Binh đoàn 318 dầu khí

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Binh đoàn 318, còn gọi là Binh đoàn Dầu khí, là một binh đoàn của Quân đội nhân dân Việt Nam được giao nhiệm vụ xây dựng các hạ tầng kỹ thuật (giao thông, cảng biển, căn cứ hậu cần...) cho khu công nghiệp dầu khí Vũng Tàu, trong đó có liên doanh Vietsovpetro, và các cong trìng quốc phòng khác (sân bay, trường bắn binh chủng hợp thành Xuyên Mộc) và các nhiệm vụ an ninh quốc phòng khác trong khu vực Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo. Đây cũng là đơn vị lớn nhất của quân đội được thành lập để hỗ trợ cho ngành dầu khí Việt Nam. [1] Binh đoàn được thành lập năm 1980 và giải thể/chuyển đổi công năng năm 1983.

Nă 1983, Binh đoàn 318 được chuyển hoàn toàn sang Tổng cục Dầu khí và đổi tên thành Xí nghiệp Liên hiệp Xây lắp Dầu khí (theo quyết định của Tổng cục Dầu khí Việt Nam), với Tư lệnh của Binh đoàn thành Tổng giám đốc, Phó tư lệnh là Phó tổng giám đốc.[1]

Thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1976, Chính phủ Việt Nam đã bổ nhiệm Trung tướng Đinh Đức Thiện, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần (Bộ Quốc phòng) làm Bộ trưởng phụ trách dầu khí. Sau đó, Tổng cục Dầu khí được giao tiếp quản các cơ sở vật chất và tài liệu của các công ty dầu khí tại miền Nam Việt Nam. Nhiệm vụ xây dựng ngành dầu khí được giao cho quân đội từ lúc ấy.[2]

Ngày 26 tháng 6 năm 1980, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết 27/NQTW, cho Quân đội làm Dầu khí.

Ngày 11 tháng 07 năm 1980, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (lúc đó là Văn Tiến Dũng) thành lập Binh đoàn Dầu khí.[3]

Nhiệm vụ và hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1981, Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí giao nhiệm vụ cho Binh đoàn 318 xây dựng kinh tế dầu khí.

Nhiệm vụ chính của binh đoàn là xây dựng các công trình dầu khí ở Vũng Tàu. Ngoài ra còn các nhiệm vụ khác như xây dựng các công trình quốc phòng. Bộ Quốc phòng quản lý quân số, con người của binh đoàn. Phần nghiệp vụ do Tổng cục Dầu khí chỉ đạo.[1]

Binh đoàn về đóng tại Vũng Tàu khi đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo vừa được thành lập.

Lực lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Binh đoàn có vị trí và quyền hạn như một quân đoàn và có quân số khoảng từ 10 đến 20 ngàn.[1] Binh đoàn hình thành từ Sư đoàn 318 (từ Quân khu 4 đóng tại Nghệ An), Sư đoàn 336 (từ Lào), Trung đoàn 526 (trung đoàn vận tải trực thuộc Bộ Quốc phòng), Trung đoàn 693 (Trung đoàn 4 Công an nhân dân vũ trang - nay là Bộ đội Biên phòng) ở Tây Ninh, Bệnh viện 264 và một số tiểu đoàn độc lập như: Tiểu đoàn công binh, thông tin, Xưởng sản xuất-sửa chữa X15

Năm 1982, Binh đoàn được bổ sung nguồn nhân lực từ Khu gang thép Thái Nguyên và từ các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp từ phía Bắc.

Tổ chức của Binh đoàn, như một Tổng công ty, bao gồm:

- Bộ tư lệnh Binh đoàn và Binh đoàn bộ (như một ban Tổng giám đốc và các phòng chức năng: chính trị, tham mưu, tác chiến, tổ chức, quân lực, kế hoạch, kỹ thuật, cơ điện, vật tư, doanh trại...)

- Dưới Binh đoàn là các Trung đoàn đóng vai trò là các công ty thành viên (TĐ 271 - Khai thác đá, TĐ233, 694 - san lấp và xây dựng cảng và xây dựng đường, TĐ 526 - vận tải, Xưởng...) với các phòng chức nang về chính trị, quân sự và kỹ thuật.

- Dưới các Trung đoàn là các đại đội chúc năng.

Lãnh đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ tư lệnh Binh đoàn gồm:

  • Tư lệnh đầu tiên là Đại tá Nguyễn Cận (từ khi thành lập-1983), Thiếu tướng Trần Nguyên Độ (1983 đến khi Binh Đoàn 318 chuyển sang đơn vị kinh tế dân sự)
  • Chính ủy là Đại tá Trần Nguyên Độ[4], cuối năm 1982 ông được phong Thiếu tướng.
  • Phó tư lệnh: Đại tá Nguyễn Cư, Đại tá Trương Chí Công.[1][5],
  • Chủ nhiệm chính trị: Đại tá Nguyễn Chí Cơ (?)

Chuyển đổi[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 11 năm 1983, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quyết định thành lập Liên hiệp Xây lắp Dầu khí (tiền thân của Tổng Công ty cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam) trên cơ sở các đơn vị của Binh đoàn 318 Dầu khí.[3] Lực lượng của binh đoàn được chuyển sang làm việc tại Liên hiệp Xây lắp Dầu khí hoặc được bộ Quốc phòng chuyển về quân đội nhận công tác khác.[6]

Một số công trình tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Xây dựng mỏ đá ở hai xã An Ngãi và Phước Tỉnh của huyện Long Đất [7], góp phần lớn công sức trong việc xây dựng thành phố Vũng Tàu.
  • Xây dựng Cảng Vũng Tàu
  • Sân bay Cỏ Ống ở Côn Đảo.
  • Đường tránh QL 51 (51B), ngày đó còn gọi là QL15B (Trước năm 1975, QL từ Ngã Ba Vũng Tàu đi Vũng Tàu có tên là QL15 (xây dựng sau 1954), nhưng QL 15 thực tế từ thời Pháp thuộc là quốc lộ bắt đầu từ Tòng Đậu, đến thị trấn Cam Lộ, qua các tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, vi thế đường từ Biên Hòa đi Vũng Tàu đổi tên thành QL51)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Bản hùng ca Bộ đội Cụ Hồ xây dựng ngành dầu khí (Bài 3: Binh đoàn "dời non, lấp biển"), Quân đội Nhân dân, 31/08/2012
  2. ^ Bản hùng ca Bộ đội Cụ Hồ xây dựng ngành dầu khí (Bài 1) , Quân đội Nhân dân, 30/08/2012
  3. ^ a ă Tư lệnh đường ống thành Bộ trưởng Dầu khí, Vietnamnet, 04/05/2014
  4. ^ Sau này, ông Trần Nguyên Độ được phong Thiếu tướng, Tư lệnh kiêm Chính ủy binh đoàn
  5. ^ PVC - 30 năm một chặng đường, trên trang web của Tổng Công ty Cổ phần Xây lắp Dầu Khí Việt Nam
  6. ^ Anh bộ đội cụ Hồ của Dầu khí, PetroTimes
  7. ^ Hiện nay mỏ đá thuộc huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Mỏ đá tồn tại từ năm 1980 cho đến năm 1993 mới dừng khai thác

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]