Blockbuster LLC

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Blockbuster LLC
Loại hình
Công ty con
Mã niêm yếtNYSE: BBI (1999–2010)[1][2]
OTC Pink: BLIAQ
OTC Pink: BLIBQ
(BB Liquidating Inc.)
Tình trạngPhá sản, bán thanh lý, tiếp tục có giới hạn của thương hiệu ở Hoa Kỳ
Hậu thânSling TV
Dish Movie Pack
Thành lập19 tháng 10 năm 1985 (1985-10-19)[3]
Dallas, Texas
Người sáng lậpDavid Cook[3]
Giải thể23 tháng 9 năm 2010 (2010-09-23) (công ty ban đầu)
6 tháng 11 năm 2013 (2013-11-06) (Dish sở hữu cổ phần)
12 tháng 1 năm 2014 (2014-01-12) (cửa hàng cuối cùng)
Trụ sở chínhHoa Kỳ[cần dẫn nguồn]
Số lượng trụ sở
1, Bend, Oregon, United States (sở hữu tư nhân, nhượng quyền)[a]
Dịch vụCho thuê băng đĩa hình
(băng VHS, Betamax, đĩa LaserDisc, DVD, Ultra HD Blu-ray, Blu-ray)
Dịch vụ truyền phát video theo yêu cầu
Doanh thuGiảm US$3.24 tỷ (2010)
Giảm −US$78.8 triệu (2010)
Tăng −US$268 triệu (2010)
Tổng tài sảnGiảm US$1.183 tỷ (2010)
Tổng vốn
chủ sở hữu
Giảm −US$582.3 triệu (2010)
Số nhân viên84,300 (2004)
25,000 (2010)
3 (2019)[4]
Công ty mẹViacom (1994–2004)
Dish Network (2011–nay)
Websitewww.blockbuster.com

Blockbuster, tên chính thức là Blockbuster LLC và còn được gọi là Blockbuster Video,[5] là một nhà cung cấp dịch vụ cho thuê phim tại nhà và trò chơi điện tử có trụ sở tại Mỹ. Các dịch vụ được cung cấp chủ yếu tại các cửa hàng cho thuê video, nhưng sau đó có các lựa chọn thay thế bao gồm DVD-by-mail, phát trực tuyến, video theo yêu cầu và rạp chiếu phim.[6] Trước do Blockbuster Entertainment, Inc điều hành,[7] công ty đã mở rộng ra quốc tế trong suốt thập kỷ 1990. Vào thời kỳ đỉnh cao vào năm 2004, Blockbuster bao gồm 9.094 cửa hàng và tuyển dụng khoảng 84.300 người: 58.500 ở Hoa Kỳ và 25.800 ở các quốc gia khác.[8][9][10][11]

Khả năng lãnh đạo kém và sự cạnh tranh từ dịch vụ đặt hàng qua thư, cửa hàng tự động của Redbox và dịch vụ video theo yêu cầu của Netflix là những yếu tố chính dẫn đến sự suy tàn của Blockbuster. Công ty bắt đầu mất doanh thu đáng kể vào cuối những năm 2000 và nộp đơn xin bảo hộ phá sản vào năm 2010.[12][13] Năm sau, 1.700 cửa hàng còn lại của công ty đã được nhà cung cấp truyền hình vệ tinh Dish Network mua lại.[14][15] Đến đầu năm 2014, 300 cửa hàng cuối cùng thuộc sở hữu của công ty đã đóng cửa.[16] Mặc dù sự ủng hộ của công ty đối với thương hiệu đã kết thúc, Dish vẫn giữ một số lượng nhỏ các thỏa thuận nhượng quyền thương mại, cho phép một số nhượng quyền thương mại thuộc sở hữu tư nhân vẫn mở. Sau một loạt các lần đóng cửa, gần đây nhất là vào năm 2019 tại Tây Úc,[17] chỉ có một cửa hàng còn mở, tại Bend, Oregon, Hoa Kỳ.[18][19]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

1985-1996: Thời kì David Cook[sửa | sửa mã nguồn]

Cửa hàng Blockbuster ở Durham, North Carolina

Sự khởi đầu của Blockbuster có thể được bắt nguồn từ một công ty khác, Cook Data Services, được thành lập bởi David Cook vào năm 1978.[3][20] Mục tiêu chính của công ty là cung cấp dịch vụ phần mềm cho các ngành công nghiệp dầu khí trên khắp Texas, nhưng nó đã không thành công.[20] Sandy Cook, vợ của David, muốn tham gia vào lĩnh vực kinh doanh video và chồng cô đã sớm nghiên cứu về ngành này và triển vọng trong tương lai.[21] Sử dụng lợi nhuận kiếm được từ việc bán David P. Cook & Associates, công ty con của công ty mình, anh ấy quyết định mua nhượng quyền cửa hàng video ở Dallas được gọi là Video Works. Khi Video Works không cho phép anh trang trí nội thất cửa hàng của mình với thiết kế màu xanh vàng, anh đã rời nhượng quyền thương mại và mở 'Blockbuster Video' đầu tiên vào năm 1985 dưới công ty riêng của anh là Blockbuster Video Inc.[22][23] Khi nhận ra tiềm năng cho thuê video, Cook đã từ bỏ ngành công nghiệp dầu mỏ và bắt đầu nhượng quyền cho cửa hàng Blockbuster.[24]

Cửa hàng Blockbuster đầu tiên khai trương vào ngày 19 tháng 10 năm 1985, tại Dallas, Texas, với số lượng tồn kho 8.000 VHS và 2.000 băng Beta.[25] Kinh nghiệm quản lý cơ sở dữ liệu khổng lồ của Cook đã thật sự hữu ích trong việc thúc đẩy sự đổi mới trong ngành.[3] Sau thành công ban đầu từ các cửa hàng đầu tiên của công ty, Cook đã xây dựng một nhà kho trị giá 6 triệu đô la ở Garland, Texas, để giúp duy trì và hỗ trợ sự tăng trưởng trong tương lai cho phép các cửa hàng mới mở nhanh chóng.[3] Blockbuster thường sẽ điều chỉnh hàng tồn kho của một cửa hàng cho phù hợp với vùng lân cận, hoặc dựa trên nhân khẩu học địa phương.[3]

Năm 1987, Wayne Huizenga, đồng sáng lập Waste Management, người đã bắt đầu về việc gia nhập ngành công nghiệp cho thuê video, đã đồng ý mua lại một số cửa hàng Blockbuster.[26] Vào thời điểm đó, số lượng cửa hàng đã lên đến con số 19, thu hút sự chú ý của John Melk, cộng sự của Huizenga do tính hiệu quả, hình ảnh thân thiện với gia đình và mô hình kinh doanh. Huizenga và Melk đã sử dụng các kỹ thuật từ việc kinh doanh chất thải của họ và mô hình mở rộng của Ray Kroc để nhanh chóng mở rộng Blockbuster, và họ sẽ sớm mở một cửa hàng mới sau mỗi 24 giờ.[27][28] Họ đã tiếp quản nhiều cửa hàng nhượng quyền Blockbuster hiện có và Huizenga đã dành phần lớn thời gian cuối những năm 1980 để mua lại một số đối thủ của Blockbuster, bao gồm cả Major Video. Năm 1989, Nintendo đã cố gắng ngăn chặn khả năng cho thuê trò chơi điện tử của Blockbuster, đệ đơn nhiều vụ kiện và vận động Quốc hội Hoa Kỳ cấm hoạt động này.[29] Nintendo cuối cùng đã thua trận, điều này mở đường cho việc cho thuê trò chơi điện tử trong tương lai.[29][30]

Thẻ thành viên Blockbuster (c. 1990)

Vào năm 1990, Blockbuster đã mua mid-Atlantic rival Erol's, công ty có hơn 250 cửa hàng[31] Năm 1992, Blockbuster mua lại chuỗi bán lẻ âm nhạc Sound Warehouse và Music Plus và tạo ra Blockbuster Music.[32][33] Vào tháng 10 năm 1993, Blockbuster nắm quyền kiểm soát trong Spelling Entertainment Group, một công ty truyền thông do nhà sản xuất truyền hình Aaron Spelling điều hành.[34] Blockbuster đã mua Super Club Retail Entertainment Corp. vào ngày 22 tháng 11 năm 1993 từ Philips Electronics, N.V. với giá 5,2 triệu cổ phiếu Blockbuster. Điều này đã đưa khoảng 270 cửa hàng Record Bar, Tracks, Turtles và Rhythm and Views và khoảng 160 siêu thị bán lẻ video vào công ty.[35] Blockbusyer cũng sở hữu 35% cổ phần của Republic Pictures; công ty đó đã hợp nhất với Spelling vào tháng 4 năm 1994.[36]

Blockbuster đã trở thành một công ty trị giá hàng tỷ đô la, nhưng Huizenga lo lắng về cách công nghệ mới có thể đe dọa hoạt động kinh doanh của họ, chẳng hạn như video theo yêu cầu và sự phát triển của truyền hình cáp. Năm 1991, chỉ ba ngày sau khi Time Warner tuyên bố sẽ nâng cấp hệ thống cáp, cổ phiếu của Blockbuster đã giảm hơn 10%.[37] Năm 1993, ông đã nỗ lực mở rộng sang các lĩnh vực khác bằng cách đầu tư vào Viacom.[38][39] Huizenga cũng cân nhắc mua một công ty truyền hình cáp, nhưng đây không phải là lãnh thổ của Blockbuster và ông quyết định không mạo hiểm. Ông cũng có ý tưởng về một công viên giải trí và thể thao Blockbuster rộng 2.500 mẫu ở Florida, điều mà Blockbuster vẫn đang xem xét vào cuối tháng 8 năm 1994.[40] Không thể đưa ra một giải pháp thích hợp về cách đối mặt với các mối đe dọa ngày càng tăng đối với cửa hàng video truyền thống, anh ấy đã quyết định bán Blockbuster cho Viacom và rút lui.[41] Viacom mua lại Blockbuster vào năm 1994 với giá 8,4 tỷ USD để hỗ trợ tài chính cho việc mua lại Paramount trong cuộc chiến đấu thầu với QVC Network Inc.[42][43] Giao dịch cổ phiếu của Blockbuster đã giảm đều đặn trong những tháng trước khi sáp nhập, với một mức tăng nhỏ sau khi thương vụ được công bố,[44] vào cuối thập kỷ này, giá trị của nó ước tính chỉ 4,6 tỷ USD.[45]

2015–nay: Kỷ nguyên hậu Kelly và Blockbuster cuối cùng[sửa | sửa mã nguồn]

Blockbuster cuối cùng còn hoạt động ở Bend, Oregon.

Mặc dù các cửa hàng Blockbuster vẫn có thể mở cửa bằng cách trả phí cấp phép cho Dish[46], nhưng không còn một tổ chức công ty nào cung cấp các sản phẩm có thương hiệu nữa, buộc các bên nhận quyền phải tự thiết kế và sản xuất.[47] Việc đóng cửa thêm các cửa hàng vẫn tiếp tục.[48][49][50] Đến tháng 1 năm 2018,[51] trang web của công ty liệt kê 9 cửa hàng thuộc sở hữu nhượng quyền còn lại ở Hoa Kỳ, bao gồm 6 cửa hàng ở Alaska, 2 cửa hàng ở Oregon và một cửa hàng ở Texas.[52][53] Tám trong số chín cửa hàng đó đã đóng cửa vào tháng 8 năm 2018, chỉ còn một cửa hàng ở Bend, Oregon.[19][54][55] Tháng 3 năm 2019, cửa hàng cuối cùng còn lại bên ngoài Hoa Kỳ, nằm ở Morley, Tây Úc, đã đóng cửa.[17] Bend trở thành Blockbuster cuối cùng còn sót lại trên thế giới;[18] cửa hàng có các đạo cụ phim của Russell CroweJohn Oliver đã tặng cho một cửa hàng ở Alaska.[56] Tháng 8 năm 2020, địa điểm này được liệt kê là địa điểm cho thuê của Airbnb để ngủ lại theo chủ đề những năm 1990 vào ba đêm riêng biệt vào tháng 9; mỗi phòng đều được giới hạn khách đến do đại dịch COVID-19.[57][58]

Thực thể điều hành Blockbuster trước khi bán cho Dish vẫn hoạt động trên danh nghĩa dưới tên BB Liquidating Inc. và giao dịch dưới dạng cổ phiếu penny.[59] Tuy nhiên, nó không còn bất kỳ tài sản hoặc mối quan hệ nào với thương hiệu Blockbuster hoặc địa điểm nhượng quyền thương mại còn lại.[60] Trong một hoạt động liên quan đến Sự kiện bán non cổ phiếu GameStop tháng 1 năm 2021, cổ phiếu BB Liquidating đã tăng mạnh, mặc dù "không có giá trị gì đối với các cổ đông phổ thông trong quá trình thanh lý phá sản, ngay cả trong các kịch bản lạc quan nhất."[61]

Lịch sử quản lý cấp cao[sửa | sửa mã nguồn]

  • Michael Kelly, Chủ tịch: 2011–2015[62]
  • Dennis McGill, phó chủ tịch điều hành và giám đốc tài chính: 2010–2013[63][64]
  • Kevin Lewis, phó chủ tịch cấp cao và giám đốc tiếp thị: 2008–2012[65]
  • John F. Antioco, CEO: 1997–2007
  • James W. Keyes, CEO: 2007–2011
  • Karen H. Jolles, giám đốc tiếp thị: 1993–1997
  • Mark Allen Stuart, Phó chủ tịch Studio Quan hệ/Mua lại/Giám đốc Chiến lược Bán lẻ: 1989–1993

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Xuống còn 9,094 năm 2004

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Blockbuster releases IPO”. CNNMoney. ngày 10 tháng 8 năm 1999. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2018.
  2. ^ “Blockbuster Stock Trading Halted”. The Street. ngày 1 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2018.
  3. ^ a b c d e f Hyatt, Joshua (ngày 1 tháng 7 năm 2003). “He Began Blockbuster. So What? David Cook created a household name, but he refuses to become one”. CNN Money. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2014.
  4. ^ Harding, Sandi (17 tháng 5 năm 2019). “Experience: I manage the last Blockbuster in the world”. The Guardian. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2019.
  5. ^ Stephen, Bijan (ngày 29 tháng 8 năm 2018). “The last Blockbuster: what we really lose when video stores shut down”. The Verge. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2019.
  6. ^ “Blockbuster opening Mexico multiplex”. IMDb.
  7. ^ “Blockbuster's Entertainment Store!”. website home page. Wayback Machine. ngày 24 tháng 12 năm 1996. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2013. Blockbuster name, design and related marks are trademarks of Blockbuster Entertainment Inc. © 1987, 1996 Blockbuster Entertainment Inc. All Rights Reserved. Developed by Blockbuster Technology – Online Group and Viacom Interactive Services.
  8. ^ “The Sad End Of Blockbuster Video: The Onetime $5 Billion Company Is Being Liquidated As Competition From Online Giants Netflix And Hulu Prove All Too Much For The Iconic Brand”. International Business Times. ngày 5 tháng 12 năm 2013.
  9. ^ Clifford, Stephanie (ngày 8 tháng 4 năm 2011). “Other Retailers Find Ex-Blockbuster Stores Just Right”. The New York Times.
  10. ^ “Form 10-K”. www.sec.gov. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2017.
  11. ^ “Blockbuster to end late fees in 2005”. ngày 14 tháng 12 năm 2004. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2018.
  12. ^ “Blockbuster LLC Chapter 11 Petition” (PDF). PacerMonitor. PacerMonitor. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2016.
  13. ^ “Blockbuster Reaches Agreement on Plan to Recapitalize Balance Sheet and Substantially Reduce its Indebtedness” (Thông cáo báo chí). Blockbuster. ngày 23 tháng 9 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010.
  14. ^ Fritz, Ben (ngày 7 tháng 4 năm 2011). “Dish Network wins bidding for assets of bankrupt Blockbuster”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2011.
  15. ^ “DISH Network Completes Acquisition of Blockbuster Assets”. DishNetwork.MediaRoom.com. ngày 26 tháng 4 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2011.
  16. ^ “Blockbuster to Close Remaining 300 Stores in U.S.”. The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). ngày 6 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2019.
  17. ^ a b “Australia's last Blockbuster store in Morley, WA closing its doors”. The West Australian. ngày 1 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2019.
  18. ^ a b Gourarie, Chava (ngày 15 tháng 4 năm 2020). “The Last Blockbuster on Earth Is Still Open”. Commercial Observer. © 2020 Observer Media. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2020.
  19. ^ a b Zak, Annie (ngày 12 tháng 7 năm 2018). “Alaska's last 2 Blockbuster stores are closing, leaving just one in the U.S.”. Anchorage Daily News. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2018.
  20. ^ a b “Blockbuster Inc. - Company Profile, Information, Business Description, History, Background Information on Blockbuster Inc”. Reference for Business. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2017.
  21. ^ Weber, Ken (ngày 6 tháng 1 năm 2015). Dear Investor, What the HELL are You Doing?: Smart and Easy Ways to Fix the Mistakes You Make With Your Money. Greenleaf Book Group. ISBN 9781626341623. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2018 – qua Google Books.
  22. ^ “Film Lovers Mourn Mockingbird Staple Premiere Video”. D Magazine. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2018.
  23. ^ “SEC 10-K, 1999”. SEC. ngày 24 tháng 3 năm 2000. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2017.
  24. ^ Poggi, Jeanine (ngày 23 tháng 9 năm 2010). “Blockbuster's Rise and Fall: The Long, Rewinding Road”. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2018.
  25. ^ Inc, Nielsen Business Media (ngày 19 tháng 10 năm 1985). “Billboard”. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2018 – qua Google Books.
  26. ^ DeGeorge, Gail (1997). The Making of a Blockbuster. New York: Wiley. tr. 32. ISBN 0-471-15903-4.
  27. ^ DeGeorge, Gail (1995). The Making of a Blockbuster. Prologue: Wiley. ISBN 0-471-15903-4.
  28. ^ Carey, Charles W. (ngày 14 tháng 5 năm 2014). American Inventors, Entrepreneurs, and Business Visionaries. Infobase Publishing. ISBN 9780816068838. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2018 – qua Google Books.
  29. ^ a b “Video Rental Firms Win Round in Struggle with Nintendo”. The Baltimore Sun. ngày 19 tháng 9 năm 1990. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2020.
  30. ^ Rose Jr., Tim. “5 Legal Battles That Changed Video Game History”. Modern Rogue. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2020.
  31. ^ David Conn (ngày 20 tháng 11 năm 1990). “Blockbuster agrees to buy Erol's chain Curran examining antitrust concerns”. The Baltimore Sun.
  32. ^ Shapiro, Eben (ngày 20 tháng 10 năm 1992). “Blockbuster Agrees to Buy Music Store Chain”. The New York Times.
  33. ^ Johnson, Ted (ngày 10 tháng 9 năm 1993). “Store Wars: Retailing: A busy intersection has become the battleground for three giant music and video outlets. And just up the street, a specialty store is trying to carve out a niche”. Los Angeles Times.
  34. ^ Spelling Entertainment Completes Sale of Shares to Blockbuster thefreelibrary.com, Retrieved on ngày 27 tháng 5 năm 2013
  35. ^ “Blockbuster Completes Super Club Acquisition”. Orlando Sentinel. ngày 23 tháng 11 năm 1993. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2018.
  36. ^ "Orlando Sentinel" Blockbuster's Spelling Finishes Buying Republic OrlandoSentinel.com, Retrieved on ngày 27 tháng 5 năm 2013
  37. ^ Sandomir, Richard. “ENTREPRENEURS; WAYNE HUIZENGA'S GROWTH COMPLEX”. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2018.
  38. ^ Sheridan, Mary Beth (ngày 10 tháng 1 năm 1994). “Viacom-Blockbuster merges colorful moguls”. Spartanburg Herald Journal. Associated Press. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2012.
  39. ^ Fabrikant, Geraldine. “THE MEDIA BUSINESS; Viacom Gets Help From Blockbuster”. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2018.
  40. ^ Booth, William (ngày 21 tháng 8 năm 1994). “REPUBLIC OF HUIZENGA CARVED OUT OF FLORIDA FOR GAMES”. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2018 – qua www.washingtonpost.com.
  41. ^ Gandel, Stephen (ngày 17 tháng 10 năm 2010). “How Blockbuster Failed at Failing”. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2018 – qua content.time.com.
  42. ^ “Viacom captures Paramount”. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2018.
  43. ^ “Viacom Plans Blockbuster Split”. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2018.
  44. ^ “Viacom captures Paramount”. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2018.
  45. ^ “Viacom's Headache: It's A Blockbuster”. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2018.
  46. ^ Hsu, Tiffany; Bates, Ian C. (ngày 29 tháng 3 năm 2019). “Meet the Curiosity-Seekers and Die-Hards at the Last True Blockbuster”. The New York Times. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2020.
  47. ^ Powers, Jenny (ngày 1 tháng 5 năm 2020). 'There's a reason we are the last ones': At the only remaining Blockbuster on Earth, business is still booming”. Business Insider. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2020.
  48. ^ Rodriguez, Ashley (ngày 28 tháng 4 năm 2017). “At the edges of America, Blockbuster stores (stocked with actual DVDs) still exist”. Quartz. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2017.
  49. ^ Tunseth, Matt (ngày 29 tháng 6 năm 2017). “Closing Attraction: Eagle River Blockbuster going out of business”. Chugiak-Eagle River Star. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2017.
  50. ^ Maguire, Sean (ngày 30 tháng 3 năm 2018). “South Anchorage Blockbuster set to close”. KTUU-TV. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2018.
  51. ^ “The Magic of Blockbuster Video lives on with Dish”. blockbuster.com. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2018.
  52. ^ “Blockbuster Video Stores & On Demand Movies”. Dish Network. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2017.
  53. ^ Kavanaugh, Shane Dixon (ngày 3 tháng 12 năm 2017). “Blockbuster in Sandy, one of 10 remaining in the world, to close”. The Oregonian. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2018.
  54. ^ Abrams, Abigail (ngày 12 tháng 7 năm 2018). “There Will Only Be 1 Blockbuster in America Soon”. Time. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2018.
  55. ^ “There's 1 Blockbuster left in the US and it refuses to close”. New York Post. Associated Press. ngày 12 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2018.
  56. ^ Spurr, Kyle (ngày 29 tháng 12 năm 2018). “The top local stories of 2018; Central Oregon saw news of the weird, scary and political”. The Bulletin. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2019.
  57. ^ Genevieve Shaw Brown (ngày 11 tháng 8 năm 2020). “You can spend the night in the world's last Blockbuster -”. ABC News. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2020.
  58. ^ Doha Madani (ngày 11 tháng 8 năm 2020). “World's last Blockbuster transforms into '90s-themed Airbnb”. NBC News. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2020.
  59. ^ “BB Liquidating Inc”. Reuters. ngày 28 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2021.
  60. ^ BB Liquidating Inc. (ngày 28 tháng 9 năm 2011). “Current Report (Form 8-K)”. Securities and Exchange Commission. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2021. Kết quả của việc Bán Tài sản, Bên Nợ không còn hoạt động kinh doanh cũng như tài sản để thanh lý. DISH [Network Corporation] là chủ sở hữu hiện tại của thương hiệu “Blockbuster”, bao gồm các kênh phân phối bán lẻ, internet và qua thư liên tục. Bên Nợ hiểu rằng các hoạt động kinh doanh liên tục như vậy đang được quản lý bởi Blockbuster L.L.C. (“Blockbuster mới”), là một chi nhánh của DISH và một pháp nhân không phải là con nợ. Theo đó, tất cả các câu hỏi liên quan đến hoạt động kinh doanh đang diễn ra của Blockbuster mới nên được chuyển đến DISH và sự thành công hay thất bại của Blockbuster mới sẽ không ảnh hưởng đến việc thu hồi được dự đoán trong các trường hợp chương 11 này đối với các chủ nợ hoặc chủ sở hữu cổ phần của Bên nợ.
  61. ^ “Bankrupt Blockbuster Joins Reddit-Inspired Retail Rally”. Bloomberg.com (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2021.
  62. ^ “Veteran DISH Executive Michael Kelly announces retirement” (Thông cáo báo chí). DISH Network. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2016.
  63. ^ Poggi, Jeanine (ngày 13 tháng 9 năm 2010). “Blockbuster CFO Resigns”. TheStreet.com. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2019.
  64. ^ “Lighting Science Group Corporation Form 8-K”. United States Securities and Exchange Commission. ngày 12 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2019.
  65. ^ “Kevin Lewis”. LinkedIn. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2018.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]