Boeing 767

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Boeing 767
Delta Air Lines B767-332 N130DL.jpg
Máy bay Boeing 767-300 của Delta Air Lines
Kiểu Máy bay phản lực thân rộng
Nguồn gốc tại Hoa Kỳ
Hãng sản xuất Boeing Commercial Airplanes
Chuyến bay đầu tiên 26 tháng 9, 1981 (1981-09-26)
Được giới thiệu 8 tháng 9, 1982 với hãng United Airlines
Tình trạng Đang hoạt động
Hãng sử dụng chính Delta Air Lines
UPS Airlines
American Airlines
All Nippon Airways
Được chế tạo 1981–nay
Số lượng được sản xuất 1.095 tính đến 11/2016[1]
Chi phí máy bay 767-300ER: 185,8 triệu đô la Mỹ (2013)[2]
767-300F: 188,0 triệu đô la Mỹ (2013)[2]
Những phương án tương tự

Boeing 767 là chiếc máy bay phản lực thân rộng hai động cơ, có kích cỡ vừa và lớn và tầm bay xa, được chế tạo bởi Boeing Commercial Airplanes. Nó là chiếc máy bay thân rộng hai động cơ đầu tiên của Boeing và cũng là chiếc máy bay đầu tiên của hãng này sử dụng buồng lái màn hình hiển thị dành cho hai phi công. Chiếc máy bay sử dụng hai động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt, cánh đuôi truyền thống và thiết kế cánh cải tiến nhằm giảm sức cản không khí. Với thiết kế nhỏ hơn chiếc máy bay thân rộng trước đó của hãng là chiếc 747, chiếc 767 có sức chứa từ 181 đến 375 người, và có tầm bay từ 7.130 đến 11.825 km, tùy thuộc vào các biến thể khác nhau. Chiếc 767 được phát triển cùng lúc với chiếc máy bay thân hẹp hai động cơ là chiếc 757, nên hai chiếc máy bay có chung nhiều thiết kế và tính năng, cho phép các phi công sử dụng cùng loại giấy phép để điều khiển cả hai.

Chiếc 767 có nhiều phiên bản khác nhau về chiều dài thân. Chiếc 767-200 bắt đầu hoạt động vào năm 1982, theo sau nó là chiếc 767-300 vào năm 1986 và chiếc 767-400ER (ER - tầm bay mở rộng) vào năm 2000. Các phiên bản có tầm bay mở rộng là 767-200ER và 767-300ER được đưa vào hoạt động trong các năm 1984 và 1988, theo thứ tự, trong khi phiên bản chở hàng là chiếc 767-300F bắt đầu bay vào năm 1995. Chương trình chuyển đổi của hãng đã hoán cải những chiếc 767-200 và 767-300 dân dụng thành phiên bản vận chuyển hàng hóa. Các phiên bản quân sự bao gồm chiếc máy bay giám sát E-767, chiếc KC-767KC-46 dùng cho việc tiếp nhiên liệu trên không và vận tải chiến lược. Chiếc 767 được trang bị các động cơ phản lực như General Electric CF6, Pratt & Whitney JT9D, Pratt & Whitney PW4000Rolls-Royce RB211.

Năm 1982, United Airlines trở thành hãng hàng không đầu tiên vận chuyển hành khách bằng chiếc 767. Chiếc máy bay ban đầu được sử dụng trên các hành trình nội địa và xuyên lục địa, và nó thể hiện được sự hiệu quả trong thiết kế của mình. Năm 1985, chiếc 767 trở thành chiếc máy bay dân dụng hai động cơ đầu tiên thường xuyên được cho phép thực hiện các chuyến bay quốc tế đường dài và từ đó, chiếc máy bay bắt đầu được sử dụng trên các đường bay thẳng trong các chuyến bay quốc tế có tầm từ trung bình đến xa. Năm 1986, Boeing khởi động nghiên cứu về một mẫu 767 có sức chứa lớn hơn, cuối cùng dẫn đến sự ra đời của chiếc 777, mẫu máy bay thân rộng hai động cơ cỡ lớn hơn. Vào những năm 90, chiếc 767 là chiếc máy bay thông dụng nhất trên các chuyến bay xuyên đại dương nối Bắc Mỹ với châu Âu.

Boeing 767 là mẫu máy bay thân rộng hai động cơ đầu tiên có lượng giao hàng đạt mốc 1.000 chiếc. Tính đến tháng 11 năm 2016, Boeing đã nhận được 1.189 đơn đặt hàng chiếc 767 từ 74 khách hàng; và hãng đã bàn giao 1.095 chiếc.[1] Đến tháng 7 năm 2016, có 742 chiếc trong số đó vẫn đang hoạt động; mẫu 767-300ER là phiên bản thông dụng nhất với 583 chiếc đã giao; Delta Air Lines là khách hàng lớn nhất với 91 chiếc 767 trong đội bay. Các mẫu máy bay khác cạnh tranh là chiếc Airbus A300, A310, và A330-200, và mặc dù mẫu máy bay kế nhiệm của 767 là chiếc 787 Dreamliner đã bắt đầu đưa vào khai thác từ tháng 10 năm 2011, chiếc 767 vẫn tiếp tục được sản xuất.

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Khi ra đời năm 1970, Boeing 747 là chiếc máy bay thân rộng đầu tiên trên thế giới.[3] Chiếc 747 là chiếc máy bay dân dụng đầu tiên đủ rộng để đặt hai lối đi trong khoang máy bay.[4] Hai năm sau, Boeing bắt đầu nghiên cứu phát triển một chiếc máy bay thân rộng mới có tên mã là 7X7 nhằm thay thế chiếc 707 và các thế hệ máy bay thân hẹp trước đó.[5][6] Chiếc máy bay này cũng sẽ sở hữu thiết kế hai lối đi trong khi có kích thước thân máy bay nhỏ hơn cả chiếc 747 lẫn McDonnell Douglas DC-10Lockheed L-1011 TriStar.[5] Để chi trả chi phí nghiên cứu quá lớn, Boeing ký hợp đồng chia sẻ rủi ro với công ty Aeritalia của Ý và với Công ty Phát triển Vận tải Dân dụng (Civil Transport Development Corporation – CTDC) là một liên đoàn các công ty không gian của Nhật Bản.[7] Theo đó, cả Aeritalia cũng như CTDC sẽ nhận được hợp đồng cung ứng bởi họ tham gia từ sớm.[7] Đây là lần đầu tiên Boeing tham gia một doanh nghiệp liên doanh quốc tế lớn.[7] Chiếc 7X7 theo thiết kế ban đầu thuộc kiểu máy bay cất cánh và hạ cánh ngắn, sẽ được khai thác trên đường bay ngắn, nhưng khi các khách hàng của Boeing không hứng thú với ý tưởng này, hãng đã tái định nghĩa nó thành chiếc máy bay cỡ vừa, có tầm bay dài.[5] Thời điểm này, chiếc máy bay dự kiến được trang bị hai hoặc ba động cơ, có thể bao gồm động cơ phía trên cánh và đuôi dạng chữ T.[3]

Nhìn nghiêng chiếc máy bay hai động cơ hạ cánh xuống đường băng
Chiếc 7X7 xuất hiện tại Farnborough Airshow lần đầu vào năm 1982 với tên là 767-200.

Đến năm 1976, một thiết kế máy bay thân rộng hai động cơ tương tự như của chiếc Airbus A300 trở thành kiểu dáng cơ sở cho chiếc 767.[8] Quyết định sử dụng hai động cơ thể hiện mức tín nhiệm ngày càng tăng đối với tính tin cậy và kinh tế của thế hệ động cơ phản lực mới.[8] Khi các yêu cầu hàng không đối với các máy bay thân rộng vẫn còn chưa rõ ràng[8] thì chiếc 7X7 tập trung chủ yếu vào thị trường máy bay cỡ vừa có sức chứa lớn.[3] Như vậy, chiếc máy bay mang mục tiêu vận chuyển lượng lớn hành khách giữa các thành phố lớn với nhau.[9] Các cải tiến trong công nghệ hàng không dân dụng, bao gồm động cơ phản lực có hệ số tách dòng cao, hệ thống bay mới, cải tiến về khí động học và vật liệu nhẹ hơn đều được sử dụng trên chiếc 7X7.[5][10] Phần lớn các tính năng này cũng được áp dụng cho một nghiên cứu song song về chiếc máy bay cỡ vừa thân hẹp mới, tên mã là 7N7, sau này trở thành chiếc 757.[10] Hai mẫu máy bay được phát triển trong thời kỳ thịnh vượng của ngành công nghiệp hàng không vào cuối thập niên 1970.[11][12]

Vào tháng 1 năm 1978, Boeing tuyên bố hãng đã mở rộng đáng kể nhà máy Everett – lúc ấy chỉ dành cho việc lắp ráp máy bay 747 – để phù hợp cho việc sản xuất dòng máy bay thân rộng mới của hãng.[13] Tháng 2 năm 1978, nhà sản xuất đặt tên chiếc máy bay là 767,[14] và đưa ra ba biến thể: mẫu 767-100 với thiết kế 190 chỗ ngồi, mẫu 767-200 với 210 chỗ ngồi, và mẫu 767MR/LR ba động cơ với 200 chỗ ngồi dành cho các đường bay quốc tế.[8][15] Mẫu 767MR/LR sau này được đổi tên thành 777 để dễ phân biệt.[16] Chiếc 767 chính thức ra mắt ngày 14 tháng 7 năm 1978, với việc hãng United Airlines đặt 30 chiếc 767-200, theo sau bởi 50 đơn đặt hàng 767-200 từ American Airlines và Delta Air Lines trong cùng năm đó.[16] Chiếc 767-100 cuối cùng không được thương mại hóa, vì sức chứa của nó gần tương tự như chiếc 757,[16] và chiếc 777 ba động cơ cũng bị bỏ đi để chuẩn hóa thiết kế hai động cơ cho mẫu 777.[8]

Các nỗ lực trong thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối thập niên 1970, chi phí vận hành thay thế cho sức chứa, trở thành tiêu chí quan trọng nhất khi chọn mua máy bay.[6] Vì vậy, quá trình thiết kế chiếc 767 ngay từ đầu đã nhắm đến tính tiết kiệm nhiên liệu.[5] Boeing đặt ra mục tiêu cắt giảm từ 20 đến 30% chi phí hoạt động so với các máy bay đời trước, chủ yếu nhờ vào động cơ mới và công nghệ cánh mới.[6] Trong quá trình phát triển, các kỹ sư thực hiện khoảng 1/3 các bản vẽ thiết kế của chiếc 767 nhờ CAD,[6] và dành ra 26.000 giờ cho các thử nghiệm trong đường hầm gió.[16] Bởi việc phát triển và thiết kế chiếc 767 gần như đồng thời với chiếc 757, Boeing coi hai dự án này như một để giảm thiểu rủi ro và chi phí.[10][12] Hai chiếc máy bay sau này có chung nhiều tính năng thiết kế, như kỹ thuật điện từ hàng không, hệ thống quản lý chuyến bay và khí cụ bay.[17] Chi phí phát triển của cả hai ước tính khoảng từ 3,5 đến 4 tỷ đô la Mỹ.[6]

Máy bay nhìn từ phía trước, cho thấy kiểu thân máy bay, kiểu cánh hướng lên trên và hai động cơ
Máy bay 767-400ER của Continental Airlines nhìn từ phía trước, cho thấy kiểu thân máy bay, kiểu góc nhị diện và hai động cơ CF6

Các khách hàng đầu tiên đặt mua chiếc 767 được lựa chọn giữa hai loại động cơ Pratt & Whitney JT9D và General Electric CF6, đánh dấu lần đầu tiên Boeing đưa ra các tùy chọn về động cơ máy bay ngay tại thời điểm ra mắt một mẫu máy bay mới.[18] Cả hai loại động cơ phản lực này đều có khả năng cung cấp lực đẩy tối đa 210 kN.[9] Các động cơ được gắn vào bên dưới cánh máy bay, cách thân máy bay khoảng cách bằng khoảng 1/3 độ dài cánh, tương tự các mẫu máy bay ba động cơ thân rộng trước đó.[6] Cánh máy bay có thiết kế được gọi là "supercritical airfoil", trong đó máy bay khuyết vào ở mặt dưới phía sau so với kiểu cánh truyền thống, giảm sức cản và phân bố lực nâng trên cánh đều hơn so với bất kỳ chiếc máy bay nào khác của hãng.[6][19] Kiểu dáng cánh máy bay giúp tối ưu khả năng bay tại độ cao hành trình, tăng sức chứa nhiên liệu, và cho phép nâng cấp chiếc máy bay với các phiên bản thân dài hơn trong tương lai.[16] Theo thiết kế ban đầu, chiếc 767-200 có tầm bay đủ để băng qua Bắc Mỹ hoặc bay qua Bắc Đại Tây Dương,[20] và có thể thực hiện những chuyến bay lên đến 7.130 km.[21]

Độ rộng thân chiếc 767 là 5,03 m, lớn hơn chiếc 707 và nhỏ hơn chiếc 747.[5] Mặc dù nó hẹp hơn những mẫu máy bay thân rộng khác, người ta vẫn có thể trang bị cho Boeing 767 bảy chỗ ngồi mỗi hàng và hai lối đi, và nhờ nó hẹp hơn nên sức cản không khí cũng ít hơn.[9][18] Tuy nhiên, thân máy bay không đủ rộng để chứa hai thùng hàng hàng không tiêu chuẩn LD3 song song nhau.[22][23] Vì vậy người ta đã thiết kế riêng cho chiếc 767 loại thùng hàng nhỏ hơn gọi là LD2.[24][25] Việc sử dụng thiết kế cánh đuôi truyền thống cho phép thân sau máy bay được thu gọn với độ dài tối thiểu,[18] nhờ vậy chiếc máy bay giữ được hai lối đi song song xuyên suốt khoang hành khách và loại bỏ các hàng ghế không đều nhau phía cuối máy bay[6][18]

Buồng lái chiếc 767-300ER, là sự kết hợp giữa các thiết bị bay thế hệ mới với các đồng hồ và thiết bị chỉ thị analog
Buồng lái màn hình hiển thị hai phi công thế hệ đầu của chiếc 767
Buồng lái chiếc 767-300F của FedEx Express, cho thấy các đồng hồ analog bị loại bỏ hoàn toàn, các màn hình lớn được bổ sung
Buồng lái màn hình hiển thị hai phi công thế hệ mới trên chiếc 767, với các màn hình lớn hơn

Chiếc 767 là mẫu máy bay đầu tiên của Boeing sở hữu thiết kế buồng lái màn hình hiển thị dành cho hai phi công.[17] Các màn hình màu dùng công nghệ ống tia âm cực và các thiết bị điện tử mới đã thay thế vai trò của cơ phó thứ hai (tiếng Anh: flight engineer) khi cho phép cơ trưởng và cơ phó theo dõi các hệ thống bay một cách trực tiếp.[17] Dù kiểu buồng lái này hứa hẹn giảm thiểu chi phí về nhân công, ban đầu hãng United Airlines vẫn yêu cầu sử dụng buồng lái ba người truyền thống và nêu ra mối lo ngại về các rủi ro khi giới thiệu mẫu máy bay mới.[26] United Airlines giữ quan điểm này cho đến tháng 7 năm 1981, khi một lực lượng đặc nhiệm tổng thống Hoa Kỳ xác định rằng tổ phi công hai người là đủ an toàn cho việc điều khiển các loại máy bay thân rộng.[26][27] Buồng lái ba phi công sau đó vẫn trở thành một tùy chọn và được áp dụng vào các mẫu sản xuất đầu tiên.[28] Ansett Australia đặt nhiều mẫu 767 loại buồng lái ba người theo yêu cầu của nghiệp đoàn; và đây cũng là hãng hàng không duy nhất khai thác các máy bay 767 loại này.[28][29] Buồng lái hai phi công của chiếc 767 cũng có mặt trên chiếc 757, nhờ đó các phi công có thể điều khiển cả hai loại máy bay sau một khóa chuyển đổi ngắn hạn,[19] và đó cũng là lý do khuyến khích các hãng hàng không mua cả hai loại máy bay.[30] Tuy vậy hai chiếc 767 và 757 bay khác nhau hoàn toàn. Hệ thống điều khiển của chiếc 757 rất nặng nề, tương tự như trên chiếc 727 và 747, và cần lái máy bay xoay tối đa về hai bên một khoảng 90 độ. Chiếc 767 có hệ thống điều khiển nhẹ hơn nhiều và cần lái chỉ xoay khoảng 2/3 quãng đường.[31]

Sản xuất và thử nghiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Để sản xuất chiếc 767, Boeing thành lập một mạng lưới các nhà thầu phụ gồm các nhà cung ứng trong nước và các đóng góp từ Aeritalia của Ý và CTDC của Nhật Bản.[7] Boeing chế tạo cánh và sàn máy bay, Aeritalia sản xuất bảng điều khiển, Boeing Vertol chế tạo cạnh trước của cánh máy bay và Boeing Wichita sản xuất phần thân trước.[6] CTDC cung cấp nhiều bộ phận của máy bay thông qua các công ty thành viên của nó, như Fuji Heavy Industries (các thành phần làm thon và giảm sức cản trên cánh và cửa bánh đáp), Kawasaki Heavy Industries (thân giữa) và Mitsubishi Heavy Industries (thân sau, cửa và đuôi).[7] Các bộ phận này được lắp ráp với nhau tại nhà máy Everett.[6] Để sản xuất xà dọc cho cánh máy bay, nhà máy Everett sử dụng các loại máy tự động khoan và vặn bulông.[6] Cách chế tạo cánh này được phát triển từ kỹ thuật sản xuất chiếc 747.[6] Các công đoạn lắp ráp cuối cùng cho chiếc 767 đầu tiên bắt đầu vào tháng 7 năm 1979.[3]

Sảnh lắp ráp máy bay, cho thấy một chiếc máy bay phản lực hai động cơ chưa sơn màu, một bục phát biểu và các ghế khán giả
Công đoạn lắp ráp cuối cùng của một chiếc 767-300F tại nhà máy Everett, nhà máy được mở rộng để sản xuất chiếc 767 vào năm 1978

Chiếc máy bay mẫu mang số đăng ký N767BA được giới thiệu vào ngày 4 tháng 8 năm 1981.[32] Vào thời điểm đó, dự án 767 đã nhận được 173 đơn đặt hàng từ 17 khách hàng, gồm có Air Canada, All Nippon Airways, Britannia Airways, TransbrasilTrans World Airlines (TWA).[6] Ngày 26 tháng 9 năm 1981, chiếc máy bay mẫu thực hiện chuyến bay đầu tiên dưới sự điều khiển của các phi công Tommy Edmonds, Lew Wallick và John Brit.[33] Không có sự kiện nào đáng chú ý trong chuyến bay này, ngoại trừ việc không thể thu gọn càng hạ cánh bởi vì dầu thủy lực bị rò rỉ.[33] Chiếc 767 mẫu sau đó tiếp tục được dùng cho các thử nghiệm bay khác.[34]

Sáu chiếc 767 đầu tiên đều được sử dụng trong chương trình thử nghiệm dài 10 tháng.[3][34] Bốn chiếc đầu tiên dùng động cơ JT9D, còn chiếc thứ năm và thứ sáu dùng động cơ CF6.[9][35] Đội bay này chủ yếu được thử nghiệm về hệ thống điện tử, hệ thống bay, khả năng điều khiển và hiệu suất,[35] trong khi chiếc thứ sáu được dùng để thực hiện các chuyến bay đường dài nhằm chứng minh độ an toàn.[36] Khi thử nghiệm, các phi công mô tả chiếc 767 là dễ bay, khả năng cơ động không bị cản trở bởi kích thước đồ sộ như những chiếc máy bay thân rộng lớn hơn.[36] Sau khi hoàn tất 1.600 giờ bay thử nghiệm, chiếc 767-200 động cơ JT9D được cấp chứng nhận của Cục quản lý Hàng không Liên bang Hoa Kỳ (Federal Aviation Administration – FAA) và Cơ quan Hàng không Dân dụng Vương quốc Anh (Civil Aviation Authority – CAA) vào tháng 7 năm 1982.[33][34] Chiếc đầu tiên được giao cho United Airlines vào ngày 19 tháng 8 năm 1982.[33] Chiếc 767-200 động cơ CF6 được chứng nhận vào tháng 9 năm 1982, và Delta Air Lines nhận được chiếc đầu tiên vào ngày 25 tháng 10 năm 1982.[9]

Đưa vào hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Các thông số kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

767-200 767-200ER 767-300 767-300ER 767-300F 767-400ER
Chiều dài 159 ft 2 in
(48,5 m)
180 ft 3 in
(54,9 m)
201 ft 4 in
(61.4 m)
Sải cánh 156 ft 1 in
(47,6 m)
170 ft 4 in
(51,9 m)
Số khách 181 (3 class)
224 (2 hạng)
255 (1 hạng)
218 (3 class)
269 (2 hạng)
351 (1 hạng)
- 245 (3 hạng)
304 (2 hạng)
375 (1 hạng)
Hàng hóa 2.875 ft³ (81,4 m³)
22 LD2s
3.770 ft³ (106,8 m³)
30 LD2s
16.034 ft³ (454 m³)
30 LD2s + 24 pallets
4.580 ft³ (129.6 m³)
38 LD2s
Trọng lượng máy bay lúc trống 176.650 lb
(80.127 kg)
181.610 lb
(82.377 kg)
189.750 lb
(86.069 kg)
198.440 lb
(90.011 kg)
190.000 lb
(86.183 kg)
229.000 lb
(103.872 kg)
Trọng lượng cất cánh tối đa 315.000 lb
(142.882 kg)
395.000 lb
(179.169 kg)
350.000 lb
(158.758 kg)
412.000 lb
(186.880 kg)
412.000 lb
(186.880 kg)
450.000 lb
(204.116 kg)
Tầm xa 5.200 nm
(9.400 km)
xuyên Đại Tây Dương
6.590 nm
(12.200 km)
xuyên Thái Bình Dương
5.230 nm
(9.700 km)
xuyên Đại Tây Dương
5.975 nm
(11.065 km)
xuyên Thái Bình Dương
3.255 nm
(6.025 km)
transcontinental
5.625 nm
(10.415 km)
xuyên Thái Bình Dương
Tốc độ bay tiết kiệm xăng Mach 0.80 (470 kt, 530 mph, 851 km/h at 35.000 ft cruise altitude)
Tốc độ bay tiết kiệm xăng tối đa Mach 0.86 (493 kt, 568 mph, 913 km/h at 35.000 ft cruise altitude)
Quãng đường chạy cất cánh
at MTOW
5.600 ft (1.707 m) 7.900 ft (2.408 m) 9.501 ft (2.896 m)
Động cơ (x2) P&W JT9D-7R4
P&W PW4000-94
GE CF6-80A
GE CF6-80C2
P&W PW4000-94
GE CF6-80C2
P&W JT9D-7R4
P&W PW4000-94
GE CF6-80A
GE CF6-80C2
P&W PW4000-94
GE CF6-80C2
RR RB211-524H
P&W PW4000-94
GE CF6-80C2
Công suất đẩy (x2) GE: 50.000 lbf (222 kN) PW: 63.300 lb (281,6 kN)
GE: 62.100 lbf (276.2 kN)
PW: 50.000 lbf (222 kN) PW: 63.300 lbf (281.6 kN)
GE: 62.100 lbf (276.2 kN)
RR: 59.500 lbf (264.7 kN)
PW: 63.300 lbf (281.6 kN)
GE: 63.500 lbf (282.5 kN)

Nguồn: [1], [2], [3], [4], [5]

Các hãng khai thác[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay của TWA sơn màu đỏ và trắng đang cất cánh, càng hạ cánh chưa xếp
Máy bay 767-200 của Trans World Airlines tại sân bay quốc tế Lambert–St. Louis năm 1985
Máy bay đang hạ cánh
Máy bay 767-300ER của LAN Airlines trong màu sơn kỷ niệm tại sân bay Madrid–Barajas năm 2009

Các hãng hàng không đặt hàng nhiều chiếc 767 nhất là FedEx, Delta Air Lines, All Nippon Airways và United Airlines.[37] Delta Air Lines là khách hàng lớn nhất, với 117 chiếc 767 đã nhận.[1] Hãng này cũng là khách hàng duy nhất khai thác tất cả các phiên bản chở khách của chiếc 767 chỉ trừ mẫu 767-200ER.[38] Chiếc Boeing 767 thứ 100 của hãng là một chiếc 767-400ER và đã được giao vào tháng 10 năm 2000.[39] FedEx xác nhận hãng đã đặt hàng 50 chiếc phiên bản vận tải, dự kiến giao từ năm 2018 đến 2023.[40] United Airlines là hãng hàng không duy nhất sử dụng tất cả các phiên bản của dòng 767 ER (762ER, 763ER và 764ER) tính đến tháng 11 năm 2012.[41] Hãng vận tải sử dụng nhiều máy bay 767 nhất là UPS Airlines, với 59 chiếc trong đội bay tính đến tháng 11 năm 2016.[1]

Tổng cộng có 742 chiếc máy bay (ở tất cả các phiên bản 767) đang hoạt động tính đến tháng 7 năm 2016, của các hãng Delta Air Lines (91), UPS Airlines (59), United Airlines (51), American Airlines (40), Japan Airlines (40), All Nippon Airways (37), và nhiều hãng khác.[42]

Đặt hàng và giao hàng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tổng 2016 2015 2014 2013 2012 2011 2010 2009 2008 2007 2006 2005 2004 2003 2002 2001 2000 1999 1998
Đặt hàng 1,189 26 49 4 2 22 42 3 7 24 36 10 19 8 11 8 40 9 30 38
Giao hàng 1,095 12 16 6 21 26 20 12 13 10 12 12 10 9 24 35 40 44 44 47
Năm 1997 1996 1995 1994 1993 1992 1991 1990 1989 1988 1987 1986 1985 1984 1983 1982 1981 1980 1979 1978
Đặt hàng 79 43 22 17 54 21 65 52 100 83 57 23 38 15 20 2 5 11 45 49
Giao hàng 42 43 37 41 51 63 62 60 37 53 37 27 25 29 55 20 0 0 0 0

Tổng quan các mẫu[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay 767-300ER của Ukraine International Airlines tại sân bay Ben Gurion
Số hiệu phiên bản ICAO[47] Đặt hàng Giao hàng Chưa giao
767-200 B762 128 128
767-200ER B762 121 121
767-2C (KC-46) B762 23 - 23
767-300 B763 104 104
767-300ER B763 583 583
767-300F B763 192 121 71
767-400ER B764 38 38
Tổng 1.189 1.095 94
  • Dữ liệu đến tháng 11 năm 2016.[1]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d “767 Model Summary (orders and deliveries)”. Boeing. 30 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2016. 
  2. ^ a ă “Boeing Commercial Airplanes Jet Prices”. Boeing. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2012. 
  3. ^ a ă â b c Eden 2008, tr. 102–03.
  4. ^ Sutter 2006, tr. 103.
  5. ^ a ă â b c d Norris & Wagner 1998, tr. 156–57.
  6. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Velupillai, David (8 tháng 8 năm 1981). “Boeing 767: The new fuel saver”. Flight International. tr. 436–37, 439, 440–41, 445–48, 453. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2011. 
  7. ^ a ă â b c Norris & Wagner 1998, tr. 156.
  8. ^ a ă â b c Norris & Wagner 1999, tr. 20–21.
  9. ^ a ă â b c Eden 2008, tr. 103.
  10. ^ a ă â Norris & Wagner 1999, tr. 18–19.
  11. ^ Davies 2000, tr. 103.
  12. ^ a ă Norris & Wagner 1998, tr. 143.
  13. ^ Birtles 1999, tr. 8.
  14. ^ Becher 1999, tr. 24.
  15. ^ Donald 1997
  16. ^ a ă â b c Norris & Wagner 1998, tr. 159–60.
  17. ^ a ă â Norris & Wagner 1999, tr. 23.
  18. ^ a ă â b Norris & Wagner 1999, tr. 21–22.
  19. ^ a ă Norris & Wagner 1998, tr. 160.
  20. ^ Sutter 2006, tr. 241–46.
  21. ^ Haenggi 2003, tr. 43–44.
  22. ^ Haenggi 2003, tr. 29.
  23. ^ Birtles 1999, tr. 14.
  24. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên 767_airport_report
  25. ^ Norris & Wagner 1998, tr. 158.
  26. ^ a ă “History of the 767 Two-Crew Flight Deck”. Boeing. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2011. 
  27. ^ Becher 1999, tr. 32.
  28. ^ a ă Becher 1999, tr. 33.
  29. ^ Wilson 2002, tr. 117.
  30. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên intro
  31. ^ Harvnb|Bednar|2016|p+17
  32. ^ Shaw 1999
  33. ^ a ă â b Norris & Wagner 1998, tr. 161–62.
  34. ^ a ă â Birtles 1999, tr. 16–18, 27.
  35. ^ a ă Birtles 1999, tr. 49–52.
  36. ^ a ă Sweetman, Bill (20 tháng 3 năm 1982). “Boeing tests the twins”. Flight International. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2011. 
  37. ^ “Airline Seating Charts”. Seat Guru by Trip Advisor. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2012. 
  38. ^ “History – Boeing 767 1982-present”. Delta Flight Museum. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2016. 
  39. ^ “Delta Takes Delivery Of Its 100th New Boeing 767 Jetliner”. Boeing. 23 tháng 10 năm 2000. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2011. 
  40. ^ “FedEx to Buy as Many as 100 Boeing 767 Freighters”. The Wall Street Journal. 21 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2015. 
  41. ^ Staff, Seat Guru. “United Airlines Information and Aircraft”. Seat Guru by TripAdvisor. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2012. 
  42. ^ Thisdell, Dan; Fafard, Antoine (31 tháng 7 năm 2016). “World Airliner Census 2016”. Flightglobal Insight. Flight International (Flightglobal, xuất bản 9 August 2016). 
  43. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Boeing_yearly_orders
  44. ^ “Boeing Recent Orders”. Boeing. 21 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2015. 
  45. ^ “Boeing Company Current Deliveries”. Boeing. Tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2015. 
  46. ^ “Orders and Deliveries search page”. Boeing. Tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2015. 
  47. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên ICAOcode