Blanca Varela

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Blanca Leonor Varela Gonzáles (10 tháng 8 năm 1926 - 12 tháng 3 năm 2009) là một nhà thơ người Peru. Cô là cô con gái của nhà văn, nhà thơ, ca sĩ và nhà báo Serafina Quinteras.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Blanca Varela được sinh ra ở Lima.

Mẹ cô là một nhà soạn nhạc nổi tiếng với những bài Vanxơ. Cô học ngành Nhân văn và Giáo dục tại Đại học Quốc gia San Marcos, nơi cô đã gặp các nhà văn tương lai khác như Sebastián Salazar Bondy, Javier Sologuren, Jorge Eduardo Eielson, và chồng tương lai của cô, nghệ sĩ và nhà điêu khắc Fernando de Szyszlo với hai người con. Năm 1949, họ đi du lịch tới Paris, nơi cô gặp Octavio Paz, một nhân vật quan trọng trong cuộc đời cô, người đã giới thiệu cô với các nghệ sĩ và tri thức ở đó, như André Breton, Jean-Paul Sartre, Simone de Beauvoir, Henri Michaux, Alberto GiacomettiFernand Léger, trong số những người khác; và các tác giả người Mỹ Latinh khác sống ở Pháp vào thời điểm đó, ví dụ Carlos Martínez Rivas. Trong khi ở Paris với một nhóm các nghệ sĩ và nhà văn người Mỹ Latinh thường xuyên gặp nhau tại Café de Flore, tham gia vào các cuộc thảo luận mạnh mẽ về cách họ có thể tham gia vào phong trào hiện đại quốc tế trong khi vẫn giữ được bản sắc văn hóa Mỹ Latinh [1]. Paz đã thuyết phục cô xuất bản thơ của mình, và cho ấn bản đầu tiên của cuốn sách đầu tay Ese puerto existe (1959). Sau này Varela sống ở Florence và Washington, DC Năm 1962, cô trở về Lima và từ đó chủ yếu đi du lịch đến Mỹ, Tây Ban Nha và Pháp.

Cô đã được trao Medalla de Honor do Viện Peru Văn hóa Quốc gia, các giải Paz Octavio cho thơ và tiểu luận, Premio Octavio Paz de Poesía y Ensayo, giải Premio Internacional de Poesía Ciudad de Granada Federico García Lorca. Giải thưởng thơ quốc tế Lorca, 2006, với tư cách là người phụ nữ đầu tiên từ trước đến nay), và giải Premio Reina Sofía de Poesía Iberoamericana vào năm 2007.

Bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Những bài thơ của cô có tính chất chủ nghĩa siêu thực nhưng theo một cách họ cố gắng thể hiện thế giới một cách bao quát theo một góc nhìn về thế giới bên trong bài thơ.

Sách của cô đã được dịch sang tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Ý, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Nga và tiếng Séc.

Tuyển tập thơ

  • Ese puerto tồn tại (Cổng đó tồn tại), 1959
  • Luz de día (Ánh sáng ban ngày), 1963
  • Valses y otras falsas confesiones (Waltze và những lời thú nhận sai lầm khác), 1971
  • Ejercicios materiales (Bài tập vật liệu), 1978-1993
  • Canto Villano (Bài hát của sự bẩn thỉu), 1978
  • Camino a Babel (Đường đến Babel), 1986
  • El libro de barro (Sách đất sét), 1993-1994
  • Động vật concierto (buổi hòa nhạc của động vật), 1999
  • Poesía Escogida
  • Como Dios en la Nada (Tuyển tập 1949-1988)
  • El falso teclado (Bàn phím giả), 2001

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chú thích trống (trợ giúp) 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]