんしょうねんだん
Tên tiếng Trung
Tiếng Trung防彈少年
Hangugeo-Chosonmal.svg
Bài viết này có chứa các ký tự tiếng Hàn. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các ký tự Chosŏn'gŭl hay Hanja.

BTS (tiếng Hàn: 방탄소년단; tiếng Trung: 防彈少年團; RR: Bangtan Sonyeondan; Hán Việt: Chống Đạn Thiếu Niên Đoàn), hay còn được gọi là Bangtan Boys, là một nhóm nhạc nam Hàn Quốc được thành lập và quản lý bởi công ty Big Hit Entertainment. Nhóm bao gồm 7 thành viên: Jin, Suga, J-Hope, RM, Jimin, VJungkook. Nhóm chính thức ra mắt vào ngày 13 tháng 6 năm 2013 với album đầu tay 2 Cool 4 Skool. Ban đầu là một nhóm hip hop, phong cách âm nhạc của nhóm đã phát triển để đa dạng các thể loại. Lời bài hát của nhóm, thường tập trung vào bình luận cá nhân và xã hội, chạm vào các chủ đề về sức khỏe tâm thần, những rắc rối của tuổi trẻ, sự mất mát, hành trình hướng tới yêu thương bản thân và chủ nghĩa cá nhân. Tác phẩm của nhóm có các tài liệu tham khảo về văn học và các khái niệm tâm lý và bao gồm một cốt truyện vũ trụ viễn tưởng. Nổi tiếng với các buổi biểu diễn trực tiếp, nhóm đã tổ chức một số chuyến lưu diễn thế giới.

Nhóm ban đầu được thành lập khi còn ở độ tuổi thanh thiếu niên của Big Hit Entertainment và phát hành album đầu tay, 2 Cool 4 Skool (2013). Các tác phẩm tiếp theo như Billboard 200 đầu tiên của nhóm The Most Beautiful Moment in Life, Pt. 2 (2015), The Most Beautiful Moment in Life: Young Forever (2016) và Wings (2016) đã giúp tạo dựng danh tiếng của BTS như một nhóm nhạc có ý thức xã hội. Wings trở thành album đầu tiên của BTS bán được một triệu bản tại Hàn Quốc. Vào năm 2017, BTS đã thâm nhập vào thị trường âm nhạc quốc tế, dẫn đầu làn sóng Hàn Quốc vào Mỹ và phá vỡ nhiều kỷ lục doanh số, trở thành nhóm nhạc Hàn Quốc đầu tiên nhận được chứng nhận Vàng do Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA) trao tặng với đĩa đơn "Mic Drop" ". BTS là nhóm nhạc Hàn Quốc đầu tiên và duy nhất vào năm 2019 đứng đầu Billboard 200 của Mỹ với album phòng thu Love Yourself: Tear (2018) và kể từ đó đã đứng đầu bảng xếp hạng của Mỹ với album Love Yourself: Answer (2018) và Map of the Soul: Persona (2019), đưa BTS trở thành nhóm nhạc đầu tiên kể từ The Beatles thu được ba album số một trong vòng chưa đầy một năm. Love Yourself: Answer cũng đã phá vỡ kỷ lục bảng xếp hạng album Gaon hàng tháng mọi thời đại của Hàn Quốc do Love Yourself: Tear thiết lập và trở thành album Hàn Quốc đầu tiên được chứng nhận Vàng tại Mỹ.

Đã bán được hơn 15 triệu album, BTS là nghệ sĩ bán chạy nhất mọi thời đại và giữ kỷ lục album bán chạy nhất trong lịch sử Hàn Quốc với Map of the Soul: Persona. BTS là nghệ sĩ bán chạy thứ hai năm 2018 trên toàn thế giới theo Global Artist Chart của Liên đoàn Công nghiệp Ghi âm quốc tế (IFPI), cũng như là nghệ sĩ không nói tiếng Anh duy nhất lọt vào bảng xếp hạng. Nhóm đã giành giải Nghệ sĩ mạng xã hội hàng đầu ba năm liên tiếp và Bộ đôi/Nhóm nhạc hàng đầu tại Billboard Music Awards lần thứ 26. Nổi bật trên trang bìa quốc tế của Time với tư cách là "Next Generation Leaders", BTS đã xuất hiện trong danh sách 25 người có ảnh hưởng nhất trên mạng xã hội (2017–2019) và danh sách nhân vật ảnh hưởng nhất trên thế giới (2019) của Time, tạp chí đã đặt cho nhóm biệt danh "Princes of Pop". Forbes Hàn Quốc đã gọi BTS là người nổi tiếng có ảnh hưởng nhất của Hàn Quốc năm 2018 và BTS xếp thứ 43 trong danh sách 100 người nổi tiếng quyền lực nhất thế giới theo Forbes (2019) như một trong những người nổi tiếng có thu nhập cao nhất thế giới. Vào tháng 6 năm 2019, BTS đã trở thành nghệ sĩ châu Á đầu tiên đứng đầu và bán hết vé tại sân vận động Wembley. BTS có giá trị hơn 4,65 tỷ USD cho nền kinh tế của Hàn Quốc mỗi năm, thu hút một trong số mười ba khách du lịch nước ngoài đến thăm đất nước này và được trích dẫn là một trong những nghệ sĩ quan trọng giúp tăng doanh số âm nhạc toàn cầu lên 19 tỷ USD vào năm 2018, một con số chưa từng thấy kể từ năm 2006.

Sau những nỗ lực từ thiện của nhóm trong chiến dịch chống nạn bạo lực Love Myself hợp tác với UNICEF, BTS đã phát biểu trước Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc lần thứ 73 và trở thành người trẻ tuổi nhất từng nhận Huân chương Văn hóa từ Tổng thống Hàn Quốc cho những đóng góp của nhóm trong việc truyền bá văn hóa và ngôn ngữ Hàn Quốc.

Tên gọi

Tên của nhóm, BTS, là viết tắt của cụm từ tiếng Hàn Bangtan Sonyeondan (Hangul방탄소년단; Hanja防彈少年團), theo nghĩa đen là "Bulletproof Boy Scouts" trong tiếng Anh hoặc "Chống Đạn Thiếu Niên Đoàn" trong tiếng Việt. Theo thành viên J-Hope, cái tên biểu thị cho mong muốn của nhóm "ngăn chặn những định kiến, chỉ trích và kỳ vọng nhắm vào thanh thiếu niên như những viên đạn".[2][3] Ở Nhật Bản, BTS được gọi là Bōdan Shōnendan (防弾少年団), với cách dịch tương tự.[4] Vào tháng 7 năm 2017, BTS đã thông báo rằng tên của nhóm cũng sẽ đại diện cho "Beyond the Scene" như một phần của bản sắc thương hiệu mới của nhóm.[5] Điều này mở rộng tên của nhóm có nghĩa là "Tuổi trẻ vẫn đang ngày trưởng thành, những con người đang vượt ra ngoài thực tế mà họ phải đối mặt, và tiến về phía trước."[6]

Lịch sử

2010–2014: Quá trình hình thành nhóm và những năm đầu sự nghiệp

BTS bắt đầu được thành lập vào năm 2010 sau khi CEO của Big Hit Entertainment, Bang Si-hyuk gặp gỡ với trưởng nhóm RM và cảm thấy vô cùng ấn tượng với phần rap của anh.[7] Những thành viên còn lại được tuyển chọn thông qua cuộc thi thử giọng "Hit It Audition" của Big Hit Entertainment được tổ chức vào năm 2010 và 2011. Đây là cuộc thi thử giọng toàn quốc, mọi người được tuyển chọn ngay tại chính quê hương của mình, giống như JiminJungkook đến từ Busan, VSuga đến từ Daegu. Khi đang học lớp 7, Jungkook tham gia cuộc thi thử giọng Superstar K3 nhưng bị loại sớm, cậu được 8 công ty mời về nhưng bị ấn tượng bởi đoạn rap của RM nên cậu đã đầu quân cho Big Hit. Sau khi gia nhập Big Hit, cậu được đào tạo ở Movement Lifestyle tại Los Angeles trong suốt mùa hè năm 2012. Jimin theo học trường Nghệ thuật Busan tham gia khóa học nhảy đương đại. Cậu được tuyển chọn thông qua một cuộc thử giọng riêng. RM khi đó đang hoạt động dưới danh nghĩa là một rapper underground. Anh cũng đã cho ra một vài sản phẩm riêng bao gồm cả sản phẩm hợp tác cùng Zico. Nghệ danh trước đây của anh là "Runch Randa". J-Hope từng là "Smile Hoya", thành viên nhóm nhảy đường phố Neuron trước khi trở thành thực tập sinh và đoạt nhiều giải thưởng trong các lễ hội khiêu vũ ở Gwangju. Sau đó, anh theo học trường Nghệ thuật Hàn Quốc. J-Hope[8] góp mặt trong "Animal" của Jo Kwon với vai trò rapper.

BTS ban đầu dự định ra mắt năm 2010 nhưng sau đó đã bị hoãn lại do các thành viên rời bỏ nhóm, chỉ còn lại duy nhất RM. Sau đó ban nhạc lần lượt thêm 6 thành viên, Jimin là thành viên cuối cùng tham gia nhóm. J-Hope từng góp giọng trong ca khúc "Animal", thuộc đĩa đơn solo đầu tay của đàn anh cùng công ty Jo Kwon. Trừ RMJimin, 5 thành viên còn lại cũng xuất hiện trong video âm nhạc "I'm Da One" của Jo Kwon trước khi ra mắt. Nhóm cũng từng tham gia vào những ca khúc của Lee Hyun (8Eight), Kan Miyeon (Baby V.O.X), Lee Seung-gi và buổi hòa nhạc của đàn chị Lim Jeong-hee.

Sáu tháng trước khi ra mắt, BTS bắt đầu thu hút sự chú ý vì sự hiện diện của nhóm trên các trang web truyền thông xã hội khác nhau, cũng như các bài hát trên YouTubeSoundCloud. Nhóm đã phát hành 2 ca khúc cover. Ca khúc "Drank" của Kendrick Lamar được 3 thành viên Jin, RMSuga cover với tên "School of Tears", bài hát nói về xã hội hiện đại cũng như áp lực, bệnh thành tích ở trường học. Ba thành viên khác là Jimin, J-HopeJungkook đã cover "Young, Wild and Free" của Wiz Khalifa thành ca khúc "Graduation Song". Riêng thành viên V lại được giữ bí mật cho đến khi đoạn trailer ra mắt được phát hành.

BTS vào tháng 9 năm 2013

Vào ngày 12 tháng 6 năm 2013, BTS đã phát hành album đầu tay 2 Cool 4 Skool, phần đầu tiên trong chuỗi "bộ ba concept trường học" của nhóm, đồng thời với đĩa đơn "No More Dream", đạt vị trí thứ 124 tại Hàn Quốc trước khi nhanh chóng rơi ra khỏi bảng xếp hạng.[9][10] Mặc dù album đạt vị trí thứ năm tại Hàn Quốc và cuối cùng đã bán được hơn 145,000 bản,[11] nhưng nó không phải là một thành công lớn, chỉ bán được 24,000 bản vào năm 2013.[12] Đĩa đơn tiếp theo của nhóm là "We We Bulletproof Pt. 2" không thành công trên bảng xếp hạng. Trong 2 Cool 4 Skool, BTS đã sử dụng âm thanh hip hop của trường học cũ với những vết xước từ những năm 1980-90 và hình ảnh khốc liệt.[13] Từ khi thành lập, BTS đã bị thuyết phục rằng kể câu chuyện của mình là cách duy nhất để thế hệ trẻ liên quan đến âm nhạc của họ.[14] Lời bài hát của album chủ yếu phản ánh sự hiểu lầm và định kiến ​​đối với họ, sự chỉ trích về xã hội làm giảm giấc mơ của họ, và sự lo lắng và quyết tâm của họ đối với tương lai.[13] Trong quá trình sản xuất album, SugaRM đã viết lại lời bài hát của "No More Dream" hơn 20 lần.[14] Sau khi album được phát hành, nhóm đã xuất hiện trên các chương trình âm nhạc Hàn Quốc. Mặc dù chưa được trau chuốt, những buổi biểu diễn trực tiếp sớm này đã thể hiện tiềm năng của BTS với sự hiện diện mãnh liệt và lôi cuốn trên sân khấu.[15][16] Mở rộng nỗ lực của nhóm sang Nhật Bản, "No More Dream" sau đó đã được thu âm lại bằng tiếng Nhật và phát hành vào tháng 6 năm 2014.[17]

Chúng tôi bắt đầu kể những câu chuyện mà mọi người muốn nghe và sẵn sàng nghe, những câu chuyện mà người khác không thể hoặc sẽ không nói. Chúng tôi đã nói những gì người khác đang cảm thấy giống như sự đau đớn, mối lo ngại và lo lắng. Đó là mục tiêu của chúng tôi hướng đến, để tạo ra sự đồng cảm mà mọi người có thể liên quan.

 —Suga[18]

Vào tháng 9 năm 2013, BTS đã phát hành phần thứ hai cho "bộ ba concept trường học" của nhóm, mini album O! RUL8,2?, cùng với đĩa đơn "N.O" đạt thứ hạng cao nhất ở vị trí 92 ở Hàn Quốc.[19] Mini album đạt vị trí thứ tư tại Hàn Quốc và đã bán được hơn 160,000 bản cho đến nay, bao gồm 34,000 bản trong năm phát hành.[20] Về mặt thực tế, BTS đã không thay đổi về cơ bản âm thanh của nhóm so với 2 Cool 4 Skool, sử dụng âm thanh rap cùng với trap beats, brass và giai điệu có hồn. Mini album mở rộng về chủ đề của những giấc mơ và hạnh phúc, cho thấy sự thất vọng của họ dưới hệ thống giáo dục khắc nghiệt của Hàn Quốc và quyết tâm của họ để đối đầu với cuộc đấu tranh để chứng tỏ bản thân.[21] Mặc dù nhóm đã biểu diễn trên các chương trình âm nhạc Hàn Quốc, nhưng đĩa đơn đã nhanh chóng rơi khỏi bảng xếp hạng.[22] Cùng tháng đó, BTS đã tham gia chương trình thực tế của riêng họ, Rookie King Channel Bangtan của SBS MTV, dựa trên một đài phát sóng giả, "Channel Bangtan", qua đó các thành viên tái hiện lại các chương trình thực tế như VJ Special Forces và MasterChef Korea.[23] Vào cuối năm, BTS đã được công nhận và giành được giải thưởng Nghệ sĩ mới của năm, tại lễ trao giải Melon Music Awards lần thứ 5, Golden Disc Awards lần thứ 28 và Seoul Music Awards lần thứ 23.[24]

2014–2015: Thành công vừa phải và chuyến lưu diễn đầu tiên

BTS vào tháng 3 năm 2014

Nhóm kết lại chuỗi "bộ ba concept trường học" với mini album Skool Luv Affair,[25] được phát hành vào tháng 1 năm 2014 và đứng đầu bảng xếp hạng album Gaon, bán được 100,000 bản trong năm 2014 và đã bán được hơn 250,000 bản cho đến nay.[26] Nó cũng đánh dấu sự xuất hiện đầu tiên của BTS trên bảng xếp hạng album thế giới của Billboard, đứng ở vị trí thứ ba.[25][27] Album bao gồm các đĩa đơn "Boy in Luv" (Hangul: 상남자; RR: Sang-namja) và "Just One Day" (Hangul: 하루만; RR: Haruman), đạt thứ hạng cao nhất ở vị trí 45 và 149 ở Hàn Quốc.[28] Trong khi âm nhạc của Skool Luv Affair vẫn giữ được nhiều ảnh hưởng hip hop của nhóm với sự kết hợp của R&Bhard rock, album lại trùng khớp với sự chuyển đổi theo chủ đề từ giấc mơ và hạnh phúc sang tình yêu, tập trung vào tuổi học trò và tình yêu tuổi trẻ.[29] Sau khi phát hành Skool Luv Affair, BTS đã xuất hiện nhiều lần trên các chương trình âm nhạc Hàn Quốc và tổ chức buổi gặp gỡ người hâm mộ đầu tiên vào tháng 3 với 3,000 người hâm mộ tại Seoul.[30][31] Tháng 7 năm đó, BTS đã tổ chức buổi hòa nhạc đầu tiên của nhóm tại Mỹ ở West Hollywood miễn phí cho 200 người hâm mộ.[32] Vào tháng 8, nhóm cũng xuất hiện lần đầu tiên tại KCONLos Angeles.[33] Mặc dù là nghệ sĩ mới nhất trong danh sách, BTS đã nhận được sự phản ứng cuồng nhiệt của người hâm mộ đến nỗi Billboard lưu ý rằng "họ sẽ không lấy làm ngạc nhiên khi chuyến lưu diễn ở Mỹ của nhóm sẽ được công bố sớm."[34]

Vào tháng 8 năm 2014, BTS đã phát hành album phòng thu Hàn Quốc đầu tiên của nhóm, Dark & ​​Wild, đứng ở vị trí thứ hai tại Hàn Quốc và bán được tổng cộng hơn 200,000 bản.[35] Nó bao gồm hai đĩa đơn, "Danger" và "War of Hormone" (Hangul: 호르몬 전쟁; RR: Horeumon Jeonjaeng), đạt thứ hạng cao nhất ở vị trí 58 và 173 ở Hàn Quốc.[36] Album được xem như một phần mở rộng tường thuật của "bộ ba concept trường học" và một sự chuyển tiếp vào loạt tiếp theo của nhóm. Về mặt thực tế, album đã hợp nhất những âm thanh guitar điện tử mạnh mẽ của rock trong khuôn khổ hip hop và tiếp tục mở rộng âm thanh của nhóm về phía R&B. Chủ đề trung tâm của lời bài hát album tập trung vào việc thể hiện tình cảm của sự trưởng thành, ham muốn tuổi trẻ và thiếu kiên nhẫn cho sự lãng mạn.[37] Trong quá trình sản xuất album, BTS đã thu âm "Danger" trong một studio tạm thời tại một nhà để xe ở Los Angeles.[38] Sau nhiều lần xuất hiện trên các chương trình âm nhạc Hàn Quốc, [39] BTS đã bắt đầu chuyến lưu diễn đầu tiên của nhóm, 2014 BTS Live Trilogy Episode II: The Red Bullet, được tổ chức tại nhiều hội trường và nhà hát ở sáu thành phố Seoul, Kobe, Tokyo, Manila, Singapore, và Bangkok.[40]

Album phòng thu tiếng Nhật đầu tiên của nhóm, Wake Up (2014), được phát hành vào tháng 12, đạt vị trí thứ ba trên bảng xếp hạng album Oricon hàng tuần và bán được 28,000 bản.[41] Cùng với các phiên bản tiếng Nhật được thu âm lại của các bài hát cũ, nó cũng chứa các bài hát gốc "Wake Up" và "The Stars". Để quảng bá cho album, BTS đã tổ chức chuyến lưu diễn Nhật Bản đầu tiên 1st Japan Tour 2015 Wake Up: Open Your Eyes vào tháng 2 năm 2015 cùng với 25,000 người hâm mộ ở bốn thành phố.[42] Sau khi kết thúc thành công chuyến lưu diễn tại Nhật Bản, BTS đã tổ chức buổi hòa nhạc solo thứ hai tại Hàn Quốc, BTS Live Trilogy Episode I: BTS Begins, vào tháng 3 cùng với 6,500 người hâm mộ.[43]

2015–2016: Đột phá chính và thành công thương mại

BTS tại Incheon Hallyu Concert vào ngày 17 tháng 11 năm 2014

Chuyển âm thanh và hình ảnh của nhóm từ hip hop mạnh mẽ, nam tính sang phong cách đa dạng hơn,[44] BTS muốn thể hiện vẻ đẹp và sự lo lắng của "tuổi trẻ" và cái tên "花樣年華" (Hangul: 화양연화; RR: Hwayangyeonhwa), được giải thích một cách lỏng lẻo để định nghĩa "tuổi trẻ" là "khoảnh khắc đẹp nhất trong cuộc đời."[45] Mini album thứ ba của nhóm, The Most Beautiful Moment in Life, Pt. 1 (tháng 3 năm 2015), đã khám phá sự trưởng thành và đau khổ về tình cảm của tuổi trẻ cũng như các mặt vui tươi và thăng hoa của nó.[44] Fuse bao gồm nó là album tiếng Hàn duy nhất trong danh sách 27 album hay nhất năm 2015.[46] Mini album đã bán được hơn 415,000 bản cho đến nay.[47] Ca khúc chủ đề của nó "I Need U" là một trong năm hit đầu tiên của BTS tại Hàn Quốc[48] và giành được chiến thắng trong chương trình âm nhạc đầu tiên trên The Show của SBS MTV.[49] Trong khi đĩa đơn thứ hai, "Dope (Hangul: 쩔어; RR: Jjeoreo)", chỉ đạt vị trí thứ 44 tại Hàn Quốc,[50] nó đã đứng ở vị trí thứ ba trên bảng xếp hạng bài hát kỹ thuật số thế giới của Billboard[51] và trở thành video âm nhạc đầu tiên của nhóm tích lũy hơn 100 triệu lượt xem trên YouTube vào tháng 10.[52] Vào tháng 5, Twitter đã ra mắt biểu tượng cảm xúc K-pop đầu tiên bao gồm BTS.[53] Nhóm đã bắt đầu mở rộng tour diễn vòng quanh thế giới của Red Bullet Tour vào tháng 6, mang tên 2015 Live Trilogy Episode II: The Red Bullet, thăm các thành phố trên khắp châu Á, Châu Đại Dương, Bắc Mỹ và Mỹ Latinh.[40] Đĩa đơn tiếng Nhật thứ tư của nhóm, "For You", được phát hành vào ngày 17 tháng 6 để kỷ niệm lần đầu tiên ra mắt tại Nhật Bản và đứng đầu bảng xếp hạng hàng ngày của Oricon, bán được hơn 42,000 bản trong ngày đầu tiên.[54] BTS sau đó đã biểu diễn tại Summer Sonic Festival của Nhật Bản vào ngày 15 và 16 tháng 8.[55][56]

BTS tại buổi họp báo The Most Beautiful Moment Epilogue in Life vào ngày 7 tháng 5 năm 2016

Vào tháng 11, BTS đã bắt đầu chuyến lưu diễn thứ ba của nhóm, mang tên "The Most Beautiful Moment in Life: On Stage", ra mắt bài hát mới và đĩa đơn từ mini album thứ tư The Most Beautiful Moment in Life, Pt. 2, "Run", trong những ngày ở Seoul.[57] Theo chủ đề, mini album tập trung nhiều hơn vào các khía cạnh nghiêm túc và suy đoán của tuổi trẻ, chạm vào việc theo đuổi thành công, cô đơn, tình cảm với nguồn gốc của họ và sự đau khổ của thế hệ trẻ do điều kiện không thuận lợi trong xã hội hiện tại. Quan trọng, nó đã được ca ngợi là sự hợp nhất thành công phong cách của The Most Beautiful Moment in Life, Pt. 1 với bản sắc ban đầu của BTS.[58] Album đứng đầu bảng xếp hạng album Gaon và bảng xếp hạng album thế giới của Billboard hàng tuần và BTS đã trở thành nhóm nhạc K-pop đầu tiên duy trì vị trí thứ hai trong nhiều tuần.[59][60] Nó cũng đánh dấu sự xuất hiện đầu tiên của nhóm trên bảng xếp hạng Billboard 200, đạt vị trí thứ 171 với hơn 5,000 bản.[61] BTS đã được trao giải Nghệ sĩ trình diễn toàn cầu xuất sắc nhất tại Mnet Asian Music Awards lần thứ 17 để ghi nhận lượng người hâm mộ quốc tế của nhóm. Album tổng hợp tiếng Hàn đầu tiên của nhóm và khép lại "những câu chuyện về tuổi trẻ", The Most Beautiful Moment in Life: Young Forever, được phát hành vào tháng 5 năm 2016. Nó bao gồm ba đĩa đơn mới, top 40 hit "Epilogue: Young Forever", top 10 hit "Fire" (Hangul: 불타오르네; RR: Bultaoreune), và top 20 hit "Save Me".[62][63] Album đứng đầu bảng xếp hạng hàng tuần của Gaon tại Hàn Quốc trong hai tuần liên tiếp và đạt vị trí thứ 107 trên Billboard 200 của Mỹ. The Most Beautiful Moment in Life: Young Forever sau đó đã giành giải thưởng Hàn Quốc lớn đầu tiên của BTS cho Album của năm tại Melon Music Awards lần thứ 8.[64] BTS bắt tay vào chuyến lưu diễn châu Á mở rộng của nhóm, "The Most Beautiful Moment in Life On Stage: Epilogue", từ tháng 5 đến tháng 8, ghé thăm 10 thành phố và gặp gỡ 144,000 người hâm mộ.[65] Trong chuyến lưu diễn của nhóm, BTS đã tổ chức buổi hòa nhạc kéo dài hai ngày tại sân vận động Thể dục dụng cụ Olympic ở Seoul vào tháng 5,[66] và biểu diễn tại cả hai chương trình KCON của Mỹ được tổ chức vào năm đó tại Newark (tháng 6) và Los Angeles (tháng 7).[67][68]

BTS trên thảm đỏ tại lễ trao giải Asia Artist Awards vào ngày 16 tháng 11 năm 2016

Vào tháng 9 năm 2016, BTS đã phát hành album phòng thu Nhật Bản thứ hai của nhóm, mang tên Youth.[69] Nó đã bán được hơn 44.00 bản trong ngày đầu tiên phát hành và đạt vị trí số một tại Nhật Bản.[70] Đơn đặt hàng trước cho album phòng thu Hàn Quốc thứ hai Wings của nhóm, phát hành vào tháng 10 năm 2016, đã tích lũy được hơn 500,000 bản trong tuần đầu tiên.[71] Wings đã kết hợp các chủ đề của tuổi trẻ được trình bày trong "những câu chuyện về tuổi trẻ" trước đây của nhóm với sự cám dỗ và nghịch cảnh, và lần đầu tiên như một nỗ lực lớn của nhóm, bao gồm bảy bài hát solo thể hiện tiềm năng và cá tính của mỗi thành viên với tư cách cá nhân.[72] Album nói chung được các nhà phê bình đón nhận, với Rolling Stone gọi nó là "một trong những album nhạc pop đầy tham vọng về mặt khái niệm và âm thanh nhất năm 2016"[73] trong khi Fuse ca ngợi "chất liệu bài hát dễ bị tổn thương và trung thực" và các bài hát đa dạng.[74] Bài hát "Blood Sweat & Tears" đã đạt được thành tích all-kill trên các bảng xếp hạng âm nhạc tại Hàn Quốc[75] và trở thành bản hit đầu tiên của nhóm trên bảng xếp hạng kỹ thuật số Gaon hàng tuần.[76] Video âm nhạc của nó đã đạt được hơn 6 triệu lượt xem trong vòng 24 giờ, phá vỡ kỷ lục trước đó được giữ trên YouTube để có số lượt xem cao nhất cho video âm nhạc của nhóm nhạc K-pop trong vòng 24 giờ.[77] Wings đã ra mắt ở vị trí 26 trên Billboard 200 của Mỹ, bảng xếp hạng cao nhất từ trước đến nay cho album K-pop và BTS đã trở thành nhóm nhạc Hàn Quốc đầu tiên đứng đầu bảng xếp hạng Billboard Social 50 trong tháng đó.[78] Đó là album "triệu bản" đầu tiên của nhóm,[79] với hơn 1,5 triệu bản bán ra tại Hàn Quốc vào năm đó và trở thành album bán chạy nhất trong lịch sử bảng xếp hạng album Gaon tại thời điểm đó[80] BTS là nghệ sĩ đầu tiên không đến từ một trong ba công ty giải trí hàng đầu của Hàn Quốc (SM, YGJYP), hay còn được gọi là "Big 3" để giành giải Nghệ sĩ của năm tại lễ trao giải Mnet Asian Music Awards lần thứ 18 vào tháng 12.[81][82]

2017: Mở rộng ra thị trường quốc tế và sự hợp tác

BTS tại lễ trao giải Golden Disc Awards vào ngày 14 tháng 1 năm 2017

Vào tháng 2 năm 2017, BTS đã phát hành album tái phát hành của Wings (2016), mang tên You Never Walk Alone. Đơn đặt hàng trước của bản tái phát hành đạt hơn 700,000 bản, phá vỡ kỷ lục cho hầu hết các album được bán trong một tháng.[83][84] Album tái phát hành bao gồm bốn bài hát bổ sung mang lại sự an ủi và khích lệ cho người nghe.[85] Ca khúc chủ đề, "Spring Day" (Hangul: 봄날; RR: Bomnal) đã nhận được lời khen ngợi là "một nghiên cứu hạn chế thông minh, hấp dẫn và khắt khe về sự mất mát và khao khát" mà "cố tình tránh sự sáo rỗng và kịch tính" của Dazed Digital.[86] Thể hiện nỗi nhớ và nỗi buồn, nó đã mở ra một chương mới về tính thẩm mỹ và trữ tình của BTS và thu hút người hâm mộ qua các ranh giới thế hệ.[72] Sau khi phát hành, "Spring Day" đã đứng đầu tám bảng xếp hạng âm nhạc trực tuyến lớn của Hàn Quốc, cũng như Gaon,[87][88] và làm sập bảng xếp hạng kỹ thuật số của Melon do lưu lượng người dùng quá tải.[89] Nó cũng lọt vào bảng xếp hạng Bubling Under Hot 100 đĩa đơn của Billboard ở vị trí thứ 15.[90] Bằng chứng là sức mạnh bền bỉ của nó, "Spring Day" là bài hát xếp hạng lâu nhất trên Melon của một nhóm nhạc thần tượng cho đến nay.[91] "Spring Day" sau đó đã giành giải Bài hát của năm tại Melon Music Awards lần thứ 9.[92][93]

Với việc phát hành You Never Walk Alone, BTS đã bắt đầu chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới thứ hai của nhóm, 2017 BTS Live Trilogy Episode III: The Wings Tour, từ tháng 2 đến tháng 12. Chuyến lưu diễn đã ghé thăm 12 quốc gia bao gồm Brazil, Úc, Nhật Bản, Hồng Kông và Mỹ và thu hút 550,000 người hâm mộ.[94] Trong chuyến lưu diễn, BTS bắt đầu chuyển sang các địa điểm lớn dần, di chuyển từ hội trường vào đấu trường và mái vòm. Vé cho buổi hòa nhạc ở Bắc Mỹ đã được bán hết trong vòng vài phút và hai chương trình bổ sung đã được thêm vào do nhu cầu cao, khiến BTS trở thành nghệ sĩ K-pop đầu tiên bán hết vé tại đấu trường ở Mỹ.[95][96] Sau khi hoàn thành buổi hòa nhạc ở Bắc Mỹ, BTS đã tham dự Billboard Music Awards lần thứ 24 vào tháng 5 và giành giải Nghệ sĩ mạng xã hội hàng đầu, trở thành nhóm nhạc Hàn Quốc đầu tiên được trao giải thưởng âm nhạc Billboard.[97]

Để kỷ niệm 25 năm ra mắt của biểu tượng âm nhạc Hàn Quốc, Seo Taiji như là một phần của dự án kỷ niệm "Time: Traveller", BTS đã phát hành bản làm lại của tác phẩm kinh điển "Come Back Home" năm 1995 của Seo Taiji vào tháng 7 năm 2017, làm lại âm thanh và lời bài hát cho những tình cảm tương tự đối với sự thay đổi xã hội mà Seo Taiji đã tranh luận trong các bài hát của mình.[98] BTS sau đó đã được Seo Taiji mời biểu diễn với tư cách là giọng ca dự phòng và vũ công cho tám bài hát trong buổi hòa nhạc tại sân vận động Olympic Seoul của anh được tổ chức vào đầu tháng 9. Trong buổi hòa nhạc, Seo Taiji thừa nhận sự tương đồng theo chủ đề của BTS với âm nhạc của mình và công nhận nhóm là người kế thừa âm nhạc của anh, tuyên bố: "Đây là thế hệ của bạn ở thời điểm hiện tại. Hãy cho họ thấy."[99][100]

Sau sự miêu tả về sự trưởng thành và cám dỗ trong Wings (2016) và sự an ủi trong You Never Walk Alone (2017), BTS đã bắt tay vào chuỗi album Love Yourself của nhóm để tìm kiếm sự giác ngộ của tình yêu bản thân thông qua "起承轉結" (Hangul: 기승전결; RR: Giseungjeongyeol), trình tự tường thuật về "khởi, thừa, chuyển, kết".[101] Vào tháng 9 năm 2017, BTS đã phát hành phần đầu tiên của chuỗi câu chuyện trong mini album thứ năm của nhóm, Love Yourself: Her[102] và đặc trưng âm nhạc từ Andrew Taggart của The Chainsmokers cho ca khúc "Best of Me".[103] Mini album bao gồm bởi hai đĩa đơn, ca khúc chủ đề "DNA" và bản remix của Steve Aoki trong bài hát "Mic Drop" của nhóm với rapper người Mỹ, Desiigner. Trong trình tự tường thuật, mini album đại diện cho "承," hoặc "sự phát triển" của chuỗi câu chuyện được coi là một trong những bước ngoặt lớn trong sự nghiệp của BTS.[104] Trong câu chuyện lớn hơn, Love Yourself: Her đã mô tả niềm vui và hạnh phúc khi yêu.[101] Về mặt âm thanh, mini album đóng vai trò là "một cuộc khám phá kép về electropophip hop của nhóm", với nửa đầu bao gồm các bài hát vũ đạo nhấn mạnh vào giọng hát của nhóm" trong khi ở nửa sau "khía cạnh hip hop của nhóm đến một cách nghiêm túc... mang đến những màn trình diễn rap mạnh mẽ. "[105]

BTS tại lễ trao giải American Music Awards lần thứ 45 trước khi thực hiện buổi biểu diễn ra mắt đầu tiên trên sóng truyền hình Mỹ vào ngày 19 tháng 11 năm 2017

Về mặt thương mại, BTS tiếp tục đạt đến đỉnh cao sự nghiệp mới với Love Yourself: Her, mini album ra mắt ở vị trí thứ bảy trên Billboard 200 với 31,000 đơn vị album.[106] Tại Hàn Quốc, mini album đã bán được hơn 1,2 triệu bản trên bảng xếp hạng album Gaon trong tháng đầu tiên, đạt doanh số album hàng tháng cao nhất trong lịch sử của bảng xếp hạng và cao nhất trên bất kỳ bảng xếp hạng nào của Hàn Quốc trong 16 năm, đứng thứ hai sau album Chapter 4 của g.o.d năm 2001.[107] Đĩa đơn "DNA" được phát hành đồng thời với mini album và ra mắt ở vị trí thứ hai tại Hàn Quốc. Video âm nhạc của nó đã phá vỡ kỷ lục trước đó cho video âm nhạc của nhóm nhạc K-pop được xem nhiều nhất trong vòng 24 giờ đầu tiên với hơn 20 triệu lượt xem trên YouTube.[108] "DNA" cũng trở thành bài hát đầu tiên của nhóm trong Billboard Hot 100 ở vị trí 85, đưa BTS trở thành nhóm nhạc nam K-pop đầu tiên làm được điều đó và là ca khúc thứ hai của Hàn Quốc với một bài hát tiếng Hàn.[109] Tuần tiếp theo, "DNA" đã tăng lên vị trí 67 và trở thành bài hát có thứ hạng cao nhất trên Billboard Hot 100 cho một nhóm nhạc K-pop, đánh bại kỷ lục trước đó của Wonder Girls ở vị trí 76.[110] Đĩa đơn sau đó "Mic Drop (Remix)" đạt vị trí thứ 28 trên Billboard Hot 100, trở thành top 40 đầu tiên cho nhóm nhạc K-pop trên bảng xếp hạng.[111][112] Cả "Mic Drop Remix" và "DNA" sau đó đều nhận được chứng nhận Vàng[113] bởi Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA)[114] đưa BTS trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên và duy nhất nhận được hai chứng nhận.[115] "Mic Drop" đã tiếp tục nhận được chứng nhận Bạch kim vào tháng 11 năm 2018, đưa BTS trở thành nhóm nhạc Hàn Quốc đầu tiên có đĩa đơn được chứng nhận Bạch kim tại Mỹ.[116] Vào tháng 12 năm 2017, "DNA" và "Mic Drop" đã được phát hành dưới dạng ba đĩa đơn chính tại Nhật Bản với bài hát mới "Crystal Snow",[117] đứng đầu Bảng xếp hạng Oricon[118] và trở thành đĩa đơn bán chạy nhất từ ​​một nghệ sĩ K-pop trong vòng một tuần.[119] Đĩa đơn đã bán được hơn 380,000 bản vào cuối năm nay và BTS đã trở thành nghệ sĩ nước ngoài duy nhất có được bạch kim đôi được chứng nhận bởi Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản (RIAJ) năm đó.[120][121][122][123][124]

Vào tháng 11 năm 2017, BTS đã trở thành nhóm nhạc K-pop đầu tiên biểu diễn tại American Music Awards,[125][126] nâng cao vị thế của nhóm trên phạm vi quốc tế.[127][128] Cùng tháng đó, kỷ lục Guinness thế giới tiết lộ rằng BTS đã giành được một vị trí trong phiên bản 2018 của nhóm cho việc "sở hữu lượt tương tác Twitter nhiều nhất trên thế giới cho một nhóm nhạc".[129] Vào tháng 12, họ cũng đã trở thành nhóm nhạc K-pop đầu tiên biểu diễn vào đêm nhạc Dick Clark's New Year's Rockin' Eve để chào đón năm mới[130] và ra mắt trên chương trình âm nhạc truyền hình Nhật Bản Japan Music Station Super Live của TV Asahi.[131] Vào cuối năm, BTS đã giành giải Nghệ sĩ của năm thứ hai tại Mnet Asian Music Awards lần thứ 19,[132] trở thành nghệ sĩ đầu tiên giành được giải thưởng hai năm liên tiếp.[133][134] Họ cũng trở thành nghệ sĩ đầu tiên ngoài "Big 3" giành được các giải thưởng Daesang tại Golden Disc Awards[135]Seoul Music Awards.[136]

2018: Sự công nhận trên toàn thế giới

Để chuẩn bị cho album tiếp theo của nhóm, BTS đã phát hành một bộ phim tài liệu dài tám tập độc quyền trên YouTube Premium, mang tên Burn the Stage diễn ra từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2018, mang đến cái nhìn hậu trường cho chuyến lưu diễn Wings Tour 2017 của nhóm.[137][138] Vào tháng 4, nhóm cũng đã phát hành album phòng thu tiếng Nhật thứ ba của nhóm, Face Yourself,[139] ra mắt ở vị trí 43 trên Billboard 200 với tư cách là album tiếng Nhật cao thứ ba trong lịch sử của bảng xếp hạng.[140] Cùng với việc phát hành Face Yourself, nhóm đã phát hành một bộ phim ngắn dài 9 phút có tựa đề "Euphoria: Theme of Love Yourself: Wonder," bao gồm bài hát "Euphoria" và thể hiện "起" hay còn được gọi là "khởi" của trình tự tường thuật.[141]

Vào tháng 5 năm 2018, BTS đã phát hành album phòng thu tiếng Hàn thứ ba của nhóm, Love Yourself: Tear kết hợp với sự xuất hiện tại Billboard Music Awards lần thứ 25.[142] Tại chương trình, BTS đã ra mắt với tư cách là người biểu diễn với ca khúc chủ đề, "Fake Love"[143] và giành giải Nghệ sĩ mạng xã hội hàng đầu, khiến họ trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc duy nhất giành được giải thưởng hai năm liên tiếp.[144][145] Trong trình tự tường thuật, album trùng khớp với "轉" hay còn được gọi là "chuyển" của chuỗi câu chuyện, chạm vào sự giác ngộ quanh co của tình yêu mà không được yêu thương và khích lệ cho những người không có ước mơ.[146] Nó nhận được đánh giá tích cực từ các nhà phê bình. Caitlin Kelley từ Billboard đã mô tả album này là "một trong những album theo chủ đề gắn kết nhưng đa dạng nhất theo chủ đề của họ, với sự sản xuất tối đa chống lại lời bài hát về sự trống rỗng",[147] trong khi Sheldon Pearce của Pitchfork viết rằng "công thức là một album theo chủ đề lắt léo, lỏng lẻo về tình yêu và sự mất mát, với sự tập trung mạnh mẽ hơn vào rap hơn bao giờ hết" và nó "nhằm mục đích gắn kết và tạo ra niềm vui, những bài hát lăng kính trong quá trình."[148]

Về mặt thương mại, Love Yourself: Tear là một trong những album thành công nhất của BTS, đưa nhóm lên một tầm cao mới cả trong nước và quốc tế. Album ra mắt ở vị trí số một trên Billboard 200 của Mỹ với 135,000 đơn vị album (bao gồm 100,000 doanh số album thuần túy), trở thành album xếp hạng cao nhất và album số một của BTS ở Mỹ, album K-pop đầu tiên đứng đầu bảng xếp hạng album của Mỹ, và album xếp hạng cao nhất bởi một nghệ sĩ châu Á.[149][150] Love Yourself: Tear cũng trở thành bản hit top 10 đầu tiên của BTS tại Vương quốc Anh, đạt vị trí thứ tám trên bảng xếp hạng album của Vương quốc Anh.[151] Đĩa đơn "Fake Love" của nhóm đã trở thành bản hit đầu tiên đạt vị trí thứ 10 trên Billboard Hot 100, trở thành bài hát không phải ngôn ngữ tiếng Anh thứ mười bảy lọt vào top 10 và đầu tiên của một nhóm nhạc Hàn Quốc.[152][153] "Fake Love" sau đó trở thành đĩa đơn thứ ba của nhóm đạt được chứng nhận Vàng của Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA) vào tháng 8.[154]

Như sự kết thúc của chuỗi album Love Yourself, BTS đã phát hành album tổng hợp tiếng Hàn thứ hai của nhóm Love Yourself: Answer vào tháng 8 năm 2018,[155] bao gồm các bài hát từ các bản phát hành Love Yourself trước đó cùng với bảy bài hát mới.[156] Album bao gồm bởi đĩa đơn "Idol" và bản phát hành kỹ thuật số có sự góp giọng của Nicki Minaj.[157][158] Theo chủ đề, Love Yourself: Answer đã đặt các bài hát của chuỗi album Love Yourself trong câu chuyện "khởi, thừa, chuyển, kết" để minh họa cho sự phấn khích của tình yêu, nỗi đau chia tay và sự giác ngộ của tình yêu bản thân.[159] Quan trọng, album đã nhận được những đánh giá tích cực, với Billboard gọi đó là "đỉnh cao của nhiều năm làm việc và đầy ý nghĩa" và "không thể phủ nhận là một magnum opus (tuyệt tác) từ BTS mà ít nghệ sĩ khác, nhóm nhạc nam hay nói cách khác, có thể hy vọng đạt được."[160]

Về mặt thương mại, bản thu đã bán được hơn 1,9 triệu bản trên bảng xếp hạng album Gaon vào tháng 8 năm 2018, phá vỡ kỷ lục hàng tháng mọi thời đại của bảng xếp hạng một lần nữa.[161] Album đã trở thành album số một thứ hai của BTS trên Billboard 200 của Mỹ và tuần bán hàng cao nhất của nhóm ở nước này,[162] đưa BTS trở thành nhóm nhạc K-pop duy nhất đứng đầu với hai Billboard 200 và nhạc pop đầu tiên với hai album số một trong chưa đầy một năm kể từ khi One Direction đứng đầu bảng xếp hạng với Midnight Memories năm 2013 và Four năm 2014.[162] Love Yourself: Answer sau đó trở thành album tiếng Hàn đầu tiên nhận được chứng nhận Vàng bởi Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA) vào tháng 11.[116] Tại Canada, Love Yourself: Answer đã trở thành album số một đầu tiên của nhóm trên bảng xếp hạng album Canada. Tại Mỹ, "Idol" đạt vị trí thứ 11 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100.[163] Đĩa đơn "Idol" cũng đạt vị trí thứ năm trên bảng xếp hạng đĩa đơn Canada, đánh dấu mười bản hit đầu tiên của BTS tại Canada.[164] Video âm nhạc cho "Idol" đã nhận được hơn 45 triệu lượt xem trong 24 giờ đầu tiên trên YouTube, phá vỡ kỷ lục được Taylor Swift thiết lập trước đó với "Look What You Made Me Do".[165]

Citi Field của thành phố New York, địa điểm tổ chức buổi hòa nhạc ở sân vận động đầu tiên của BTS tại Mỹ, đã được bán sạch vé trong 20 phút

Sau khi Love Yourself: Answer phát hành vào tháng 8 năm 2018, BTS đã bắt đầu chuyến lưu diễn thế giới thứ ba của nhóm, mang tên BTS World Tour: Love Yourself, với một buổi hòa nhạc mang tính bước ngoặt tại sân vận động Olympic Seoul, sân vận động lớn nhất ở Hàn Quốc.[166] Trong chuyến lưu diễn của nhóm, BTS cũng đã giới thiệu đĩa đơn "Waste It On Me" của Steve Aoki phát hành vào tháng 10, đây là bài hát mang ngôn ngữ tiếng Anh đầu tiên và duy nhất của nhóm.[167][168] Trong chuyến lưu diễn, BTS tiếp tục chơi đến các địa điểm lớn hơn từ đấu trường đến mái vòm đến sân vận động. Đối với điểm dừng cuối cùng của chặng Bắc Mỹ, ban nhạc đã biểu diễn tại Citi Field, đánh dấu lần đầu tiên một nghệ sĩ của Hàn Quốc biểu diễn tại một sân vận động ở Mỹ.[169] Tất cả 40,000 vé cho buổi biểu diễn ở sân vận động đã được bán hết trong vòng dưới 20 phút. Theo StubHub, BTS là một trong những nghệ sĩ có buổi hòa nhạc bán chạy nhất năm 2018 tại các thị trường quốc tế ngoài Mỹ, chỉ đứng sau Ed Sheeran.[170] Vivid Seats đã gọi BTS là nghệ sĩ của năm 2018, trích dẫn buổi hòa nhạc làm nên lịch sử của nhóm tại Citi Field.[171] Chuyến lưu diễn cũng nhận được đánh giá tích cực từ các nhà phê bình. Philip Cosores từ Uproxx đã mô tả bốn đêm diễn của BTS tại Trung tâm Staples là một "trải nghiệm đa giác quan, rộng lớn" mang đến một "trải nghiệm đa dạng" và "đa văn hóa" trong đó âm nhạc đã vượt qua mọi rào cản ngôn ngữ,[172] trong khi Crystal Bell từ MTV nói "BTS đã tạo ra một trải nghiệm thật quyến rũ, bao quát và rất ấn tượng về mặt thị giác đến nỗi nó đã củng cố nhóm là một trong những nhóm nhạc quan trọng nhất trong làng nhạc pop hiện nay."[173]

Tháng 10 năm đó, với hơn một năm còn lại trong hợp đồng của nhóm, BTS đã gia hạn hợp đồng với Big Hit Entertainment đến năm 2026.[174]

BTS trên thảm đỏ tại lễ trao giải Korean Popular Culture & Arts Awards vào ngày 24 tháng 10 năm 2018

Đầu tháng 11 năm 2018, một chương trình âm nhạc nổi tiếng của Nhật Bản đã hủy buổi biểu diễn của BTS với lý do áo phông mà một thành viên mặc năm trước.[175] Trong cùng tháng đó, tổ chức nhân quyền của người Do Thái, Trung tâm Simon Wiesenthal (SWC) tuyên bố BTS đã nợ nạn nhân một lời xin lỗi cho chiếc áo năm 2017, có liên quan đến biểu tượng Đức Quốc Xã, và một lá cờ.[176] Big Hit Entertainment đã đưa ra lời xin lỗi, nói rằng những hình ảnh trên quần áo không nhằm mục đích gây tổn thương cho nạn nhân của chủ nghĩa quốc xã hoặc vụ đánh bom nguyên tử, và nhóm và ban quản lý sẽ thực hiện các bước để ngăn chặn những sai lầm trong tương lai. Họ cũng tuyên bố những lá cờ có ý nghĩa là một bình luận về hệ thống trường học Hàn Quốc.[177] Lời xin lỗi đã được SWC và Hiệp hội nạn nhân bom nguyên tử Hàn Quốc chấp nhận.[178][179]

BTS trên thảm đỏ tại lễ trao giải Melon Music Awards vào ngày 1 tháng 12 năm 2018

Lấn sang thị trường phim ảnh, BTS đã phát hành phim điện ảnh Burn the Stage: The Movie tại các rạp chiếu phim trên toàn thế giới vào tháng 11 năm 2018 và đạt thành công về mặt thương mại. Tại Mỹ, nó đã tích lũy được 1,2 triệu USD vào ngày khai mạc với tổng số 3,54 triệu USD trong ba ngày cuối tuần, phá vỡ kỷ lục về sản xuất âm nhạc điện ảnh có doanh thu cao nhất được thành lập trước đó vào năm 2014 bởi ban nhạc One Direction. Nó đứng ở vị trí thứ mười ở phòng vé mặc dù chỉ bán được 620 địa điểm so với 2,000–4,000 địa điểm cho mười người bán hàng đầu khác.[180]

Vào cuối năm, BTS đã giành giải Nghệ sĩ của năm thứ ba tại Mnet Asian Music Awards lần thứ 20 liên tiếp và xếp thứ tám trong bảng xếp hạng nghệ sĩ hàng đầu của Billboard bên cạnh những nghệ sĩ khác như DrakeTaylor Swift và cũng đứng thứ hai nghệ sĩ của năm trong bảng xếp hạng Duo / Group, chỉ đứng sau Imagine Dragons.[181][182] Nhóm đã bán được hơn 10 triệu album chỉ riêng ở Hàn Quốc, với 5 triệu được bán trong năm 2018.[183]

2019: Map of the Soul: Persona, chuyến lưu diễn thế giới và BTS World

BTS trên thảm đỏ tại lễ trao giải Seoul Music Awards vào ngày 15 tháng 1 năm 2019

Vào tháng 2 năm 2019, BTS đã tham dự lễ trao giải Grammy Awards lần thứ 61 với tư cách là người trao giải thưởng.[184][185] Đó là lần đầu tiên họ tham dự sự kiện sau sự xuất hiện của nhóm tại Bảo tàng Grammy năm 2018.[186][187]

Vào tháng 4, BTS đã trở thành nghệ sĩ châu Á đầu tiên vượt qua 5 tỷ lượt nghe nhạc trên Spotify,[188]Time đặt tên họ là một trong những người có ảnh hưởng nhất của Time 100 năm 2019.[189] Mini album thứ sáu của nhóm, Map of the Soul: Persona, được phát hành vào ngày 12 tháng 4 với đĩa đơn "Boy With Luv" (Hangul: 작은 것들을 위한 시; RR: Jageun geotdeureul wihan si), hợp tác với ca sĩ người Mỹ, Halsey.[190] Sau khi mini album được phát hành, nhóm đã buổi biểu diễn trên Saturday Night Live, là nghệ sĩ đầu tiên của Hàn Quốc làm được như vậy.[191] Sự xuất hiện của nhóm được dự đoán là một trong những sự kiện lớn nhất trong lịch sử chương trình.[192] Về mặt thương mại, BTS đạt đến đỉnh cao sự nghiệp mới. Map of the Soul: Persona trở thành album tiếng Hàn đầu tiên đạt vị trí số một ở cả Vương quốc Anh và Úc[193][194] và album thứ ba liên tiếp của nhóm đứng đầu Billboard 200 và thứ ba trong vòng mười một tháng, bên cạnh The Beatles, ban nhạc đạt được điều tương tự vào năm 1995–96. Mini album đã trở thành album vật lý bán chạy nhất tại Mỹ trong năm 2019, với doanh số bán hàng vật lý là 312,000.[195] Map of the Soul: Persona sau đó trở thành album bán chạy nhất tại Hàn Quốc, với hơn 3,2 triệu bản bán ra trong vòng chưa đầy một tháng. Trước BTS, album bán chạy nhất đã bị chi phối bởi các album cuối thập niên 90, khiến BTS trở thành nghệ sĩ duy nhất được hình thành sau năm 2000 được đưa vào danh sách top 10 bán chạy nhất.[196] "Boy With Luv" ra mắt ở vị trí thứ 8 trên Billboard Hot 100, cao nhất trong lịch sử của một nhóm nhạc Hàn Quốc,[197] và video âm nhạc của nó đã trở thành video trực tuyến được xem nhiều nhất trong vòng 24 giờ đầu tiên năm 2019, tích lũy được hơn 74,6 triệu lượt xem.[198] "Boy With Luv" đã được chứng nhận ở nhiều quốc gia, bao gồm cả Úc, nơi được chứng nhận Vàng khi bán 35,000 đơn vị,[199] và Mỹ nơi Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Mỹ (RIAA) chứng nhận Bạch kim đã bán được hơn một triệu đơn vị. Map of the Soul: Persona cũng đã đạt được chứng nhận Bạc ở Anh, bán được hơn 60,000 đơn vị.[200]

BTS biểu diễn tại sân vận động Rose Bowl trước 60,000 người hâm mộ

Sau hai chiến thắng của nhóm tại Billboard Music Awards lần thứ 26 vào tháng 5, bao gồm Bộ đôi/Nhóm nhạc hàng đầu, BTS đã bắt tay vào việc mở rộng sân vận động chuyến lưu diễn thế giới của nhóm, Love Yourself: SpeakYourself, với các ngày ở nhiều địa điểm sân vận động bao gồm sân vận động Wembley, Stade de France, MetLife Stadium, sân vận động Rose Bowl, và Soldier Field.[201] Với điều này, họ đã trở thành nghệ sĩ châu Á đầu tiên từng đứng đầu và bán hết tại sân vận động Wembley.[202] Tất cả các ngày được bán hết trong vòng 2 giờ, với ngày thứ hai cho tất cả các địa điểm được thêm vào do nhu cầu cao.[203] Trong chuyến lưu diễn, BTS đã biểu diễn trong chương trình The Late Show with Stephen Colbert[204] và khởi động "Summer Concert Series" của Good Morning America với tư cách là người đứng đầu tại Central Park ở Manhattan.[205] Họ cũng đã biểu diễn trong tập cuối của The Voice[206] và một trong những trận bán kết của Britain's Got Talent.[207]

Trước khi trò chơi di động mới BTS World được phát hành vào tháng 6 năm 2019, BTS đã phát hành ba đĩa đơn hợp tác, "Dream Glow" với ca sĩ người Anh, Charli XCX,[208] "A Brand New Day" với ca sĩ Thụy Điển, Zara Larsson,[209] và "All Night" với sự tham gia của rapper người Mỹ, Juice Wrld.[210] Nhóm cũng đã phát hành bài hát "Heartbeat" với một video âm nhạc từ nhạc phim chính thức của trò chơi, có tựa đề BTS World: Original Soundtrack.[211] Nhạc phim sau đó đã được trao chứng nhận Bạch kim kép bởi Gaon vào ngày 8 tháng 8 khi bán được hơn 500,000 bản, album nhạc phim đầu tiên nhận được chứng nhận kể từ khi Gaon thực hiện nó vào năm ngoái.[212] Được phát triển bởi công ty Netmarble của Hàn Quốc, trò chơi được phát hành vào ngày 26 tháng 6 tới các hệ thống iOSAndroid tại hơn 175 quốc gia.[213] Đĩa đơn tiếng Nhật thứ mười của BTS và tổng thể bài hát tiếng Nhật thứ tư, "Lights", được phát hành vào ngày 3 tháng 7.[214] Đơn đặt hàng trước cho đĩa đơn đôi đã vượt qua 1 triệu bản, phá vỡ kỷ lục 24 năm cho các nghệ sĩ nước ngoài trước đây chỉ được giữ bởi Celine Dion với đĩa đơn năm 1995 "To Love You More". Điều này đánh dấu lần đầu tiên một nghệ sĩ Hàn Quốc đạt được một triệu lô hàng cho một đĩa đơn ở Nhật Bản.[215][216] "Lights" tiếp tục bán được hơn một triệu bản và nhận được chứng nhận Triệu bản của Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản (RIAJ) vào ngày 8 tháng 8, lần đầu tiên một nghệ sĩ nam đạt được điều này kể từ đĩa đơn tháng 8 năm 2007 "A Thousand Winds" của Masafumi Akikawa, 11 năm và 11 tháng trước. BTS cũng là nam nghệ sĩ nước ngoài đầu tiên thực hiện điều này. Đây là chứng nhận Triệu bản đầu tiên của nhóm tại Nhật Bản kể từ khi ra mắt.[217]

Cả hai Love Yourself: HerLove Yourself: Tear đều đã vượt qua 2 triệu bản trong tháng 8,[218] đã được Gaon trao chứng nhận Double Million. Đây là album thứ hai của BTS thực hiện theo chứng nhận của Love Yourself: Answer vào tháng 10 năm 2018.[219][220] Cả ba album của chuỗi album Love Yourself đã bán được hơn 2 triệu bản cho mỗi bản tại Hàn Quốc.

Nghệ thuật và phong cách âm nhạc

Thành viên Jin (giữa) biểu diễn bài hát "ay-oh" của Freddie Mercury tại buổi hòa nhạc đầu tiên của nhóm tại sân vận động Wembley vào ngày 1 tháng 6 năm 2019

Ảnh hưởng

BTS đã trích dẫn Nas, Eminem, Kanye West, Drake, Post Malone, và Charlie Puth là nguồn cảm hứng âm nhạc.[221] Họ cũng đã trích dẫn Queen là một người có ảnh hưởng, nói rằng họ "lớn lên khi xem các video của Live Aid". Trong buổi hòa nhạc của nhóm tại sân vận động Wembley ở London, Jin đã tỏ lòng kính trọng với Queen bằng cách dẫn dắt đám đông trong một phiên bản "ay-oh" của Freddie Mercury từ buổi hòa nhạc Live Aid.[222]

BTS cũng bị ảnh hưởng bởi nhiều phương tiện văn học, tâm lý, nghệ thuật và triết học. Album Wings (2016) của nhóm được lấy cảm hứng từ cuốn tiểu thuyết Demian sắp ra mắt của Hermann Hesse's.[223] Bài hát "Blood Sweat & Tears" của nhóm đề cập đến Thus Spoke Zurathustra của Friedrich Nietzsche, The Lament for Icarus của Herbert James Draper, Landscape with the Fall of Icarus của Pieter Bruegel, và The Fall of the Rebel Angels của Pieter Bruegel bằng cách trích dẫn Nietzsche và giới thiệu ba bức tranh nói trên trong video âm nhạc.[224] Video âm nhạc "Spring Day" của nhóm chứa các tài liệu tham khảo trữ tình và trực quan về truyện ngắn The Ones Who Walk Away from Omelas của Ursula Le Guin.[225] Chuỗi album Love Yourself chịu ảnh hưởng chủ yếu từ The Art of Loving của Erich Fromm,[226] trong khi bài hát "Magic Shop" của Love Yourself: Tear (2018) được lấy cảm hứng từ cuốn hồi ký Into the Magic Shop của James R. Doty.[227] Album 2019 của nhóm Map of the Soul: Persona được lấy tên từ Jung's Map of the Soul: An Introduction của Murray Stein.[228]

Phong cách âm nhạc

BTS đồng viết lời, sáng tác và sản xuất phần lớn các sản phẩm âm nhạc của mình, mà một số phương tiện truyền thông đã quy kết đó là sự thành công của nhóm.[229][230] Kể từ khi thành lập, BTS đã phát triển và duy trì phong cách "âm nhạc tổng hợp", chú trọng vào hip hop như nền tảng âm nhạc của nhóm,[231] phần lớn là do ảnh hưởng của RMSuga với tư cách là underground rappers[232] và nhà sản xuất chính Pdogg.[233] Thay vì muốn gắn bó với một thể loại cụ thể, BTS đã thể hiện các yếu tố hoàn toàn mới vào các bài hát của nhóm cho mỗi album mới.[231] Âm thanh của BTS bắt đầu bằng những ảnh hưởng hip hop của trường học cũ được nghe trong 2 Cool 4 SkoolO!RUL8,2?,[13] nhưng đã phát triển để bao gồm R&Brock với Skool Luv AffairDark and Wild,[234][37] orchestral strings và electronic dance music với chuỗi album The Most Beautiful Moment in Life,[58] moombahton, neo soul, và gospel trong WingsYou Never Walk Alone,[235][72]future bass, latin pop, và jazz hip hop trong chuỗi album Love Yourself.[101]

Lời bài hát và chủ đề

Lời bài hát của BTS được biết đến với lời bình luận xã hội, thường kết hợp những lời chỉ trích về xã hội Hàn Quốc. Các bài hát như "No More Dream" và "N.O" từ "bộ ba concept trường học" đã được thúc đẩy sâu sắc bởi kinh nghiệm của họ với sự nhấn mạnh của Hàn Quốc về giáo dục và kêu gọi thay đổi hệ thống giáo dục và kỳ vọng của xã hội.[236] Những trải nghiệm của họ với văn hóa giới trẻ ở Hàn Quốc đã truyền cảm hứng cho các bài hát như "Dope" và "Silver Spoon" (Hangul: 뱁새; RR: Baepsae) từ "chuỗi câu chuyện về tuổi trẻ" của họ, đề cập đến sự chênh lệch thế hệ và từ bỏ hàng ngàn mối quan hệ lãng mạn, hôn nhân, trẻ em , việc làm phù hợp, nhà cửa và đời sống xã hội trước những khó khăn kinh tế và bệnh xã hội trong khi phải đối mặt với sự lên án từ giới truyền thông và các thế hệ cũ.[236] Bài hát "Am I Wrong" từ Wings (2016) đặt câu hỏi cho sự thờ ơ của xã hội đối với tình trạng của các sự kiện hiện tại, lời bài hát "Chúng ta đều là chó và lợn / chúng ta trở thành chó vì chúng ta tức giận" đề cập đến vụ việc quan chức của Bộ Giáo dục Hàn Quốc, Na Hyang-wook, người đề xướng hệ thống đẳng cấp và mô tả người bình thường là "chó và lợn", và BTS đã biểu diễn bài hát này trên truyền hình trong vụ bê bối chính trị năm 2016 của Hàn Quốc dẫn đến việc luận tội Cựu Tổng thống, Park Geun-hye.[236] Cuộc đấu tranh cá nhân của RMSuga với các bài hát lấy cảm hứng từ sức khỏe tâm thần như "Tomorrow", "Intro: The Most Beautiful Moment in Life", "So Far Away", "The Last", và "Forever Rain."[237][238] "Not Today" từ You Never Walk Alone (2017) là một bài hát chống đối thiết chế, với những thông điệp ủng hộ các nhóm thiểu số, [239] trong khi "Spring Day" được tạo ra với mục đích tưởng nhớ các nạn nhân xấu số và xoa dịu nỗi đau mất mát của những người ở lại trong vụ lật phà Sewol.[240]

Các album của BTS có các chủ đề định kỳ thuộc chủ đề "phản ánh tuổi trẻ".[6] "Bộ ba concept trường học" của họ đã khám phá "những rắc rối và lo lắng của tuổi trẻ ở tuổi đi học".[241] "Những câu chuyện về tuổi trẻ" của nhóm đã giải quyết một chủ đề mà đại đa số thanh niên trải nghiệm, nhưng rất ít nhạc sĩ nhạc pop nói rõ "sức khỏe tâm thần và mong muốn thuộc về xã hội".[241] Wings (2016) tập trung vào cám dỗ và tội lỗi.[242] Chuỗi album Love Yourself đã sử dụng một hình thức kể chuyện để minh họa cho sự phấn khích của tình yêu, nỗi đau của sự chia tay và sự giác ngộ của tình yêu cho bản thân.[159]

Kể từ khi thành lập, BTS đã có niềm tin rằng kể câu chuyện của mình là cách duy nhất để thế hệ trẻ có thể liên quan đến âm nhạc của họ.[14] Viết hơn 90% lời bài hát,[243] BTS cố gắng đưa vào những trải nghiệm mà mọi người đã cảm thấy trong cuộc sống, chẳng hạn như nỗi buồn và sự cô đơn, và biến chúng thành một thứ gì đó nhẹ nhàng và dễ quản lý hơn. Liên quan đến chủ nghĩa trữ tình của nhóm, RM tuyên bố anh cố gắng không phát ra âm thanh như thể họ đang rao giảng hay khiển trách mọi người trong các bài hát của họ vì mọi người đều có cuộc sống khác nhau và số phận khác nhau.[244] Khi được hỏi nó có khó khăn khi viết về những thứ như sức khỏe tâm thần không, Suga trả lời,

"Chúng tôi cảm thấy rằng những người có nền tảng để nói về những điều đó thực sự nên nói nhiều hơn, bởi vì họ nói rằng trầm cảm là thứ bạn đến bệnh viện và bạn được chẩn đoán, nhưng bạn thực sự không thể biết cho đến khi bác sĩ nói chuyện với bạn. [...] Càng ngày, tôi nghĩ các nghệ sĩ hoặc người nổi tiếng có tiếng nói nên nói về những vấn đề này và đưa nó lên bề ngoài."[245]

BTS đã được ca ngợi vì "nói một cách trung thực về các chủ đề mà họ cho là quan trọng, ngay cả trong một xã hội bảo thủ" bởi Jeff Benjamin trên tạp chí Fuse.[85] Tổng thống Hàn Quốc, Moon Jae-in, trong một lá thư gửi cho BTS, đã nhận ra sự chân thành và sự đa dạng là chìa khóa thành công của họ, ông viết, "Mỗi người trong số bảy thành viên hát theo cách đúng với bản thân và cuộc sống mà anh ta muốn sống. Giai điệu và lời bài hát của họ vượt ra khỏi biên giới khu vực, ngôn ngữ, văn hóa và thể chế. "[246]

Tác động và ảnh hưởng

BTS biểu diễn tại buổi hòa nhạc hữu nghị Hàn Quốc-Pháp tại Paris vào ngày 14 tháng 10 năm 2018

BTS đã được mô tả là "dễ dàng là cái tên lớn nhất và thành công nhất trong K-pop trên thế giới có thể "làm những điều mà không có tên nào khác trong thể loại của họ có thể",[247] với Time đặt cho họ biệt danh "Princes of Pop".[248] Là nghệ sĩ không nói tiếng Anh đầu tiên tạo ra Global Artist Chart năm 2018, BTS có album bán chạy thứ hai và thứ ba trên toàn thế giới và là nghệ sĩ bán chạy thứ hai trên toàn thế giới về các nền tảng physical, digital và streaming đứng thứ hai chỉ sau Drake.[249][250][251] Tại Mỹ, BTS chiếm 72,7% đơn vị tiêu thụ album được tạo ra bởi các nghệ sĩ K-pop vào năm 2018 trong tổng số 17 nghệ sĩ.[252] Tại Hàn Quốc, BTS chiếm 41,9% doanh số album trong nửa đầu năm 2019, tăng từ thị phần 25,3% của năm trước.[253]

BTS cũng đã xuất hiện trong các danh sách quyền lực khác nhau. Những người nổi tiếng được tweet nhiều nhất trên thế giới trong năm 2017 và 2018,[254][255] nhóm đã được đưa vào danh sách 25 người có ảnh hưởng nhất trên mạng xã hội từ năm 2017 đến 2019,[256] nổi bật trên trang bìa phiên bản quốc tế tháng 10 năm 2018 của tạp chí với tên gọi "Next Generation Leaders",[257] và được liệt kê là một trong những người có ảnh hưởng nhất của Time 100 năm 2019.[258] BTS cũng xuất hiện trong 50 người có ảnh hưởng nhất năm 2018 của Bloomberg Markets,[259] và Forbes Hàn Quốc đã gọi họ là những người nổi tiếng có ảnh hưởng thứ năm của Hàn Quốc năm 2017 và là người nổi tiếng có ảnh hưởng nhất của Hàn Quốc năm 2018.[260][261] Năm 2019, BTS xếp thứ 43 trong danh sách 100 người nổi tiếng được trả lương cao nhất của Forbes với thu nhập 57 triệu USD.[262] BTS cũng đứng đầu trong danh sách "Top Rank Global Sustainable Future Leaders" trong một thông báo từ hiệp hội SDG do Liên Hợp Quốc tài trợ tại trụ sở Liên Hợp Quốc, trong khi fanclub của BTS, ARMY, được ghi nhận là "Top Rank Sustainable Global Group". Những người đáng chú ý khác trong danh sách này là Malala YousafzaiBill Gates.[263][264][265] Ảnh hưởng của nhóm đã khiến BTS nhận được lời mời tham gia Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc lần thứ 73[266] và biểu diễn trước 400 quan chức bao gồm Tổng thống Hàn Quốc, Moon Jae-in tại buổi hòa nhạc hữu nghị Hàn Quốc-Pháp 2018 ở Paris, một hội nghị thượng đỉnh nhằm thể hiện mối quan hệ thân thiện giữa PhápHàn Quốc.[267] Do những đóng góp của nhóm trong việc truyền bá văn hóa và ngôn ngữ Hàn Quốc, BTS đã trở thành người trẻ tuổi nhất từng được vinh danh Huân chương Văn hóa của Tổng thống Hàn Quốc năm 2018.[268]

BTS đã hồi sinh đáng kể nền kinh tế Hàn Quốc[269] và ngành công nghiệp âm nhạc toàn cầu. Được cho là sự gia tăng phổ biến của việc mua bán các mặt hàng K-pop trực tuyến[270] và sự phát triển của làn sóng Hàn Quốc giữa năm 2016 và 2018 bởi Dịch vụ Hải quan Hàn Quốc và Quỹ Hàn Quốc,[271] BTS đã được trích dẫn là một trong những động lực chính cho sự phục hồi của ngành liên quan đến âm nhạc Hàn Quốc đến mức được phán đoán trước khi Trung Quốc ban lệnh cấm các nội dung văn hóa trong nước đối với các mối quan hệ ngoại giao từ năm 2016.[272] Yung Duk-kim, phó chủ tịch và giám đốc điều hành của Cơ quan nội dung sáng tạo Hàn Quốc, tuyên bố K-pop đã tăng vọt vì sự nổi tiếng của BTS tăng lên, tạo ra công ăn việc làm không chỉ cho BTS và đội của họ mà còn cả các thần tượng K-pop khác.[273] Các hãng tin khác nhau đặt ra thuật ngữ "hiệu ứng BTS" để chỉ các hiệu ứng thương mại của ảnh hưởng của BTS, như khi tài khoản tiết kiệm của Ngân hàng KB Kookmin tăng gấp sáu lần so với năm trước sau khi BTS làm người mẫu quảng cáo và khi giá cổ phiếu của các công ty giải trí tại Hàn Quốc đã tăng vọt trong năm ngày sau khi BTS đứng đầu Billboard 200 của Mỹ.[274][275][276] Hiệu quả cũng được ghi nhận khi các công ty gắn liền với BTS, như Netmarble, NetMark, Soribada, Key Shares, GMP, Diffie và Mattel tăng giá cổ phiếu của họ.[277][278] Công ty dữ liệu SM2 Networks ước tính Hyundai Motor đã nhận được 600 tỷ KRW (502 triệu USD) kết quả quảng cáo sau khi đưa BTS trở thành người mẫu quảng cáo của họ vào năm 2018.[279] Đăng ký làm đại sứ du lịch vào năm 2017, Chính quyền Thành phố Seoul cho rằng BTS phục hồi ngành du lịch đang thu hẹp của Seoul sau cuộc tranh cãi THAAD năm 2016, mang lại trung bình khoảng 790,000 khách du lịch đến Hàn Quốc hàng năm.[280] Vào tháng 12 năm 2018, Viện nghiên cứu của Hyundai ước tính rằng BTS trị giá hơn 3,67 tỷ USD cho nền kinh tế Hàn Quốc mỗi năm, thu hút một trong mười ba người nước ngoài đến thăm Hàn Quốc.[281][282] Tính đến tháng 6 năm 2019, hiệu quả kinh tế của BTS đối với Hàn Quốc được ước tính là hơn 5,5 nghìn tỷ KRW (4,65 tỷ USD) mỗi năm.[283] Các cuộc họp fan hâm mộ hai ngày của BTS được tổ chức tại Seoul và Busan vào tháng 6 năm 2019 đã tạo ra tổng hiệu quả kinh tế là 480 tỷ KRW (408 triệu USD) cho cả hai thành phố, chiếm 1,6% GDP 2018 của Busan và 0,9% GDP 2018 của Seoul.[284] Bên ngoài Hàn Quốc, các buổi hòa nhạc của BTS tại sân vận động Wembley cũng được ước tính đã mang lại khoảng 100 tỷ KRW (82 triệu USD) như một hiệu ứng kinh tế trực tiếp cho thành phố Luân Đôn.[285] Cùng với Ariana GrandeDrake, BTS đã được ghi nhận là một nghệ sĩ quan trọng giúp tăng doanh số âm nhạc toàn cầu lên 19 tỷ USD vào năm 2018. Lợi nhuận như vậy đã không được nhìn thấy kể từ năm 2006.[286]

Tác phẩm của BTS đã ảnh hưởng đến nhiều nghệ sĩ, bao gồm (G)I-dle,[287] Hyunho của D-Crunch,[288] Younghoon và Hwall của The Boyz,[289] Zuho của SF9,[290] Euna Kim,[291] Jaehyun của Golden Child,[292] Wanna One,[293] IN2IT,[294] Park Ji-hoon,[295] Kim Dong-han,[296][297] Seven O'Clock,[298] Hyeongseop X Euiwoong,[299] Noir,[300] Sejun và Byungchan của Victon,[301] và Loona.[302] Sau khi BTS phát hành "Idol", Trung tâm Gugak Quốc gia đã phải mở rộng lượng âm thanh nhạc cụ Hàn Quốc có sẵn do nhu cầu ngày càng tăng từ các nhà sản xuất Hàn Quốc và nước ngoài.[303] Các nhóm nhạc thần tượng K-pop khác cũng bắt đầu thay đổi chủ đề lời bài hát của họ từ những câu chuyện tình yêu sang những từ ngữ như "tìm kiếm chính mình" theo thời đại Love Yourself của BTS và bài phát biểu của RM tại Liên Hợp Quốc.[304]

Thương mại

Quảng cáo

BTS đã duy trì nhiều hợp đồng quảng cáo toàn cầu trong các ngành công nghiệp khác nhau trong suốt sự nghiệp của nhóm. Hợp tác với Puma từ năm 2015, BTS ban đầu quảng bá trang phục thể thao với tư cách là đại sứ thương hiệu của Puma Hàn Quốc trước khi mở rộng để trở thành đại sứ toàn cầu vào năm 2018[305][306] và quảng bá bản phối lại của dòng "Torino" và "Sportstyle" của Puma trên toàn thế giới.[307][308] BTS từng là đại sứ thương hiệu toàn cầu cho LG Electronics để quảng bá dòng điện thoại LG G7 ThinQ,[309] và cho Hyundai Motors như một phần trong các chương trình quảng bá của công ty tại LA Auto Show 2018 cho chiếc SUV hàng đầu năm 2019 của họ "Palisade".[310] Nhờ sự nổi tiếng của BTS, Hyundai đã nhận được gần gấp đôi khối lượng đặt hàng trong nước dự kiến của họ cho mẫu xe "Palisade".[311] Trong lĩnh vực du lịch, BTS đã làm việc như một người mẫu thương hiệu cho Lotte Duty Free Shop từ năm 2017[312] và là đại sứ du lịch danh dự cho Seoul như một phần của chiến dịch "I Seoul U". Chương trình quảng cáo được sản xuất bởi Chính quyền Thành phố Seoul, có sự góp mặt của nhóm, được phát sóng trên hơn 100 quốc gia.[313] BTS cũng hợp tác với ứng dụng truyền thông nổi tiếng của Hàn Quốc, Line, để tạo ra nhân vật Line mới có tên BT21. Sự hợp tác ban đầu tạo ra biểu tượng cảm xúc và nhãn dán điện tử, nhưng sau đó được mở rộng để bao gồm thời trang, giày dép, phụ kiện và các hàng hóa khác nhau.[314] Các cửa hàng Line đã mở khắp Seoul trước khi lan rộng ra thị trường toàn cầu vào Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông và Mỹ.[315]

Người hâm mộ mua sắm hàng hóa BT21 tại cửa hàng Line Friends ở Mapo-gu, Seoul, Hàn Quốc

Trong lĩnh vực giải trí, BTS đã xuất bản truyện tranh Hip Hop MonsterWe On thông qua cổng thông tin Nate Webtoon, và bộ truyện tranh Save Me hợp tác với LICO và Line Webtoon.[316][317][318] Trong ngành công nghiệp đồ chơi, Mattel đã tạo ra những con búp bê được mô phỏng theo trang phục của BTS từ video âm nhạc "Idol",[278] Medicom Toy đã tạo ra "BE@RBRICK", một đồ chơi giống như khối có logo BTS và các điểm nhấn được mô phỏng theo trang phục sân khấu của BTS,[319] và Funko đã phát hành phiên bản của BTS cho Funko Pops.[320] Trong ngành công nghiệp game, Nexon đã phát hành avatar nhân vật dựa trên BTS cho trò chơi RPG của họ Elsword,[321] và BTS đã làm việc với DalcomSoft để phát hành trò chơi nhịp điệu Superstar BTS vào tháng 1 năm 2018,[322] cũng như với Netmarble Games cho trò chơi mô phỏng di động dựa trên câu chuyện BTS World phát hành vào tháng 6 năm 2019.[323]

Tại châu Á, BTS đã làm việc như người phát ngôn thương hiệu cho Ngân hàng KB Kookmin, một trong bốn ngân hàng lớn nhất ở Hàn Quốc.[324][325] Sự hợp tác của họ đã tạo ra việc hơn 180,000 tài khoản đã được mở và BTS đã gia hạn hợp đồng với Ngân hàng KB Kookmin đến năm 2019.[326] Coca-Cola Hàn Quốc[327] đã ký kết BTS với tư cách là người đại diện cho chiến dịch mới của họ để quảng bá World Cup 2018 ở Nga.[328][329] Trong ngành công nghiệp làm đẹp và may mặc, BTS đã duy trì mối quan hệ với thương hiệu đồng phục học sinh Smart từ năm 2016, sau khi gia hạn hợp đồng với họ đến năm 2019.[330] BTS cũng đã quảng bá thương hiệu mặt nạ Mediheal,[331] nhãn hiệu mỹ phẩm VT Cosmetics,[332] nhãn hiệu kính áp tròng Play/Up.[333]

Từ thiện

Năm 2015, BTS đã quyên góp 7 tấn (7,187 kg) gạo cho tổ chức từ thiện tại lễ khai mạc K-Star Road được tổ chức tại Apgujeong-dong.[334] Năm sau, họ tham gia vào chiến dịch từ thiện hợp tác "Let's Share the Heart" của ALLETS với Naver[335] để quyên góp cho LISA, một tổ chức từ thiện y tế của Hàn Quốc nhằm thúc đẩy hiến tạng và hiến máu.[336]

Logo cho chiến dịch chống nạn bạo lực Love Myself của BTS

Vào tháng 1 năm 2017, BTS và Big Hit Entertainment đã quyên tặng 100 triệu KRW (87,915 USD) cho 4/16 gia đình Sewol cho sự thật và một xã hội an toàn hơn, một tổ chức kết nối với các gia đình của vụ lật phà Sewol năm 2014. Mỗi thành viên quyên góp 10 triệu KRWBig Hit Entertainment tặng thêm 30 triệu KRW. Việc quyên góp dự định đã được thực hiện trong bí mật.[337] Cuối năm đó, BTS chính thức khởi động chiến dịch Love Myself, một sáng kiến ​​dành riêng cho một số chương trình xã hội để ngăn chặn bạo lực đối với trẻ em và thanh thiếu niên và hỗ trợ nạn nhân của bạo lực hợp tác với UNICEF của Hàn Quốc.[338][339] BTS đã quyên góp 500 triệu KRW (tương đương 450,000 USD) từ các thành viên và 100% tổng doanh số bán hàng chính thức cho chiến dịch Love Myself trong hai năm tới ngoài các khoản đóng góp được thu thập từ các quyên góp được đặt bởi UNICEF.[340] Ngoài ra, 3% doanh thu từ mỗi album trong chuỗi Love Yourself (Love Yourself: Her, Love Yourself: TearLove Yourself: Answer) đã được quyên góp.[339] Trong vòng hai tháng kể từ khi ra mắt, chiến dịch đã tăng thêm 106 triệu KRW, tổng số tiền trên toàn thế giới lên tới 60 triệu KRW.[341] Vào tháng 11 năm 2018, UNICEF Hàn Quốc tuyên bố rằng chiến dịch Love Myself đã thu về hơn 1,6 tỷ KRW (1,4 triệu USD). Đến tháng 6 năm 2019, con số đã vượt qua 2,4 tỷ KRW.

Vào tháng 4 năm 2018, BTS đã tham gia chương trình "Dream Still Lives" của Stevie Wonder với Martin Luther King Jr. cùng với những người nổi tiếng khác.[342] Tháng 6 năm đó, nhóm đã quyên góp cho quỹ xây dựng bệnh viện ALS.[343] Vào tháng 9, BTS đã tham dự Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc lần thứ 73 để ra mắt sáng kiến tuổi trẻ "Youth 2030: The UN Youth Strategy" và chiến dịch UNICEF tương ứng của nó "Generation Unlimited".[344][345] Thay mặt nhóm, trưởng nhóm RM, đã có bài phát biểu dài 6 phút bằng tiếng Anh về sự chấp nhận bản thân, cũng như chiến dịch Love Myself.[346][344] Theo UNICEF, mục tiêu của sáng kiến là "cung cấp giáo dục và đào tạo chất lượng cho giới trẻ".[347] BTS đã được chọn tham dự do tác động của họ đối với văn hóa giới trẻ thông qua các thông điệp âm nhạc và xã hội, những nỗ lực từ thiện trước đây và sự phổ biến của nhóm nhân khẩu học từ 15 đến 25 tuổi.[344][345]

BTS Universe

Logo cho BTS Universe

BTS Universe, hay còn được gọi là Bangtan Universe hoặc BU, là một vũ trụ viễn tưởng được tạo ra bởi Big Hit Entertainment. Bộ truyện tranh Save Me của nhóm được bám sát theo mạch truyện, cùng với cuốn sách HYYH: The Notes 1.[348][349] Trình tự thời gian của vũ trụ bắt đầu với bài hát "I Need U" và kéo dài đến thời điểm hiện tại.[350] Nó kể câu chuyện về bảy thành viên trong một thực tế xen kẽ và mô tả những lo lắng và sự không chắc chắn của họ khi đối đầu với tương lai.[351][352]

Mariejo Ramos từ The Inquirer nói về BTS Universe, "không có nghệ sĩ nào khác kết hợp thành công kỹ thuật văn học tương tự với nhạc pop trong một quy mô như vậy." Họ đã sử dụng vũ trụ và sách văn học xen kẽ, như The Ones Who Walk Away từ Omelas, như một thiết bị đóng khung cho album của họ.[353] Những câu chuyện phức tạp đan xen chồng chéo lẫn nhau đã đưa ra vô số giả thuyết, tạo sự hứng thú cho fan hâm mộ mỗi khi sản phẩm hoặc gợi ý mới của nhóm được phát hành.[354][355][356]

Thành viên

Danh sách các thành viên của BTS
Nghệ danh Tên khai sinh Ngày sinh Nơi sinh
Latinh Hangul Kana Latinh Hangul Kana Hanja Hán-Việt
Jin ジン Kim Seok-jin 김석진 キム・ソクジン 金碩珍 Kim Thạc Trân 4 tháng 12, 1992 (26 tuổi) Hàn QuốcGwacheon, Gyeonggi-do, Hàn Quốc
Suga 슈가 シュガ Min Yoon-gi 민윤기 ミン・ユンギ 閔玧其 Mẫn Doãn Kì 9 tháng 3, 1993 (26 tuổi) Hàn Quốc Buk-gu, Daegu, Hàn Quốc
J-Hope 제이홉 ジェイ ホープ Jung Ho-seok 정호석 チョン・ホソク 鄭號錫 Trịnh Hiệu Tích 18 tháng 2, 1994 (25 tuổi) Hàn Quốc Buk-gu, Gwangju, Hàn Quốc
RM[357] 알엠 アールエム Kim Nam-joon 김남준 キム・ナムジュン 金南俊 Kim Nam Tuấn 12 tháng 9, 1994 (25 tuổi) Hàn Quốc Ilsan-gu, Gyeonggi-do, Hàn Quốc
Jimin 지민 ジミン Park Ji-min 박지민 パク・ジミン 朴智閔 Phác Trí Mân 13 tháng 10, 1995 (23 tuổi) Hàn Quốc Geumjeong-gu, Busan, Hàn Quốc
V ヴィ Kim Tae-hyung 김태형 キム・テヒョン 金泰亨 Kim Thái Hanh 30 tháng 12, 1995 (23 tuổi) Hàn Quốc Seo-gu, Daegu, Hàn Quốc
Jungkook 정국 ジョングク Jeon Jung-kook 전정국 チョン・ジョングク 田柾國 Điền Chính Quốc 1 tháng 9, 1997 (22 tuổi) Hàn Quốc Buk-gu, Busan, Hàn Quốc

Danh sách đĩa nhạc

Chuyến lưu diễn

  • The Red Bullet Tour (2014–2015)
  • Wake Up: Open Your Eyes Japan Tour (2015)
  • The Most Beautiful Moment in Life On Stage Tour (2015–2016)
  • The Wings Tour (2017)
  • Love Yourself World Tour (2018–2019)

Triển lãm

Năm Tên Quốc gia Nguồn
2015 "Butterfly Dream: BTS Open Media Exhibition" Cờ Hàn Quốc Hàn Quốc [358]
2018 "BTS Exhibition: 24/7=Serendipity (Five, Always)" [359]
2019 Cờ Trung Quốc Trung Quốc [360]
Cờ Hoa Kỳ Mỹ [361]

Danh sách phim

Phim điện ảnh

Năm Tên Vai Nguồn
2018 Burn the Stage: The Movie Chính mình [362]
2019 Love Yourself in Seoul [363]
Bring the Soul: The Movie [364]

Chương trình truyền hình

Chương trình thực tế

Năm Tên Kênh Ghi chú Nguồn
2013 Rookie King: Channel Bangtan SBS MTV Chương trình thực tế dựa trên BTS, 8 tập [365]
2014 BTS China Job YinYueTai Chương trình thực tế dựa trên BTS, 3 tập [366]
American Hustle Life Mnet Chương trình thực tế dựa trên BTS, 8 tập [367]
BTS GO! Mnet America Chương trình thực tế dựa trên BTS, 7 tập [368]
2018 Run BTS! Mnet 8 tập [369]
Burn the Stage YouTube Premium Phim tài liệu về chuyến lưu diễn Wings của BTS, 8 tập [370]

Chương trình thực tế trên V Live

Năm Tên Ghi chú Nguồn
2015 BTS Bokbulbok 5 tập [371]
2015–2017 BTS GAYO 15 tập [372]
2015–nay Run BTS! 3 mùa [373]
2016–2018 BTS: Bon Voyage 3 mùa, 8 tập mỗi mùa [374]

Giải thưởng và đề cử

BTS đã nhận được nhiều giải thưởng và danh hiệu, bao gồm 15 giải thưởng Melon Music Awards, 15 giải thưởng Mnet Asian Music Awards, 14 giải thưởng Golden Disc Awards, 12 giải thưởng Seoul Music Awards, 10 giải thưởng Gaon Chart Music Awards, 4 giải thưởng Billboard Music Awards, 4 giải thưởng Korean Music Awards, 2 giải thưởng MTV Video Music Awards, và 1 giải thưởng American Music Award. Tại Hàn Quốc, BTS có 3 album Triệu bản và 2 đĩa đơn Bạch kim.[375][376] Là nhóm nhạc Hàn Quốc đầu tiên nhận được chứng nhận của Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA), BTS có 2 đĩa đơn Bạch kim, 3 đĩa đơn Vàng, và 2 album Vàng tại Mỹ.[377] Tại Nhật Bản, BTS là nghệ sĩ nam nước ngoài đầu tiên nhận được chứng nhận Triệu bản cho một đĩa đơn.[378] Họ cũng có 2 đĩa đơn Bạch kim, 1 album Bạch kim và 3 album Vàng.

BTS có ảnh hưởng xã hội lớn và tính đến năm 2019, đã đạt được 10 kỷ lục Guinness thế giới, bao gồm cả kỷ lục thế giới trên Twitter. Đến nay, họ đã dành 141 tuần ở vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Billboard Social 50.[379] Vào tháng 10 năm 2018, BTS đã được trao tặng Huân chương Chiến công Văn hóa Hwagwan (hạng năm) từ Tổng thống Hàn Quốc vì những đóng góp của nhóm trong việc truyền bá văn hóa và ngôn ngữ Hàn Quốc.[380] Năm 2019, các thành viên của BTS đã được mời trở thành thành viên của Học viện thu âm để vinh danh những đóng góp của nhóm cho âm nhạc và là một phần trong nỗ lực giúp đa dạng hóa các cử tri Grammy Award.[381][382]

Tham khảo

  1. ^ Glasby, Taylor (13 tháng 12 năm 2016). “The 20 best K-Pop tracks of the year”. Dazed. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2017. 
  2. ^ “방탄소년단 "팀명 후보, 빅키즈 영네이션 있었다"(야만TV)”. Newsen (bằng tiếng Korean). 22 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018. 
  3. ^ “BTS Is Tackling Problems That Are Taboo”. Affinity Magazine. 29 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018. 
  4. ^ “BTS” (bằng tiếng Japanese). Universal Music Japan. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2018. 
  5. ^ “방탄소년단, 팬클럽 아미와 연결된 새 BI 공개 "문을 열고 나아가는 청춘" (bằng tiếng Hàn). Naver. 5 tháng 7 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2017. 
  6. ^ a ă “BTS Brand eXperience Design Renewal”. Behance. 26 tháng 9 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018. 
  7. ^ Bang shi-hyuk (25 tháng 5 năm 2018). 방탄소년단은 뭐가 달라요?/명견만리플러스 (video) (News) (bằng tiếng Hàn). YouTube: KBS Good Insight. Sự kiện xảy ra vào lúc 0:53. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2018. 
  8. ^ Jung Hoseok (Hangul: 정호석) sinh ngày 18 tháng 2 năm 1994 tại Jolla-do, Gwangju, Hàn Quốc, thường được biết đến với nghệ danh là J-Hope (Hangul: 제이홉). Anh ra mắt với vai trò là một Main Dancer, Sub Rapper của Bangtan Boy. Đúng 0h ngày 2/3/2018 (giờ địa phương), J-hope đã đưa ra Mixtape đầu tay mang tên "Hope World".
  9. ^ Debut references:
  10. ^ “2013년 25주차 Digital Chart”. Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2018. 
  11. ^ Cumulative sales for "2 Cool 4 Skool":
  12. ^ *“No More Dream”. Gaon Music Chart. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2017. 
  13. ^ a ă â Kim, Youngdae (2019). “Review 01”. BTS - The Review: A Comprehensive Look at the Music of BTS. RH Korea. ISBN 9788925565828. 
  14. ^ a ă â MoneyToday. “BTS pledges to "tell the story of our generation with our lyrics". 아이즈 (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2019. 
  15. ^ OSEN (13 tháng 6 năm 2013). '엠카' 방탄소년단, 데뷔 무대부터 압도적 '강렬 군무'. mosen.mt.co.kr (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2019. 
  16. ^ OSEN (15 tháng 6 năm 2013). “2AM 정진운, 방탄소년단과 '뮤뱅' 대기실 인증샷 '훈훈'. mosen.mt.co.kr (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2019. 
  17. ^ "日本デビュー決定"防弾少年団、初めての日本ショーケースを経て韓国カムバックへ…「2年目も今までのように突っ走るだけ” ["Japan debut decision" BTS, "only dashes in the second year as well as up to now," the first time through the Japan showcase to Korea comeback ...]. KStyle. 7 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2017. 
  18. ^ Bruner, Raisa. “Backed by Passionate Fans, BTS Takes K-Pop Worldwide”. Time. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2019. 
  19. ^ “2013년 38주차 Digital Chart”. Gaon Music Chart. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2018. 
  20. ^ Cumulative sales of "O!RUL8,2?":
  21. ^ Kim, Youngdae (2019). “Review 02”. BTS - The Review: A Comprehensive Look at the Music of BTS. RH Korea. ISBN 9788925565828. 
  22. ^ “방탄소년단 N.O 발표…"진정한 행복에 대한 메시지". 강원일보 홈페이지 (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2019. 
  23. ^ Lee, Jung-hyuk (28 tháng 8 năm 2013). “방탄소년단, '신인왕 채널방탄'으로 리얼 버라이어티 도전” [Real Variety Challenge with 'Rookie King Channel Bangtan'] (bằng tiếng Hàn). Sports Chosun. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2018. 
  24. ^ *“2013 Melon Music Awards”. Melon (bằng tiếng Korean). 14 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2018. 
  25. ^ a ă Herman, Tamar (14 tháng 5 năm 2018). “How BTS Took Over the World: A Timeline of The Group's Biggest Career Moments”. Billboard. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2018. 
  26. ^ Cumulative sales of "Dark & Wild":
  27. ^ Tên sai BTS/BTS/chart?f=466 “BTS Album & Song Chart History: World Albums”. Billboard. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2017. 
  28. ^ *[MV] BTS(방탄소년단) _ Boy in Luv(상남자). YouTube. 11 tháng 2 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015. 
  29. ^ Kim, Youngdae (2019). “Review 03”. BTS - The Review: A Comprehensive Look at the Music of BTS. RH Korea. ISBN 9788925565828. 
  30. ^ “[T포토] 방탄소년단 "우리가 바로 상남자!"(엠카운트다운)”. TV리포트. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2019. 
  31. ^ “BTS Holds First Fan Club Inauguration Ceremony with 3000 Fans”. Naver. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2014. 
  32. ^ “BTS Announces Free, Surprise L.A. Concert”. Billboard. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2019. 
  33. ^ Brown, August (22 tháng 5 năm 2014). “K-Pop stars Girls' Generation, Bangtan Boys headline KCON 2014”. LA Times. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014. 
  34. ^ “KCON 2014 Day 2: Girls' Generation, CNBLUE, SPICA & More Close L.A. Festival With Loud Bang”. Billboard. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2019. 
  35. ^ Cumulative sales of "Dark & Wild":
  36. ^ Hong, Grace Danbi. “[Video] BTS Rages in the 'War of Hormone' MV”. Mwave. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2015. 
  37. ^ a ă Kim, Youngdae (2019). “Review 04”. BTS - The Review: A Comprehensive Look at the Music of BTS. RH Korea. ISBN 9788925565828. 
  38. ^ 기사입력: 2014-08-19 16:35 (19 tháng 8 năm 2014). “슈가, "방시혁PD, 미국은 전기 달라 사운드 더 좋다더라" [방탄소년단 기자간담회]”. 비즈엔터. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2019. 
  39. ^ '엠카운트다운' 방탄소년단, 카리스마 넘치는 '데인저'로 컴백”. 뉴스1 (bằng tiếng Hàn). 21 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2019. 
  40. ^ a ă Lee, Jung-ah (31 tháng 8 năm 2015). “방탄소년단, 홍콩 콘서트로 11개월 간 월드투어 '성황리 마무리' 출처”. SBS News (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017. 
  41. ^ *防弾少年団のアルバム売上ランキング. Oricon Style (bằng tiếng Japanese). Oricon. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2014. 
  42. ^ “BTS Wraps Up Concert Tour in Japan Gathering 25,000 Fans”. Mwave. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2015. 
  43. ^ Hong, Grace Danbi (9 tháng 2 năm 2015). “BTS to Hold Second Exclusive Concert in Seoul”. Mwave. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2017. 
  44. ^ a ă Kim, Youngdae (2019). “Review 06”. BTS - The Review: A Comprehensive Look at the Music of BTS. RH Korea. ISBN 9788925565828. 
  45. ^ 재배포금지>, <ⓒ “텐아시아” 무단전재 (28 tháng 4 năm 2015). “| 방탄소년단이 말하는 '화양연화' (인터뷰①)텐아시아”. 텐아시아 (bằng tiếng ko-KR). Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2019. 
  46. ^ “27 Best Albums We've Heard in 2015 ... So Far #24”. Fuse. Tháng 6 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2015. 
  47. ^ Cumulative sales of "The Most Beautiful Moment In Life, Part 1":
  48. ^ “I Need U”. Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2017. 
  49. ^ Mark, Jae-min (13 tháng 5 năm 2015). “방탄소년단, '쇼챔피언' 1위..벌써 5개 트로피” [BTS,'Show Champion', Number 1..5 Trophies]. OSEN (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2018. 
  50. ^ “쩔어 (Dope)”. Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2017. 
  51. ^ “World Digital Song”. Billboard. 11 tháng 7 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017. 
  52. ^ “BTS' 'Dope' music video hits over 100 million views”. Yonhap News Agency. 25 tháng 10 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2017. 
  53. ^ “BTS Search for Their Biggest Fans on Twitter With K-Pop's First Ever Emoji”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2016. 
  54. ^ “デイリー CDシングルランキング 2015年06月18日付” (bằng tiếng Japanese). Oricon. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2018. 
  55. ^ “SUMMER SONIC TOKYO LINE UP – SUMMER SONIC 2015”. Summer Sonic. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2018. 
  56. ^ “BTS Fan Meeting in Japan a Roaring Success”. Mwave. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2015. 
  57. ^ “방탄소년단, 콘서트서 신곡 첫 공개…11월 30일 본격 컴백”. www.mydaily.co.kr (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2015. 
  58. ^ a ă Kim, Youngdae (2019). “Review 07”. BTS - The Review: A Comprehensive Look at the Music of BTS. RH Korea. ISBN 9788925565828. 
  59. ^ “Gaon Chart; The Most Beautiful Moment in Life, Part 2”. Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). November 29 – December 5, 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2015. 
  60. ^ “BTS' 'Most Beautiful Moment in Life, Pt. 2' Returns to #1 on World Albums”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2016. 
  61. ^ “BTS Break Into Billboard 200 With 'The Most Beautiful Moment in Life, Pt. 2'. Billboard. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2018. 
  62. ^ “The Most Beautiful Moment In Life: Young Forever by BTS on iTunes”. iTunes. 
  63. ^ “Fire + Save Me + Epilogue: Young Forever”. Gaon Music Chart. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2017. 
  64. ^ Chung, Joo-won (19 tháng 11 năm 2016). “BTS, EXO, TWICE top 2016 Melon Music Awards”. Yonhap News Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017. 
  65. ^ “BTS Has Already Dominated Their 2016 Asia Tour: All 144,000 Tickets In Upcoming Shows In China, Japan, Thailand, And Philippines Sold Out!” (bằng tiếng english). inquisitr. 25 tháng 6 năm 2016. 
  66. ^ Ahn, Sung-mi (21 tháng 3 năm 2016). “BTS to return in May”. Kpop Herald (The Korea Herald). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017. 
  67. ^ “BTS to Headline KCON NY; Twice Added to KCON LA Lineup”. Billboard. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2019. 
  68. ^ Benjamin, Jeff (6 tháng 5 năm 2016). “BTS Joins Kcon 2016 Los Angeles as Headliner”. Fuse. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017. 
  69. ^ *“防弾少年団、花より美しいビジュアル!?日本最新シングル「I NEED U (Japanese Ver.)」のジャケット写真をKstyle先行公開” (bằng tiếng Nhật). Kstyle. 12 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2018. 
  70. ^ “Oricon Daily Album Ranking (2016年09月06日付) – see #01” (bằng tiếng Japanese). Oricon. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 9 năm 2016. 
  71. ^ “[V Report Plus] BTS releases teaser for lead track of 'Wings'. Kpop Herald. Korea Herald. 7 tháng 10 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2016. 
  72. ^ a ă â Kim, Youngdae (2019). “Review 10”. BTS - The Review: A Comprehensive Look at the Music of BTS. RH Korea. ISBN 9788925565828. 
  73. ^ Rolling Stone (21 tháng 7 năm 2017). “10 New Artists You Need to Know: July 2017”. Rolling Stone. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2017. 
  74. ^ Fuse Staff (6 tháng 12 năm 2016). “THE 20 BEST ALBUMS OF 2016”. fuse. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2016. 
  75. ^ “Bangtan Boys second EP "Wings" tops 8 music charts”. Yonhap. 11 tháng 10 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2016. 
  76. ^ “국내 대표 음악 차트 가온차트!”. gaonchart.co.kr. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2016. 
  77. ^ Ferrer, Robie (24 tháng 10 năm 2016). “BTS' 'Blood Sweat and Tears' music video breaks Kpop video record [VIDEO]”. Yibada. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2018. 
  78. ^ “Social 50”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2018. 
  79. ^ Lee, E. (19 tháng 3 năm 2017). “BTS sold 1.49 million copies of 'Wings' albums”. Yonhap News Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017. 
  80. ^ Choi, Seung Hae (30 tháng 10 năm 2017). “Kpop News – BTS' 'Wings' Becomes Highest Selling Album on Gaon Chart”. Mwave. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2016. 
  81. ^ Chung, Joo-won (2 tháng 12 năm 2016). “Bangtan Boys wins best artist award in MAMA 2016”. Yonhap News Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017. 
  82. ^ “The big 3 of Korean pop music and entertainment”. The Dong-A Ilbo. 26 tháng 7 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2016. 
  83. ^ “방탄소년단 '윙스 외전', 선주문 70만장 돌파..사상 최다” [BTS Wings Extension: You Never Walk Alone Reaches 700K Pre-orders]. Osen (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2017. 
  84. ^ Kim, Nicholas (9 tháng 3 năm 2017). “BTS Breaks the Record for Most Albums Sold in a Month”. Koogle TV. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2017. 
  85. ^ a ă Benjamin, Jeff (4 tháng 12 năm 2015). “BTS: K-Pop's Social Conscience”. Fuse. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2015. 
  86. ^ Dazed (7 tháng 12 năm 2017). “The 20 best K-Pop songs of 2017”. Dazed (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2017. 
  87. ^ “2017년 07주차 Digital Chart”. gaonchart.co.kr. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2017. 
  88. ^ Min, Susan (10 tháng 2 năm 2017). “BTS′s Upcoming Album Sells Over 700,000 in Pre-orders”. Mwave. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017. 
  89. ^ Ferrer, R.G. (13 tháng 2 năm 2017). “BTS Breaks US Itunes Kpop Record With 'Spring Day'. koreaportal. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2017. 
  90. ^ Benjamin, Jeff. “BTS Crack the Bubbling Under Hot 100 With 'Spring Day,' Conquer Multiple Charts With 'You Never Walk Alone'. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2017. 
  91. ^ “BTS' "Spring Day" is the longest-charting idol group song on Melon”. sbs.com.au. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2018. 
  92. ^ Seo, Kyung (2 tháng 12 năm 2017). “[멜론뮤직어워드] '올해의 노래상' 방탄소년단, "'봄날', 많은 분들 위로하려 썼던 곡" ('Song of The Year', 'BTS', 'Spring Day')”. SE Daily. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2017. 
  93. ^ “방탄소년단, 2017 MMA '올해의 베스트송' 수상…2년 연속 대상 (BTS, 2017 MMA 'Best Song of the Year' award)”. Sports Today. 3 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2017. 
  94. ^ “[공식입장] "19개도시·40회·55만명"..방탄소년단, 월드투어 퍼펙트매진” ["19 Cities, 40 Shows, 550,000 People"... BTS, perfectly sold out world tour] (bằng tiếng Hàn). Naver. 31 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2017. 
  95. ^ Liu, Marian. “K-pop group's record breaking album conquers three continents”. CNN. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2019. 
  96. ^ “BTS Adds 2 New Shows to Sold-Out Wings Tour”. Billboard. 16 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2016. 
  97. ^ Lipshutz, Jason (21 tháng 5 năm 2017). “BTS Thanks Fans For Top Social Artist Win at Billboard Music Awards 2017: Watch”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2019. 
  98. ^ Herman, Tamar (5 tháng 7 năm 2017). “BTS Remakes Iconic Seo Taiji & Boys' 'Come Back Home': Watch”. Billboardaccessdate=April 23, 2019. 
  99. ^ “K-Pop Legend Seo Taiji Holds 25th Anniversary Concert, Passes Torch to BTS”. Billboard. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2019. 
  100. ^ “[SE★초점] 서태지는 왜 방탄소년단을 차세대 아이콘으로 선택했나?”. 서울경제 (bằng tiếng Hàn). 3 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2019. 
  101. ^ a ă â Kim, Youngdae (2019). “Review 11”. BTS – The Review: A Comprehensive Look at the Music of BTS. RH Korea. ISBN 9788925565828. 
  102. ^ “[공식입장] 방탄소년단, 9월18일 컴백 확정..'Love Yourself' 발매” [[Official position] BTS to return with 'Love Yourself' on September 18] (bằng tiếng Hàn). Naver. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2017. 
  103. ^ “The Chainsmokers collaborates with BTS for 'Love Yourself'. The Korea Herald. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2017. 
  104. ^ “BTS Explain Concepts Behind 'Love Yourself: Her' Album: 'This Is the Beginning of Our Chapter Two'. Billboard. 20 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2019. 
  105. ^ Herman, Tamar. “BTS Unveils 'Love Yourself: Her' Album & 'DNA' Video”. Billboard. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2017. 
  106. ^ Benjamin, Jeff; Caulfield, Keith (24 tháng 9 năm 2017). “BTS Score Top 10 Debut on Billboard 200 With 'Love Yourself: Her' Album”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2017. 
  107. ^ “BTS album 'Love Yourself: Her' sells over 1.2 mln copies: data”. Yonhap News Agency. 13 tháng 10 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2017. 
  108. ^ Kelley, Caitlin (20 tháng 9 năm 2017). “BTS Smashes K-Pop Records With 'DNA' Music Video”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2017. 
  109. ^ Trust, Gary; Benjamin, Jeff (25 tháng 9 năm 2017). “BTS Earns First Billboard Hot 100 Hit With 'DNA'. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2017. 
  110. ^ Trust, Gary; Benjamin, Jeff (2 tháng 10 năm 2017). “BTS Scores Highest-Charting Billboard Hot 100 Hit for a K-Pop Group With 'DNA'. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2017. 
  111. ^ Gary, Trust (4 tháng 12 năm 2017). “BTS Mic Drop in Billboard Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2017. 
  112. ^ “BTS ranks 28th on Billboard Hot 100 with 'Mic Drop'. Yonhap News Agency. 4 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2017. 
  113. ^ Herman, Tamar (12 tháng 2 năm 2018). “BTS' 'DNA' & 'Mic Drop' Get Certified Gold by RIAA”. Billboard. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2018. 
  114. ^ “Gold & Platinum”. Recording Industry Association of America. 12 tháng 2 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2018. 
  115. ^ Prance, Sam (13 tháng 2 năm 2018). “BTS Become First K-Pop Act with Multiple RIAA Certifications”. MTV UK. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2018. 
  116. ^ a ă Herman, Tamar (21 tháng 11 năm 2018). “BTS Recognized by RIAA for First Platinum Single & First Gold Album”. Billboard. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2018. 
  117. ^ “First Triple A side single to be released on December 6!”. BTS Official Japanese Fanclub. 14 tháng 10 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  118. ^ “2017年12月18日付”. Oricon. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2017. 
  119. ^ “[공식입장] 방탄소년단, 日싱글도 세계 강타…10개국 아이튠즈 1위”. Naver (bằng tiếng Hàn). Osen. 7 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2018. 
  120. ^ Yu, Byung-cheol (12 tháng 12 năm 2017). “방탄소년단, 日 오리콘 주간 싱글 차트 1위…해외 아티스트 최초 '30만 포인트' 돌파 (BTS ranks #1 on Japanese Oricon Weekly Single Chart … First foreign artist to break through '300,000 points')”. Korea Economic News. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2017. 
  121. ^ “방탄소년단, 日 오리콘 주간 차트 1위.. 해외 아티스트 최초 '30만 포인트' 돌파”. iMBC News. 12 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2017. 
  122. ^ “月次認定作品 認定年月:2017年 12月”. Recording Industry Association of Japan. 15 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2018. 
  123. ^ Kim, Young-rak (15 tháng 1 năm 2018). "해외 아티스트 유일"…방탄소년단 日싱글, '더블 플래티넘' 달성 ("The only foreign artist"...BTS Japanese Single achieves Double Platinum)”. Naver. Sports Chosun. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2018. 
  124. ^ Hwang, Hye-Jin (16 tháng 1 năm 2018). “방탄소년단 日싱글 '더블 플래티넘' 등극 '해외 아티스트 유일' (BTS Japanese Single achieves Double Platinum; the only foreign artist)”. Newsen. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2018. 
  125. ^ Kelley, Caitlin (3 tháng 11 năm 2017). “K-Pop Superstars BTS to Perform for First Time on an American Awards Show at 2017 AMAs”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2017. 
  126. ^ Herman, Tamar (3 tháng 11 năm 2017). “Rising K-Pop Superstars BTS Will Perform At The AMAs”. Forbes. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2017. 
  127. ^ Ming, Cheang (29 tháng 12 năm 2017). “How K-pop made a breakthrough in the US in 2017”. CNBC. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2018. 
  128. ^ Steger, Isabella (20 tháng 11 năm 2017). “The Unlikely Meteoric Rise of BTS, the Biggest Name in K-Pop Right Now”. Quartz. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2018. 
  129. ^ Ramli, Bibi Nurshuhada (22 tháng 11 năm 2017). “K-Pop kings BTS earn a spot in Guinness World Records 2018 for most Twitter engagements”. New Straits Times. 
  130. ^ “BTS performing in Dick Clark New Years Rockin Eve 2018”. Billboard. 12 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2018. 
  131. ^ “BTS confirm to perform at Music Station Super Live”. Universal Japan. Tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2017. 
  132. ^ Lee, Min-Ki (1 tháng 12 năm 2017). “[2017 MAMA]방탄소년단 벌써 2관왕, 베스트 아시안 스타일 수상”. Newsen. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2017. 
  133. ^ Lee, Min-Ki (1 tháng 12 năm 2017). “[2017 MAMA]방탄소년단, 2년 연속 대상 "더이상 슬프지 않아". Newsen. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2017. 
  134. ^ “BTS wins Artist of the Year at MAMA for second year”. Yonhap News Agency. 1 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2017. 
  135. ^ Kim, Myung Shin (11 tháng 1 năm 2018). “방탄소년단, 2018 골든디스크 대상…'4연속 본상'. Newsen. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2018. 
  136. ^ Sungmyung, Kyungji (26 tháng 1 năm 2018). “방탄소년단, 대상 4관왕 달성.."인생의 황금빛 분기점" [News] BTS achieves quadruple crown Daesangs.. "Golden turning point of life". Naver. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2018. 
  137. ^ “방탄소년단X유튜브 레드, 리얼 성장 다큐 28일 첫 선 ([NEWS] BTS x YouTube Premium, 8 episode documentary of BTS to be revealed on 28 March)”. Naver. Osen. 13 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2018. 
  138. ^ Herman, Tamar (14 tháng 3 năm 2018). “BTS Documentary Series 'Burn The Stage' to Air on YouTube Premium”. Billboard. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2018. 
  139. ^ “全米で大ブレイク中!BTS (防弾少年団)、待望の日本オリジナルアルバム4月4日発売決定!世界中で大ヒットした楽曲に、日本制作楽曲含む新録4曲を収録!初回限定盤には来日ドキュメンタリーほか、映像も収録!” [[NEWS] BTS Japan 3rd album "FACE YOURSELF", April 4 is decided on sale!]. BTS Japan Official (bằng tiếng Nhật). 1 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2018. 
  140. ^ Kawamura, Takahiro (14 tháng 3 năm 2018). “Not heard of them? Nor have most people, but they're very big”. The Asahi Shimbum. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2018. 
  141. ^ Herman, Tamar (5 tháng 4 năm 2018). “BTS Tease Next Album In 'Love Yourself' Series With 'Euphoria' Theme Video”. Billboard. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2018. 
  142. ^ Herman, Tamar (18 tháng 5 năm 2018). “BTS Releases Expressive 'Love Yourself: Tear' Album: Listen”. Billboard. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2018. 
  143. ^ *“Global Sensation BTS to Perform World Television Premiere of New Single at the "2018 Billboard Music Awards" on NBC”. billboardmusicawards. 24 tháng 4 năm 2018. 
  144. ^ *“2018 Nominees: Top Social Artist”. billboardmusicawards.com. 17 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2018. 
  145. ^ *“BTS Wins Top Social Artist Award at the 2018 Billboard Music Awards”. Billboard. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2018. 
  146. ^ Kim, Youngdae (2019). “Review 13”. BTS - The Review: A Comprehensive Look at the Music of BTS. RH Korea. ISBN 9788925565828. 
  147. ^ “The 50 Best Albums of 2018 (So Far): Critics' Picks”. Billboard. 5 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2018. 
  148. ^ Pearce, Sheldon (24 tháng 5 năm 2018). “BTS: Love Yourself 轉 'Tear' Album Review | Pitchfork”. Pitchfork. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2018. 
  149. ^ Mclntyre, Hugh (27 tháng 5 năm 2018). “BTS Debut New Album 'Love Yourself: Tear' At No.1, Becoming The First K-Pop Act To Do So”. Forbes (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2018. 
  150. ^ Kreps, Daniel (27 tháng 5 năm 2018). “On the Charts: BTS Become First K-Pop Act To Reach Number One”. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2018. 
  151. ^ McIntyre, Hugh (29 tháng 5 năm 2018). “BTS Is Currently Enjoying The Best Week Of Their Career On The U.K. Charts”. Forbes. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2018. 
  152. ^ McIntyre, Hugh (29 tháng 5 năm 2018). “BTS, Lil Baby And Ella Mai Reach The Top 10 For The First Time With New Hit Singles”. Forbes. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2018. 
  153. ^ Zellner, Xander (29 tháng 5 năm 2018). “BTS' 'Fake Love' Becomes 17th Primarily Non-English-Language Top 10 on Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2018. 
  154. ^ Herman, Tamar (14 tháng 8 năm 2018). “BTS' 'Fake Love' Certified Gold by RIAA”. Billboard. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2018. 
  155. ^ Rolli, Bryan (16 tháng 7 năm 2018). “BTS Announce New Album 'Love Yourself: Answer' For August Release”. Forbes. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2018. 
  156. ^ Park, Jin-young (17 tháng 7 năm 2018). “[공식입장] 방탄소년단, 8월 24일 컴백 확정..러브 유어셀프 시리즈 마무리” [Official position. Bulletproof Boy Scouts, August 24 comeback confirmed Yours ... Love Self-Series finishing]. Osen (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2018. 
  157. ^ Viray, Patricia Lourdes (24 tháng 8 năm 2018). “WATCH: BTS drops 'IDOL' music video”. The Philippine Star. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2018. 
  158. ^ Yam, Kimberly (24 tháng 8 năm 2018). “K-Pop Band BTS Drops Song With Nicki Minaj, And The Internet Has No Chill”. Huffington Post. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2018. 
  159. ^ a ă Kim, Youngdae (2019). “Review 14”. BTS - The Review: A Comprehensive Look at the Music of BTS. RH Korea. ISBN 9788925565828. 
  160. ^ Herman, Tamar (24 tháng 8 năm 2018). “BTS Reflect on Life & Love on Uplifting 'Love Yourself: Answer'. Billboard. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2019. 
  161. ^ “방탄소년단, 8월 가온차트서 193만장 앨범차트 1위” (bằng tiếng Hàn). 6 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2018. 
  162. ^ a ă Caulfield, Keith (2 tháng 9 năm 2018). “BTS Scores Second No. 1 Album on Billboard 200 Chart With 'Love Yourself: Answer'. Billboard. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2018. 
  163. ^ “BTS Digital Song Sales Chart”. billboard.com. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2018. 
  164. ^ Tech, Paul (5 tháng 9 năm 2018). “BTS score their first Canadian no. 1 Album: Chart confidential” (PDF). BDS Radio (Nilsen). Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2018. 
  165. ^ Mclntyr, Hugh (27 tháng 8 năm 2018). “BTS's 'Idol' Breaks The Record For Biggest 24-Hour YouTube Debut”. Forbes. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2018. 
  166. ^ “Bangtan Boys Kick off World Tour with Concerts in Seoul”. The Chosun Ilbo. 27 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2018. 
  167. ^ Gemmill, Allie (19 tháng 11 năm 2018). “BTS Releases First English-Language Song "Waste It On Me". TeenVogue (TeenVogue). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2018. 
  168. ^ Yang, Rachel (19 tháng 11 năm 2018). “Steve Aoki Drops Music Video Starring BTS, Ken Jeong and All-Asian Cast (Watch)”. Variety (Variety). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2018. 
  169. ^ Herman, Tamar (8 tháng 8 năm 2018). “BTS Add Date at NYC's Citi Field, Become First-Ever K-Pop Act to Play U.S. Stadium”. MSN. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2018. 
  170. ^ McDermott, Maeve (4 tháng 12 năm 2018). “2018's best-selling live artists are Ed Sheeran, Bruce Springsteen and BTS, per Stubhub”. USA Today. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2018. 
  171. ^ “2018 Year In Review: The Year in Live Events”. Vivid Seats. 18 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2019. 
  172. ^ Cosores, Philip (12 tháng 9 năm 2018). “Korean Pop Group BTS Paint An Inclusive, Diverse Future For Pop Music”. UPROXX (bằng tiếng en-US). Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2018. 
  173. ^ Bell, Crystal (9 tháng 10 năm 2018). “The 10 Most Beautiful Moments Of BTS’ Love Yourself Tour”. MTV. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2018. 
  174. ^ “빅히트 "방탄소년단과 재계약 체결, 최고의 대우"(공식입장)” (bằng tiếng Hàn). Newsen. 18 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2019. 
  175. ^ Qin, Amy (9 tháng 11 năm 2018). “K-Pop Band BTS Is Dropped From Japanese TV Show Over T-Shirt”. The New York Times. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2018. 
  176. ^ “Popular Korean Band Whose Japan Performance Was Cancelled For T-Shirt Mocking A-Bomb Victims, Once Posed With Nazi SS Death Head Symbols, Flew Nazi-Like Flags At Concert”. Simon Wiesenthal Center. 11 tháng 11 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2018. 
  177. ^ Kim, Hyung-jin (13 tháng 11 năm 2018). “BTS' agency apologizes for boy-band members' atomic-bomb shirts, swastika hat”. USA Today. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2018. 
  178. ^ “Wiesenthal Center Welcomes K-Pop Group's Apology For Incidents Offensive To Jewish And Japanese Victims Of WWII”. Simon Wiesenthal Center. 13 tháng 11 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2018. 
  179. ^ “방탄소년단 소속사, 티셔츠 논란에 원폭 피해자 찾아 공식 사과”. Naver (bằng tiếng Korean). 16 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2018. 
  180. ^ Amos, Jim (18 tháng 11 năm 2018). “BTS Breaks The Box Office Bank With 'Burn The Stage: The Movie'. Forbes. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2018. 
  181. ^ Lee, Hoyeon (1 tháng 11 năm 2018). 방탄소년단부터 워너원…'2018 MAMA', 투표 시작. Hankook Ilbo (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2018. 
  182. ^ “The Year in K-Pop on the Charts: BTS Breaks Genre Barriers While the Scene Expands Its Reach”. Billboard. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2018. 
  183. ^ “방탄소년단, 앨범 판매 1000만장 돌파…2013년 데뷔 이후 5년 6개월만에 달성”. Naver (bằng tiếng Korean). Sportskhan. 8 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2018. 
  184. ^ “BTS to Appear at Grammy Awards (EXCLUSIVE)”. Variety. 4 tháng 2 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  185. ^ Nickolai, Nate (10 tháng 2 năm 2019). “BTS Makes History at the Grammys as First K-Pop Presenters”. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  186. ^ Herman, Tamar (4 tháng 2 năm 2019). “BTS Reportedly Set to Present at Grammy Awards”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  187. ^ Kile, Meredith B.; Drysdale, Jennifer (4 tháng 2 năm 2019). “BTS to Present at 2019 Grammy Awards: Report”. Entertainment Tonight. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019 – qua Yahoo! News. 
  188. ^ Herman, Tamar (12 tháng 4 năm 2019). “BTS First Asian Act to Surpass 5 Billion Streams on Spotify”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  189. ^ Halsey (17 tháng 4 năm 2019). “BTS: The 100 Most Influential People of 2019”. Time. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  190. ^ Kim, Jin-sun (12 tháng 4 năm 2019). 방탄소년단 '작은 것들을 위한 시' 공개즉시 음원순위'싹쓸이' Halsey도 관심 폭발 [Bulletproof Boy Scouts 'Poetry for the Little Things' Revealed Immediately] (bằng tiếng Hàn). SEDaily. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  191. ^ Delgado, Sara (14 tháng 3 năm 2019). “Emma Stone and BTS Will Be on "SNL" and People Are Making Whitewashing Jokes”. Teen Vogue. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  192. ^ Bradley, Laura (11 tháng 4 năm 2019). “BTS Is One of S.N.L.'s Biggest Musical Guests Ever—And S.N.L. Knows It”. Vanity Fair. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  193. ^ McIntyre, Hugh (19 tháng 4 năm 2019). “BTS Becomes The First Korean Act To Hit No. 1 On The U.K. Albums Chart”. Forbes. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  194. ^ Brandle, Lars (22 tháng 4 năm 2019). “BTS Make Chart History as 'Map Of The Soul: Persona' Bows at No. 1 In Australia”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  195. ^ McIntyre, Hugh (3 tháng 7 năm 2019). “BTS Lead The 10 Bestselling Physical Albums In The U.S. This Year with 10 copies'. Forbes. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  196. ^ Kim, Ha-jin (9 tháng 5 năm 2019). 방탄소년단, 가온차트 음반·다운로드 1위 '2관왕' [BTS, Gaon Music Chart No. 1]. Ten Asia (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019 – qua Naver. 
  197. ^ Trust, Gary (23 tháng 4 năm 2019). “Lil Nas X's 'Old Town Road' Leads Billboard Hot 100 for Third Week; Sam Smith & Normani, BTS & Halsey Hit Top 10”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  198. ^ Kelly, Caitlin (15 tháng 4 năm 2019). “BTS's 'Boy With Luv' Smashes YouTube's Record For Most Views In 24 Hours”. Forbes. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  199. ^ “BTS Mendapatkan Gold Certified Di Australia” [BTS Gets Gold Certified in Australia]. Indozone (bằng tiếng Indonesia). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  200. ^ “Bts Map Of The Soul - Persona”. British Phonographic Industry (BPI). 28 tháng 6 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  201. ^ Ginsberg, Gab (19 tháng 2 năm 2019). “BTS Add Additional 2019 Stadium Tour Stops: See the New Dates”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  202. ^ Kim, Eun-Young; Lee, Jihae (3 tháng 6 năm 2019). “BTS sets another milestone as first Asian act to headline Wembley Stadium”. Korean Culture and Information Service (KOCIS). Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  203. ^ Kelley, Caitlin (2 tháng 3 năm 2019). “BTS Sold Out U.S. And European Dates, Added New Show To Upcoming World Tour”. Forbes. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  204. ^ Herman, Tamar (3 tháng 5 năm 2019). “BTS Set to Appear On 'The Late Show With Stephen Colbert'. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  205. ^ 'Good Morning America' 2019 Summer Concert Series lineup: BTS, Chance the Rapper, Pitbull, Ellie Goulding and more”. Good Morning America. 4 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  206. ^ Herman, Tamar (17 tháng 5 năm 2019). “BTS Set to Perform On 'The Voice' Finale”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  207. ^ Mier, Tomás (30 tháng 5 năm 2019). “BTS Performs 'Boy with Luv' On Britain's Got Talent Days Before Sold-Out Shows in London”. People. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  208. ^ Park, Joon-young (7 tháng 6 năm 2019). 방탄소년단 매니저 게임 'BTS월드', 첫 번째 OST 'Dream Glow' 공개 [BTS manager game 'BTS World' to release first OST 'Dream Glow']. NewsWorks (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  209. ^ Herman, Tamar (14 tháng 6 năm 2019). “BTS' J-Hope & V Usher In 'A Brand New Day' In Collab with Zara Larsson: Stream It Now”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  210. ^ Herman, Tamar (21 tháng 6 năm 2019). “BTS' RM and Suga Team Up With Juice WRLD For 'All Night': Listen”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  211. ^ Herman, Tamar (28 tháng 7 năm 2019). “BTS Release 'BTS World' Soundtrack Album Including New Track 'Heartbeat': Listen”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  212. ^ Kim, Soo-kyung (8 tháng 8 năm 2019). 백현 ‘시티 라이츠’, 가온차트 솔로 앨범 월간 최다판매량 기록 [Baekhyun 'City Lights' recorded the highest monthly solo album sales of Gaon Chart]. Ten Asia (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  213. ^ Guy, Jack (25 tháng 6 năm 2019). “K-pop stars BTS launch mobile game 'BTS World'. CNN. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  214. ^ Haddad, Hanan (3 tháng 7 năm 2019). “BTS Top Charts With New Japanese Single and MV 'Lights': Watch”. E! Online. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  215. ^ Lee, Min-ji (3 tháng 7 năm 2019). 방탄소년단, 日 싱글 'Lights/Boy With Luv' 오리콘 데일리 차트 1위 [BTS ranked No.1 on Oricon daily chart with Japan single 'Lights/Boy With Luv']. Osen (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019 – qua Naver Entertainment. 
  216. ^ BTS新曲初100万枚出荷!欧米などから予約殺到 [BTS new song first time 1 million copies shipped! Flood of reservations from Europe and the United States]. Nikkan Sports (bằng tiếng Nhật). 4 tháng 7 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  217. ^ BTS、海外男性歌手初のミリオン「とても幸せ」 レコ協19年7月度認定 [BTS, the first million foreign male artist, "Very Happy"]. Oricon Music (bằng tiếng Nhật). 8 tháng 8 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  218. ^ Love Yourself: Her & Love Yourself: Tear's cumulative sales:
  219. ^ “가온 인증(Gaon Certification) - Album”. Gaon Music Chart. 8 tháng 8 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  220. ^ Yoon, Chang-bin (8 tháng 8 năm 2019). [가요랭킹] 백현 솔로 앨범, 7월 월간 앨범차트 1위…주간음원 정상은 태연 [[Music Ranking] Baekhyun's Solo Album, No.1 on the monthly album chart for July…Taeyeon tops weekly music chart]. NewsPim (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  221. ^ McRady, Rachel (25 tháng 6 năm 2018). “BTS Names Their Musical Inspiration and Their Most Unexpected Celebrity Fan”. Entertainment Tonight. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2018. 
  222. ^ Savage, Mark (2 tháng 6 năm 2019). “BTS are the first Korean band to headline Wembley Stadium”. BBC. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2019. 
  223. ^ “[문화광장] 외신 주목한 '제 2의 싸이', 방탄소년단”. KBS News (bằng tiếng Korean). 17 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2019. 
  224. ^ “Chapter 5. Blood, Sweat & Tears”. Wings Concept Book (bằng tiếng Hàn). Republic of South Korea: Big Hit Entertainment. 29 tháng 6 năm 2017. tr. 114. ASIN B0734H75SD. 
  225. ^ Glasby, Taylor (11 tháng 10 năm 2018). “How BTS became the world's biggest boyband”. The Guardian. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2019. 
  226. ^ “Big Hit Shop”. Big Hit Shop (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2019. 
  227. ^ Dazed (8 tháng 6 năm 2018). “The book that inspired a BTS song is now a bestseller in Korea”. Dazed (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2018. 
  228. ^ LeeLo, Jamie. “BTS' 'Map Of The Soul' Album Title Has A Deeper Meaning That Could Tease More Albums”. Elite Daily (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2019. 
  229. ^ “How BTS is changing K-pop for the better”. The Daily Dot. 12 tháng 5 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2017. 
  230. ^ “Kpop group BTS gaining global recognition”. Manila Bulletin Entertainment. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2017. 
  231. ^ a ă B.T.S(Bangtan Boys) 방탄소년단 [BackstageChat] (video) (bằng tiếng Hàn). Youtube: KBS World Radio. 10 tháng 8 năm 2014. Sự kiện xảy ra vào lúc 1:09. 
  232. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên :0
  233. ^ “BTS 이끈 피독 "주입식 NO, 스스로 하게끔 만들었죠". www.nocutnews.co.kr. 5 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2019. 
  234. ^ “BTS Starts a 'Skool Luv Affair' with New MV”. MtvIggy. 11 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2015. 
  235. ^ Kim, Seon-geun (10 tháng 10 năm 2016). V앱 방탄소년단, 피 땀 눈물 "날아오를 준비 됐다"…지민, 솔로곡 '라이(LIE)' "거짓말과 유혹에서 빠져 나가기 위해서 노력하는 곡". Global Economic (bằng tiếng Korean). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2017. 
  236. ^ a ă â “BTS' Most Political Lyrics: A Guide to Their Social Commentary on South Korean Society”. Billboard. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2019. 
  237. ^ Greenblatt, Leah (29 tháng 3 năm 2019). “BTS' RM and Suga talk mental health, depression, and connecting with fans”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2019. 
  238. ^ “Your Guide to BTS and Their Musical Universe in 25 Songs”. www.vulture.com. 19 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2019. 
  239. ^ Herman, Tamar (20 tháng 2 năm 2017). “BTS Aims to Survive in 'Not Today' Music Video”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2017. 
  240. ^ “BTS Talks About Billboard Top 100, Sewol Ferry Tragedy & "Glass Ceiling". omonatheydidnt.livejournal.com. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2019. 
  241. ^ a ă Herman, Tamar (17 tháng 8 năm 2017). “What To Know About BTS' 'Love Yourself' Series”. Billboard. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2017. 
  242. ^ Benjamin, Jeff (21 tháng 10 năm 2016). “How Korean Boy Band BTS Broke a U.S. K-pop Chart Record – Without Any Songs in English”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2016. 
  243. ^ “Producer talks about why BTS became successful in K-pop”. International Business Times, Singapore Edition (bằng tiếng Anh). 28 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2019. 
  244. ^ "우리가 바로, 앰배서더"…BTS, '푸마' 글로벌 모델 발탁” ['We are ambassadors'.. BTS selected as PUMA global models]. Naver (bằng tiếng Hàn). 27 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2018. 
  245. ^ Greenblatt, Leah (28 tháng 3 năm 2019). “The Greatest Showmen: An exclusive look inside the world of BTS”. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2019. 
  246. ^ “South Korean President Moon Jae-in Congratulates BTS on First No. 1 Album”. Billboard. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  247. ^ McIntyre, Hugh. “BTS Score Their Third No. 1 Album In The U.S. With 'Map Of The Soul: Persona'. Forbes. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2019. 
  248. ^ Halsey. “Time Usa, April 29, 2019 Compressed”. calameo.com. tr. 60. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2019. 
  249. ^ Hwang, Hye-jin (27 tháng 2 năm 2019). 방탄소년단, 2018년 드레이크 다음으로 많이 팔았다 ‘국제음반산업협회 차트 2위’. Newsen (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2019 – qua Naver. 
  250. ^ “BTS ranks second in 2018 artist chart by intl recording federation”. Yonhap. 27 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2019 – qua The Korea Herald. 
  251. ^ @IFPI_org (13 tháng 3 năm 2019). “Here is the official #IFPIGlobalAlbumChart 2018! @GreatestShowman @BTS_twt @BTS_twt @ladygaga @JohnnySjh @edsheeran @QueenWillRock @Pink @Eminem @mammamiamovie Congrats to all winners 👏👏👏” (Tweet). Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2019 – qua Twitter. 
  252. ^ Christman, Ed (28 tháng 2 năm 2019). “K-Pop Hits the Mall as Trans World Entertainment Adds Dedicated Retail Space, Sends Data to Korean Charts”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2019. 
  253. ^ Park, Seung-won (15 tháng 7 năm 2019). 상반기 앨범 1290만장 판매…BTS 나홀로 ‘열일’ 했다. Herald Economics (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2019. 
  254. ^ Aniftos, Rania (5 tháng 12 năm 2017). “BTS Is the Most Tweeted-About Artist of 2017, Plus More Twitter Year-End Data”. Billboard. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2019. 
  255. ^ Reitman, Shelby (5 tháng 12 năm 2018). “BTS Is 2018's Most Tweeted-About Celebrity, Plus More Year-End Twitter Data”. Billboard. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2019. 
  256. ^
  257. ^ Herman, Tamar (11 tháng 10 năm 2018). “BTS Make Time Magazine's 'Next Generation Leaders' List: 'We Are Spreading Korean Culture as Its Representatives'. Billboard. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2019. 
  258. ^ * “BTS: The 100 Most Influential People of 2019”. Time. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2019. 
  259. ^ Kim, Sohee. “The Bloomberg 50”. Bloomberg. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2018. 
  260. ^ Cho, Duk-jin (27 tháng 2 năm 2017). 엑소 위에 박보검·송중기, 아이돌 천하 깬 드라마 스타 [출처: 중앙일보] 엑소 위에 박보검·송중기, 아이돌 천하 깬 드라마 스타. JoongAng Ilbo. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2019 – qua Joins!. 
  261. ^ Park, Ji-hyun (23 tháng 3 năm 2018). [2018 대한민국 셀러브리티(3)] 한류 신화를 '리얼리티'로 만든 히어로. Forbes Korea (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2019 – qua Joins!. 
  262. ^ Mercuri, Monica (10 tháng 7 năm 2019). “BTS Is The World’s Highest-Paid Boy Band And K-Pop Act”. Forbes. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2019. 
  263. ^ BTS(방탄소년단) '전 세계 가장 지속가능한 미래 리더 1위 선정', 18일 뉴욕 유엔본부에서 UN지원SDGs협회 발표. 다음 뉴스 (bằng tiếng Hàn). 19 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2019. 
  264. ^ UN지원SDGs협회 김정훈 사무대표입니다. on Instagram: “오늘 UN지원SDGs협회는 뉴욕 유엔 본부 1층에서 '전 세계 가장 지속가능한 글로벌 리더 명단 100명', '가장 지속가능한 글로벌 기업 명단 100곳'을 발표했습니다. 전체명단을 공개합니다 이 명단에는 빌 게이츠 MS 창립자, 팀 쿡 애플…”. Instagram (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2019. 
  265. ^ “BTS voted as Top Rank Sustainable Future Leader”. channels.vlive.tv (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2019. 
  266. ^ Chakraborty, Riddhi (24 tháng 9 năm 2018). “BTS at the UN: 'Our Fans' Stories Constantly Remind Us of Our Responsibility'. Rolling Stone India. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2018. 
  267. ^ Herman, Tamar (14 tháng 10 năm 2018). “BTS Performs at Korea-France Friendship Concert in Paris with South Korean President in Attendance”. Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2018. 
  268. ^ Yoon, Min-sik (8 tháng 10 năm 2018). “BTS to get medal for spreading Korean culture: presidential office”. The Korea Herald. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2018. 
  269. ^ Kim, Jae-woong (3 tháng 2 năm 2019). "방탄소년단이 경제 살린다?" 현대경제硏, 한국경제 희망요인 분석. Metro Seoul (bằng tiếng Korean). Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2019. 
  270. ^ Choi, Kyu-min (26 tháng 2 năm 2019). “Record Numbers Embrace Overseas Online Shopping”. The Chosun Ilbo (bằng tiếng English). Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2019. 
  271. ^ Kelley, Caitlin (11 tháng 1 năm 2019). “BTS Lead The Growth Of Hallyu To Nearly 90 Million Fans Worldwide In 2018”. Forbes. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2019. 
  272. ^ Sohn, Ji-young (12 tháng 5 năm 2019). “Buoyed by BTS, trade surplus of music-related sectors recovers to pre-2016 level”. The Korea Herald. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2019. 
  273. ^ Barajas, Joshua (28 tháng 3 năm 2019). “Will America ever idolize K-pop?”. PBS. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2019. 
  274. ^ Sinha, Vimmy (7 tháng 8 năm 2018). “BTS tops Billboard 100 list: How K-pop helped Korea improve its economy”. The Economic Times. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2019. 
  275. ^ “How BTS and other K-pop idols are adding zest to banks' branding”. SCMP. 25 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2019. 
  276. ^ “Gara-gara Jungkook BTS, 'Downy' Kehabisan Stock 2 Bulan Dalam Sehari, K-Media Sebut 'BTS Effect'. Tribune Times (bằng tiếng Indonesian). 23 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2019. 
  277. ^ Lee, Jeong-eun (8 tháng 2 năm 2019). '방탄소년단 테마주' 대체로 강세, 엔터테인먼트3사는 엇갈려. Business Post (bằng tiếng Korean). Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2019. 
  278. ^ a ă Herman, Tamar (7 tháng 1 năm 2019). “Mattel Announces Official BTS Collaboration”. Billboard. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2019. 
  279. ^ Byeon, Jongguk (19 tháng 5 năm 2019). [단독]"BTS가 타니 더 고급져 보이네"..팰리세이드 6000억 원 홍보효과. Donga Ilbo (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2019. 
  280. ^ Bak, Daero (5 tháng 5 năm 2019). 국제적 위상 높아진 BTS..홍보대사로 뽑은 서울시 '즐거운 비명'. Newsis (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2019. 
  281. ^ France-Presse, Agence (18 tháng 12 năm 2018). “The BTS billions: K-pop superstars 'worth more than US$3.6 billion a year' to South Korea's economy”. South China Morning Post. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2018. 
  282. ^ “K-pop Group BTS Induces Production Worth 4 Tril. Won per Year”. Business Korea (bằng tiếng Hàn). 19 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2019. 
  283. ^ BTS가 창출한 80만 관광객…"5조 원 넘는 경제 효과". SBS News (bằng tiếng Hàn). 9 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2019. 
  284. ^ 이은정 (24 tháng 7 năm 2019). 방탄소년단 부산·서울 팬미팅 경제효과는 4천813억원. 연합뉴스 (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2019. 
  285. ^ “BTS 웸블리 매출액 200억..스타디움 투어로 최소 1500억 매출”. n.news.naver.com (bằng tiếng Hàn). 2 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2019. 
  286. ^ Savage, Mark (2 tháng 4 năm 2019). “Drake, BTS and Ariana Grande boost global music sales to $19bn”. BBC. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2019. 
  287. ^ Benjamin, Jeff (18 tháng 8 năm 2018). “(G)I-DLE Discuss New Single 'Hann (Alone)' & Debut-Year Goals During First U.S. Visit: Exclusive”. Billboard. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2019. 
  288. ^ Hong, Dam-young (28 tháng 12 năm 2018). “[Video] D-Crunch hopes to spread own stories around the world”. The Korea Herald. 
  289. ^ Kim, Hye-yeong (3 tháng 11 năm 2018). '아이돌 라디오' 더보이즈 영훈, "방탄소년단 뷔에 푹 빠졌다!" 음성편지로 '팬심' 전해. Naver (bằng tiếng Korean). IMBC. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2019. 
  290. ^ “쭤🦁”. V Live. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2019. 
  291. ^ [SS쇼캠] '칸' 유나킴 "롤 모델은 방탄소년단, 존경스럽다" ('칸' 데뷔 쇼케이스). Naver (bằng tiếng Korean). Sports Seoul. 23 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2019. 
  292. ^ 골든차일드 재현 "방탄소년단 뷔, 스타일 롤 모델이다"[화보]. Naver (bằng tiếng Korean). Sports Seoul. 6 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2019. 
  293. ^ 워너원 "엑소·방탄은 우리 교과서…선주문량 50만장 영광". Joynews24 (bằng tiếng Korean). 8 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2019. 
  294. ^ Lim, Joo-hyeon (31 tháng 10 năm 2017). [★FULL인터뷰]'데뷔' 인투잇 "워너원과 한 무대 서고파..롤모델은 방탄". Naver (bằng tiếng Korean). Sports News. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2019. 
  295. ^ Kim, Hyeon-cheol (18 tháng 9 năm 2017). 방탄소년단 뷔 "롤모델로 꼽아준 워너원 박지훈, 정말 감사". Naver (bằng tiếng Korean). SBS funE. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2019. 
  296. ^ 김동한 "롤모델 엑소·방탄소년단…반의반이라도 닮고 싶어"(화보). Naver (bằng tiếng Korean). Sports News. 26 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2019. 
  297. ^ [인터뷰] '프듀101' 김동한 "우승자 예측? 아마도 박지훈". Osen (bằng tiếng Korean). 13 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2019. 
  298. ^ 세븐어클락 정규 "방탄소년단 아미분들, 응원 댓글에 감동". Naver (bằng tiếng Korean). MBN. 13 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2019. 
  299. ^ 안형섭 x 이의웅, "샤이니 태민·BTS 정국 닮고 싶어". Naver (bằng tiếng Korean). 28 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2019. 
  300. ^ Hong, Dam-young (9 tháng 4 năm 2018). “Noir debuts with black-tinged 'Twenty's Noir'. The Korea Herald. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2019. 
  301. ^ “VICTON's Sejun Finally meets his 'Role Models' BTS and Reveals How He Felt”. Korea Portal. 26 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2019. 
  302. ^ Park, Seo-kyeong (7 tháng 11 năm 2018). "BTS 꿈꿔요"...차세대 한류 아이돌. Naver (bằng tiếng Korean). YTN. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2019. 
  303. ^ Kim, Soo-yeong (26 tháng 12 năm 2018). 국립국악원, 국악기 디지털 음원 서비스 확대…"방탄소년단 히트곡 영향". Naver (bằng tiếng Korean). KBS. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2018. 
  304. ^ 방탄소년단에서 촉발된 K팝의 '나' 찾기. Naver (bằng tiếng Korean). Herald Corporation. 7 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2019. 
  305. ^ Lee, Eun-ho (19 tháng 10 năm 2015). 방탄소년단, 푸마 새 모델 발탁…시크한 겨울 화보 공개텐아시아 | 텐아시아 [BTS, Puma's New Model...a chic winter pictorial]. Ten Asia (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  306. ^ "우리가 바로, 앰배서더"…BTS, '푸마' 글로벌 모델 발탁 ['We are ambassadors'.. BTS selected as PUMA global models] (bằng tiếng Hàn). 27 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019 – qua Naver. 
  307. ^ Ejiofor, Annette (1 tháng 3 năm 2018). “BTS Are Puma's New Ambassadors And We Will Buy All The Athletic Gear”. Huffington Post Canada. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  308. ^ Nicole, Kirichanskaya (12 tháng 3 năm 2018). “This Korean Boy Band Remixed Classic Puma Sneakers for a Collab That Will Debut in the USA”. Footwear News. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  309. ^ “BTS becomes new models for LG Electronics' smartphones”. Yonhap. 3 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  310. ^ Unger, Emerson (26 tháng 11 năm 2018). “Hyundai Motor Appoints BTS as Global Brand Ambassadors of the All-New Flagship SUV 'Palisade'. MUSE. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  311. ^ Moon, Hee-cheol (19 tháng 2 năm 2019). [현장에서]팰리세이드 열풍이 드러낸 현대차의 민낯. JoongAng Ilbo (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019 – qua Joins. 
  312. ^ :
  313. ^ “BTS to promote Seoul tourism in video ad”. Yonhap. 14 tháng 9 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019 – qua The Korea Herald. 
  314. ^ Tamar, Herman (20 tháng 10 năm 2017). “BTS' New BT21 Collab With Line Friends Blends Fashion, Emojis & K-Pop”. Billboard. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  315. ^ Kim, Jee-min (12 tháng 10 năm 2018). “Rapidly-expanding universe of BTS merchandise sweeping global market”. The Korea Herald. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  316. ^ Lee, Ki-moon (22 tháng 1 năm 2019). “Korean IT Firms Cash in on Bangtan Boys' Global Success”. Chosun Ilbo. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2019. 
  317. ^ “BTS manga to be released in Taiwan on Line Webtoon”. The China Post. 19 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  318. ^ Namgoong, Mingwan (26 tháng 8 năm 2014). 네이트 '방탄소년단' 등장 웹툰 최초 공개 [Nate BTS First Announcement of Webtoons]. Dailian News (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  319. ^ Ingvaldsen, Torsten (13 tháng 2 năm 2019). “K-Pop Group BTS Teams up With Medicom Toy for New BE@RBRICK”. Hypebeast. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2019. 
  320. ^ Elfring, Matt (15 tháng 2 năm 2019). “Funko Pops At Toy Fair 2019: BTS, Backstreet Boys, KISS, And More Music Pops”. GameSpot. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2019. 
  321. ^ Park, Sang-jin (21 tháng 6 năm 2016). 넥슨, '엘소드'에 인기 그룹 '방탄소년단' 신규 아바타 추가 [Nexon, ‘Elsword’ popular group ‘BTS’ added as new avatar]. Xports News (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019 – qua Naver News. 
  322. ^ Choi, Soobin "Pratt" (18 tháng 1 năm 2018). “The Official BTS Rhythm Game. 'SUPERSTAR BTS' released”. InvenGlobal. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  323. ^ Kim, Soojin "Eonn"; Park, Kyung Yun "Yullie" (27 tháng 1 năm 2019). “BTS World coming soon? BTS Simulation Mobile Game BTS World teaser website opens”. InvenGlobal. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2019. 
  324. ^ Lee, Jade (20 tháng 3 năm 2018). “Kpop Boy Band BTS Pitches Banking to Korean Millennials in Spot for KB Bank”. Branding in Asia. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  325. ^ KB국민은행 (7 tháng 3 năm 2018). KB 스타뱅킹 X 방탄소년단 by KB국민은행(Full ver.) [KB Star Banking X BTS by KB Kookmin Bank (Full ver.)] (Online video) (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  326. ^ Kim, Ki-hyuk (27 tháng 12 năm 2018). 국민銀, 방탄소년단과 재계약 출처 [Kookmin 銀 re-signs BTS]. SE Daily (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  327. ^ “Coca-Cola taps BTS as new representative”. Yonhap. 30 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  328. ^ Kim, Seong-won (30 tháng 4 năm 2018). 방탄소년단, 2018년 러시아월드컵 코카콜라 캠페인 모델 발탁 [BTS to host 2018 Coca-Cola campaign for Russia World Cup]. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  329. ^ Lee, Min-ji (30 tháng 4 năm 2018). 방탄소년단, 2018년 러시아월드컵 코카콜라 캠페인 모델 발탁 [BTS selected as a campaign model for the Russia World Cup]. Newsen (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  330. ^ “BTS renews contract with school uniform brand Smart”. The Korea Herald. 3 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  331. ^ Gu, Hye-rin (25 tháng 2 năm 2019). 엘앤피코스메틱, 마스크팩 '메디힐' 모델로 방탄소년단 발탁 [L&P Cosmetics, BTS chosen as 'MediHeal' models for mask pack]. FN Times (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2019. 
  332. ^ Chen, Lily (10 tháng 10 năm 2018). “BTS Enters the K-Beauty Space With a New Makeup Collaboration”. HYPEBAE. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  333. ^ BTS (防弾少年団)、カラーコンタクトレンズのテレビCM出演へ [BTS (BTS) to Appear in TV commercials for color contact lenses]. Billboard JAPAN (bằng tiếng Nhật). 6 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  334. ^ Kim, Yu-jin (22 tháng 12 năm 2015). “BTS donates 7 tons of rice for charity”. The Korea Herald. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2018. 
  335. ^
  336. ^ “Let's Share the Heart Charity Information”. Naver. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2018. 
  337. ^ Min, Susan (21 tháng 1 năm 2017). “BTS Donates to Families of Sewol Ferry Victims”. Mwave. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017. 
  338. ^ “About LOVE MYSELF”. BigHit Entertainment. 31 tháng 10 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  339. ^ a ă *Herman, Tamar (31 tháng 10 năm 2017). “BTS Collaborates with UNICEF on 'Love Myself' Anti-Violence Campaign”. Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2018. 
  340. ^ *“BTS Supports #ENDviolence”. UNICEF (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2018. 
  341. ^ Kyung, Seo (17 tháng 1 năm 2018). “방탄소년단 '러브 마이셀프' 캠페인, 전 세계 모금액 6억 돌파 (BTS 'Love Myself' Campaign Worldwide Fundraiser Surpasses ₩600,000,000)”. Naver. SEDaily. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2018. 
  342. ^ News, A. B. C. (5 tháng 4 năm 2018). “Obama, Stevie Wonder and others honor legacy of Martin Luther King Jr.”. ABC News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2018. 
  343. ^ Herman, Tamar (31 tháng 12 năm 2018). “Here's Just About Everything BTS Did in 2018”. Billboard. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2019. 
  344. ^ a ă â Chakraborty, Riddhi (24 tháng 9 năm 2018). “BTS at the UN: 'Our Fans' Stories Constantly Remind Us of Our Responsibility'. Rolling Stone India. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2018. 
  345. ^ a ă Falk, Pamela (23 tháng 9 năm 2018). “K-pop boy band, "BTS," to give some buzz to staid UN”. CBS News. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2018. 
  346. ^ Allaire, Christian (24 tháng 9 năm 2018). “Watch BTS Address the United Nations With an Emotional Speech About Self-Acceptance”. Vouge. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2018. 
  347. ^ “World leaders unite under new initiative to provide quality education and training for young people”. UNICEF. 20 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2018. 
  348. ^ “South Korean Boy Band BTS Come to Comics”. Newsarama. 17 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2019. 
  349. ^ Herman, Tamar (21 tháng 1 năm 2019). “BTS Announce New Book 'The Notes 1'. Billboard. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019. 
  350. ^ “I BTS PUBBLICANO IL FUMETTO "SAVE ME": TUTTO QUELLO CHE C'È DA SAPERE”. MTV (bằng tiếng Italian). 17 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2019. 
  351. ^ Bloch, Bethany (22 tháng 1 năm 2019). “What marketers can learn from K-Pop band BTS”. Mumbrella Asia. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2019. 
  352. ^ Park, Jin-ha (30 tháng 1 năm 2019). “The power of K-pop supergroup BTS is felt industry wide as band release films, books and comics”. South China Morning Post. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2019. 
  353. ^ Ramos, Mariejo (2 tháng 9 năm 2018). “Finding the 'Answer' with BTS”. Inquirer. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2019. 
  354. ^ Dodson, Claire (14 tháng 8 năm 2018). “The BTS ARMY Has Intense Fan Theories About New "Love Yourself: Answer" Photos”. Teen Vogue. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2019. 
  355. ^ Peters, Megan (14 tháng 8 năm 2018). “BTS Tweet Involving 'The Promised Neverland' Sparks New Theories”. Comicbook. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2019. 
  356. ^ Khater, Ashraf (4 tháng 9 năm 2016). “BTS 'Wings': 4 Creepy Fan Theories Explaining Bangtan Boys' New Short Film”. International Business Times. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2019. 
  357. ^ Ngày 13 tháng 11 năm 2017, Rap Monster đã thông báo đổi nghệ danh thành RM trên fancafe chính thức của nhóm.
  358. ^ Lee, Jung-hyuk (2 tháng 12 năm 2015). 방탄소년단, 미디어 전시회 개막. 첫날부터 600명 방문 [BTS Opens Media Exhibition, 600 visitors on the first day]. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019 – qua Naver. 
  359. ^ Park, Jin=young (7 tháng 9 năm 2018). [공식입장] 방탄소년단, 단독 전시회 '오, 늘' 개최..8월 25일부터 오픈 [[Official Admission] BTS to hold 'Five, Always' Exhibition..It will open on August 25]. OSEN (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  360. ^ 防弹少年团《24/7=Serendipity》活动3月23日开幕撼动花城! [BTS "24/7=Serendipity" event opening on March 23 to shake Huacheng!]. Guangdong Window (bằng tiếng Trung). 25 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  361. ^ Whitney, Kayla (22 tháng 5 năm 2019). “BTS tickets, dates announced for New York BTS EXHIBITION IN THE U.S. '24/7 = Serendipity (오,늘)'. AXS. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  362. ^ Brandle, Lars (12 tháng 10 năm 2018). “BTS Announce Big Screen Debut With 'Burn the Stage: the Movie'. Billboard. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  363. ^ Kim, Young-rok (14 tháng 12 năm 2018). [공식]방탄소년단 콘서트 영화 '러브유어셀프 인 서울', 1월 26일 개봉 확정 [[Official] BTS concert movie 'Love Yourself in Seoul', released on January 26]. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019 – qua Naver. 
  364. ^ Kim, Jae-ha (25 tháng 6 năm 2019). “BTS’ ‘Bring the Soul: The Movie’ Gets Global Theatrical Release”. Variety. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2019. 
  365. ^ Im, Young-jin (28 tháng 8 năm 2013). 방탄소년단, '신인왕 방탄채널' 출연..첫 예능 도전 [BTS to appear on 'Rookie Bulletproof Channel'... The first entertainment challenge]. Osen (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2019. 
  366. ^ 防弹少年团BTS China Job迎来卖萌最终话 [Bangtan Boys' "BTS China Job" airs final episode]. North Times (bằng tiếng Trung). 31 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2019. 
  367. ^ Montag, Ali (25 tháng 5 năm 2018). “How these 7 Korean 20-somethings became a pop music phenomenon bringing in millions”. CNBC. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  368. ^ “[Go!] Episode 7 - Go! BTS”. Go!. Tập 7 (bằng tiếng Hàn). Mnet America. 4 tháng 9 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  369. ^ Yim, Hyun-su (10 tháng 7 năm 2018). “Mnet to air 'Run BTS' on small screen starting Wednesday”. The Korea Herald. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  370. ^ Lee, So-dam (14 tháng 3 năm 2018). 방탄소년단X유튜브 레드, 리얼 성장 다큐 28일 첫 선 [BTS X YouTube Red, Debuts Real Growth Documentary]. Osen (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019 – qua Naver. 
  371. ^ Altatis, Conan (21 tháng 6 năm 2017). “K-Pop Group BTS Boys Look Pretty In Innovative Fashion”. Korean Portal. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  372. ^ Jie, Ye-eun (25 tháng 1 năm 2017). “[V Report Plus] BTS airs ‘BTS Gayo’ season 2”. Kpop Herald. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2019. 
  373. ^ Kelley, Caitlin (31 tháng 10 năm 2017). “BTS Makes ARMYs Laugh in Variety Web Series 'Run BTS!'. Billboard. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  374. ^ References for V Live S01-03:
  375. ^ 가온 인증(Gaon Certification) [Gaon Certification - Album] (bằng tiếng Hàn). Gaon Music Chart. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2019. 
  376. ^ 가온 인증(Gaon Certification) [Gaon Certification - Streaming] (bằng tiếng Hàn). Gaon Music Chart. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2019. 
  377. ^ “Gold & Platinum”. RIAA. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2019. 
  378. ^ “BTS、海外男性歌手初のミリオン「とても幸せ」 レコ協19年7月度認定”. ORICON NEWS. 9 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2019. 
  379. ^ “SOCIAL 50”. Billboard. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2019. 
  380. ^ Yoon, Min-sik (8 tháng 10 năm 2018). “BTS to get medal for spreading Korean culture: presidential office”. The Korea Herald. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2018. 
  381. ^ Serjeant, Jill (6 tháng 6 năm 2019). “K-pop's BTS gets coveted Recording Academy membership invite”. Reuters. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2019. 
  382. ^ Nattress, Katrina (6 tháng 6 năm 2019). “BTS Have Been Invited to Become Recording Academy Members”. Pop Crush. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2019. 

Liên kết ngoài