Bell UH-1 Iroquois

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
UH-1 Iroquois / HU-1 "Huey"
Huey1.jpg
UH-1D thuộc Lục quân Hoa Kỳ
Kiểu Máy bay trực thăng đa nhiệm
Hãng sản xuất Bell Helicopter
Chuyến bay đầu tiên 20 tháng 10 năm 1956 (XH-40)
Bắt đầu
được trang bị
vào lúc
1959
Tình trạng Đang phục vụ
Trang bị cho Lục quân Hoa Kỳ (đã loại biên)
Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản
Lục quân Úc (đã loại biên)
Xem thêm Các quốc gia sử dụng

 Hoa Kỳ
 Việt Nam
 Israel
 Hàn Quốc
 Indonesia
 Singapore
 Philippines
 Thái Lan
 Nhật Bản
 Úc
 Lào
 Campuchia
 Mexico
 Brasil
 Đức
 Trung Hoa Dân Quốc
 Brunei

Được chế tạo 1956–1987
Số lượng sản xuất >16.000
Biến thể Bell UH-1N Twin Huey
Bell 204/205
Bell 212
Phát triển thành Bell AH-1 Cobra
Bell 214
Bell UH-1 Iroquois thuộc Không quân Nhân dân Việt Nam
Binh sĩ quân đội Sài Gòn đang cố trèo lên càng một chiếc trực thăng UH-1 để di tản

UH-1 Iroquois là loại máy bay trực thăng do hãng Bell chế tạo. Đây là loại trực thăng quân sự đa năng, nổi tiếng vì được sử dụng nhiều trong chiến tranh Việt Nam. Nó thường được biết dưới tên là Huey.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

UH-1 Huey được phát triển vào năm 1955 trong quân đội Mỹ với bản thử nghiệm Bell 204. Chiếc máy bay được sử dụng trong quân đội vào năm 1959, và được đưa vào sản xuất hàng loạt năm 1962 dưới tên UH-1. Chiếc cuối cùng xuất xưởng năm 1976 với hơn 16.000 chiếc được sản xuất.

Chiếc trực thăng Bell đầu tiên sử dụng động cơ turbin là loai Model 47 (còn được gọi là XH-13F. Nó bay lần đầu vào 10/1954, Quân đội Mỹ bắt đầu có kế hoạch đưa vào sử dụng loại máy bay đa năng này vào năm 1955.

HU-1A (sau đó được đặt tên là UH-1A) là chiếc máy bay trực thăng sử dụng động cơ turbin đầu tiên được đưa vào sản xuất đại trà. Các máy bay đầu tiên được sử dụng trong các sư đoàn dù 101st Airborne Division, 82nd Airborne Division và chi đội cứu thương 57th Medical Detachment.

Chiếc trực thăng ban đầu có tên là HU-1A, sau đó nó được gọi biệt danh là "Huey". UH-1 có trọng lượng rỗng 2.365kg, trọng lượng cất cánh thông thường 4.100 kg và tối đa là 4.309 kg. Trực thăng được trang bị một động cơ T53 với dải công suất từ 700-1.400 mã lực tùy phiên bản, cho tốc độ tối đa 217 km/h, tầm bay chuyển sân 507 km, trần bay 5.910 mét.

Tham chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là loại trực thăng được Mỹ sử dụng phổ biến nhất trên Chiến trường Việt Nam. Đây là loại trực thăng đa năng có nhiệm vụ chính là vận tải (chở quân, cấp cứu thương binh), UH-1 có thể chở theo 14 lính trong nhiệm vụ chở quân, 6 cáng thương binh khi làm nhiệm vụ tải thương. Nhưng nó vẫn có thể mang được vũ khí để thực hiện nhiệm vụ yểm trợ đường không cho bộ binh. Tuỳ từng nhiệm vụ mà trực thăng UH-1 sẽ được mang theo cấu hình vũ khí khác nhau, trong đó có cấu hình phổ biến nhất bao gồm 2 bệ phóng 12 ống rốc-két 70mm, mỗi quả có tầm bắn 3,5 km. Cấu hình vũ khí thứ hai có tên gọi M5, bao gồm một bệ pháo xoay đặt ngay dưới mũi máy bay gắn pháo 40mm M75 với dự trữ đạn 350 viên, mỗi viên đạn nổ 40mm bán kính sát thương 15 mét. Cấu hình thứ ba chỉ có súng máy với bốn khẩu súng máy M60 điều khiển từ xa được gắn cố định hai bên thân, mỗi khẩu có dự trữ đạn 1.200 viên (có thể lắp thêm mỗi bên một bệ phóng 7 quả rốc-két 70mm).

Nếu nhiệm vụ chú trọng hoả lực mạnh, UH-1 có cấu hình M17 với 2 bệ phóng rốc-két 70mm hai bên với sức chứa 38 quả. Nếu dùng cấu hình chống bộ binh, mỗi bên máy bay gắn 1 khẩu súng máy 6 nòng M134 Minigun với tốc độ bắn được giới hạn 3.000 viên mỗi phút kèm theo cơ số đạn 4.000 viên mỗi khẩu.

Cuối cùng là cấu hình chống tăng bao gồm 6 quả tên lửa dẫn đường bằng dây AGM-22 với tầm bắn 3 km và đầu đạn nặng 6,8 kg, nhưng cấu hình ít được sử dụng tại Việt Nam vì quân Việt Nam khi đó không có xe tăng.

Theo thống kê của trang mạng vhpa.org (Vietnam Helicopter Pilots Association – Hội Phi công trực thăng Mỹ trên chiến trường Việt Nam), tổng cộng đã có 7.013 chiếc UH-1 tham chiến ở Việt Nam, chiếm 59,3% tổng số trực thăng tham chiến. Số máy bay này gồm nhiêu phiên bản như UH-1 nguyên bản (80 chiếc), UH-1A (8 chiếc), UH-1B (729 chiếc), UH-1C (696 chiếc), UH-1D (1.926 chiếc), UH-1E (156 chiếc), UH-1F (31 chiếc), UH-1H (3.375 chiếc), UH-1L (2 chiếc), UH-1M (5 chiếc), UH-1N (2 chiếc), UH-1P (3 chiếc). Phần lớn các máy bay UH-1B và hầu như tất cả số UH-1C đều được sử dụng như các phiên bản vũ trang yểm hộ hỏa lực. UH-1H là phiên bản được sử dụng phổ biến nhất để chở quân, tải thương… Hầu hết số máy bay tham chiến ở Việt Nam đều thuộc biên chế lục quân Mỹ. Ngoài ra, 861 chiếc UH-1 được viện trợ cho không quân Sài Gòn, chiếm hơn 40% tổng số máy bay Mỹ viện trợ.

UH-1 cũng có một số hạn chế, đó là thiếu các hệ thống điện tử và trinh sát mạnh, và khả năng bảo vệ yếu trước hỏa lực phòng không. Những hạn chế này xuất phát từ việc UH-1 được sản xuất và sử dụng với quy mô khá lớn, nên cần phải cắt giảm những thiết bị quá đắt tiền. Vỏ giáp trực thăng cũng phải giảm bớt vì sẽ làm hạn chế năng lực vận tải của UH-1. Trong trận Ấp Bắc diễn ra vào ngày 2/1/1963, quân giải phóng Việt Nam đã bắn rơi 5 máy bay UH-1 chỉ bằng súng trường và súng máy 7,62mm.

Các trọng liên phòng không DShK 12,7mm và KPV 14,5mm là một mối nguy hiểm lớn với UH-1, bởi đây là loại vũ khí gọn nhẹ, rẻ tiền, thích hợp với chiến thuật phục kích mà các đơn vị phòng không Việt Nam thường sử dụng. Quân Việt Nam thường dùng chiến thuật ẩn nấp dưới hầm hoặc tán cây, đợi trực thăng Mỹ sà thấp tìm mục tiêu hoặc đổ quân thì sẽ nổ súng, vài phát đạn bắn trúng thường là đủ để hạ chiếc UH-1. Ví dụ như ngày 13/9/1968, Đại đội 18 với 2 khẩu DShK và 40 viên đạn đã bắn rơi tại chỗ 2 chiếc trực thăng UH-1, trong đó 1 chiếc đang chở ban chỉ huy Mỹ, giết chết thiếu tướng Mỹ Keith Lincoln Ware (Tư lệnh Sư đoàn 1 "Anh Cả Đỏ" của Mỹ)[1] Đặc biệt trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971, hàng trăm súng máy phòng không 12,7mm được quân Việt Nam ngụy trang để phục kích các trực thăng UH-1 tại bãi đổ quân. Trong chiến dịch này, 168 trực thăng Mỹ đã bị phá hủy và 618 chiếc khác bị bắn hỏng, trong đó phần lớn là trực thăng UH-1.

Gần 4.200 chiếc UH-1 đã bị quân đội Việt Nam bắn rơi, phá hủy hoặc bị tịch thu, bao gồm 3.305 chiếc UH-1 của quân đội Mỹ, vài trăm chiếc UH-1 của quân đội Sài Gòn và một số chiếc của quân đội Úc. Tống số phi công UH-1 của Mỹ bị chết là 2.177 người, chiếm 44,4% số phi công trực thăng Mỹ thiệt mạng ở Việt Nam, và chiếm 5% trong số hơn 40.000 phi công trực thăng Mỹ tham chiến.

Sau Chiến dịch Hồ Chí Minh, Không quân Nhân dân Việt Nam đã thu được khoảng 50 chiếc UH-1 còn tốt, sử dụng được ngay. Số trực thăng này được biên chế cho Trung đoàn Không quân 917, thành lập ngày 20/7/1975, và lập tức tham gia chiến đấu truy quét Fulro, tham chiến trong Chiến tranh biên giới Tây Nam, cũng như làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền trên biển.

Các phiên bản được sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

  • XH-40: phiên bản đầu tiên của Bell-204
  • YH-40: sáu chiếc được sản xuất.giống như XH-40 với cabin rộng thêm 12 inch
  • UH-1A: phiên bản Bell-204 sản xuất đại trà đầu tiên,được đặt tên lại là IH-1A vào năm 1962.182 chiếc được sản xuất.
  • UH-1B: nâng cấp từ HU-1A được đặt lại tên UH-1B năm 1962.1014 chiếc được sản xuất.
  • UH-1C: có thêm vị trí cho xạ thủ súng máy.
  • UH-1D: dược sản xuất theo Model Bell-205.được thiết kế như thiết bị chở quân như CH-47 theo yêu cầu của quân đội Mỹ.
  • UH-1E
  • UH-1F:sử dụng động cơ mới General Electric T-58-GE-3 với công suất 1,325 hp.
  • UH-1H:sử dụng đông cơ Lycoming T53-L13 với công suất 1400 hp.5435 chiếc được sản xuất.
  • UH-1N
  • UH-1Y Venom (Super Huey) là trực thăng hiện đại nhất trong các dòng trực thăng UH-1, trực thăng này do Thuỷ quân lục chiến Mỹ sử dụng

Các quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

.[3]

Thông số kỹ thuật (UH-1D)[sửa | sửa mã nguồn]

UH-1 Huey Drawing.svg

Đặc tính tổng quát

  • Kíp lái: 1-4
  • Sức chứa: 3,880 lb (1,760 kg) bao gồm 14 lính, hay 6 cáng, hoặc hàng hoá tương đương
  • Chiều dài: 57 ft 1 in (17,40 m) với rô to
  • Chiều rộng: 8 ft 7 in (2,62 m) (thân máy bay)
  • Chiều cao: 14 ft 5 in (4,39 m)
  • Trọng lượng rỗng: 5.215 lb (2.365 kg)
  • Trọng lượng có tải: 9.040 lb (4.100 kg)
  • Trọng lượng cất cánh tối đa: 9.500 lb (4.309 kg)
  • Động cơ: 1 × Lycoming T53-L-11 động cơ cánh quạt, 1.100 shp (820 kW)
  • Đường kính rô-to chính: 48 ft 0 in (14,63 m)

Hiệu suất bay

  • Vận tốc cực đại: 135 mph (217 km/h; 117 kn)
  • Vận tốc hành trình: 125 mph (109 kn; 201 km/h)
  • Tầm bay: 315 mi (274 nmi; 507 km)
  • Trần bay: 19.390 ft (5.910 m) (Phụ thuộc vào các yếu tố môi trường như trọng lượng, nhiệt độ bên ngoài, vân vân.)
  • Vận tốc lên cao: 1.755 ft/min (8,92 m/s)
  • Công suất/khối lượng: 0.15 hp/lb (0.25 kW/kg)

Vũ khí trang bị

Tùy lắp đặt nhưng thông thường là các vũ khí sau:

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://thethaovanhoa.vn/xa-hoi/gap-nguoi-ban-trung-tuong-my-keith-lincoln-ware-ky-2-n20090825085742273.htm
  2. ^ Das Otten, Wim and Kees. Albanian Air Force - Tirana’s moving steps Retrieved: ngày 26 tháng 12 năm 2008.
  3. ^ "Helicopter Losses During the Vietnam War." Vietnam Helicopter Pilots Association. Truy cập: ngày 5 tháng 9 năm 2007.

liên Kết Ngoài[sửa | sửa mã nguồn]