Bom ba càng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Bom ba càng
Lunge AT Mine.jpg
A drawing of a lunge mine and its operation
LoạiMìn chống tăng
Nơi chế tạo Đế quốc Nhật Bản
Lược sử hoạt động
Phục vụ1940's–1975
Sử dụng bởi Đế quốc Nhật Bản: Lục quân Đế quốc Nhật Bản
 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Vệ quốc đoàn
Cuộc chiến tranh
Lược sử chế tạo
Năm thiết kếTrong Chiến tranh thế giới thứ hai
Thông số
Khối lượng6.48 kg
Chiều dài0.13 cm
Chiều cao0.305 m
Đường kính0.08 m

Thuốc nhồiTNT
Trọng lượng thuốc nhồi2,95 kg
Cơ cấu nổ
mechanism
3 kíp nổ

Bom ba càng là tên gọi một loại vũ khí chống tăng cầm tay do Nhật Bản phát minh và từng được bộ đội Việt Nam sử dụng trong kháng chiến chống Pháp.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Bom ba càng là một thứ vũ khí chống tăng cảm tử, được quân Nhật phát minh và sử dụng trên khắp chiến trường Thái Bình Dương. Tên gốc của nó là mìn Shitotsubakurai.

Bom ba càng được thiết kế với kíp kích nổ bằng va chạm, về nguyên tắc nó là đầu đạn lõm. Nó không có gì phức tạp trong việc chế tạo nên phù hợp với lối đánh du kích thời điểm đó. Bom có dạng hình phễu, miệng phễu có đường kính 22 cm, nhồi bằng thuốc nổ hoặc thuốc bom (7–10 kg), có vành gang gắn ba càng sắt dài 12 cm/càng; đáy phễu là bộ phận gây nổ, gồm: hạt nổ, kim hỏa và chốt hãm an toàn. Khoảng lõm ở đáy hình côn khi nổ sẽ khiến cho sức nổ hướng vào lớp thép xe tăng.

Bom được lắp vào một cây gậy gỗ dài khoảng 1,2m. Người ta phải lắp 3 điểm chạm (3 kíp) để đề phòng có cái kíp nào "xịt" vì không có nhiều cơ hội cho chiến sĩ cảm tử tiếp cận với xe tăng. Theo lý thuyết, bom ba càng có khả năng xuyên thủng lớp thép dày khoảng 150mm ở góc chạm 90 độ.

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Nhật đầu hàng và Việt Minh giành được chính quyền, có thu được một số bom ba càng của người Nhật. Theo số liệu không đầy đủ của Trung đoàn 102 (Trung đoàn Thủ đô) thì có 93 cây bom ba càng được sản xuất trong khoảng thời gian từ tháng 3/1946 đến tháng 12/1946 do công binh xưởng của Liên khu 10 (Bộ Tư lệnh Thủ đô bây giờ) sản xuất tại khu vực Gia Lâm và một điểm dưới Hà Đông. Tất cả số bom ba càng được phát cho Vệ quốc đoàn để dùng trong trận Hà Nội. Vì bộ đội Việt Minh khi đó không có súng chống tăng nên bom ba càng là vũ khí chống tăng quan trọng nhất khi đó.

Ðánh bom ba càng phải là những chiến sĩ mưu trí, quả cảm, sẵn sàng hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng với phương châm diệt được xe cơ giới địch, mà tổn thất thấp nhất về sinh mạng thì cần phải giữ được yếu tố bí mật bất ngờ. Khi xuất kích, tiếp cận mục tiêu, chiến sĩ phải được sự yểm trợ tối đa của hỏa lực từ đồng đội nhằm khống chế, vô hiệu hóa hỏa lực trên xe cơ giới và lực lượng bộ binh địch đi cùng. Khi đánh bom động tác phải dứt khoát, tay trái hoặc tay phải nắm (nâng) nơi tiếp giáp đuôi bom và gậy, tay còn lại nắm chắc 2/3 của gậy, mặt bom chếch 45 độ về phía trước, cách mục tiêu 2 - 3m hạ bom ngang tầm vai hai tay lao bom vào vị trí đã chọn, phải bảo đảm ba càng bom cùng lúc chạm trên mặt phẳng của mục tiêu (xe tăng, xe bọc thép bánh hơi. Nên chọn nơi thành bên hông xe, dưới tháp pháo, với xe bán tải thì chọn nơi thành xe phía giáp cửa lên xuống, sát buồng lái trên nơi gắn thùng nhiên liệu để tạo ra hiệu quả công phá tối đa. Bom nổ gây áp lực cháy nổ rất lớn (nhiên liệu và đạn trên xe cùng bị kích nổ), sức ép một phần dội ngược lại phía sau hất người đánh bom văng mạnh về sau, tổ cứu hộ phải sẵn sàng ngay lập tức xông ra dìu chiến sĩ đánh bom vào nơi an toàn.

Tác phẩm điêu khắc lấy cảm hứng từ những chiến sĩ cảm tử quân tại Bảo tàng Mỹ thuật
Chiến sĩ quyết tử Nguyễn Văn Thiềng (anh Trần Thành) đang ôm trong tay một quả bom ba càng đón đánh xe tăng Pháp ở Hà Nội năm 1946

Thông thường người chiến sĩ sẽ rất dễ hy sinh khi tìm cách tiếp cận xe tăng địch, khi đánh trúng đích thì cũng dễ hy sinh vì bị sức ép từ bom nổ và hơi nóng táp vào người, nhưng cũng có những trường hợp hiếm hoi đánh được nhiều lần. Trong một số tổng kết có nói đến một số chiến sĩ đánh cháy vài xe tăng, xe thiết giáp bằng bom ba càng mà vẫn còn sống, nhưng không thấy phổ biến kinh nghiệm.

Thời đó bom ba càng đánh được xe tăng vì chủ yếu Pháp đưa sang Việt Nam xe tăng hạng nhẹ trong Chiến tranh thế giới thứ hai, cũng vì Vệ Quốc Đoàn trang bị thô sơ, chủ yếu là súng trường cổ lỗ sĩ, không có súng chống tăng nên quân Pháp coi thường, cho rằng phía Việt Nam không thể phá được xe tăng của họ. Nếu gặp xe tăng hạng nặng thì bom ba càng khó mà phá được giáp trước mà phải tìm cách đánh và hông hoặc phía sau xe.

Trong trận Hà Nội 1946, chừng 10 tổ cảm tử quân được thành lập, với tổng cộng chừng 100 đội viên. Họ được gọi là "quyết tử quân". Khác với đa số chiến sĩ tham gia chỉ được gọi là Vệ quốc quân hoặc tự vệ Hà Nội, họ thường mặc áo trấn thủ, đeo khăn đỏ, cầm bom ba càng, có khi được tổ chức truy điệu sống trước khi xung trận. Trong số 93 cây bom ba càng có trong trang bị, bộ đội Việt Nam đã sử dụng 47 cây và có 35 chiến sĩ cảm tử đã hy sinh khi đánh bom (tới năm 2014, có 27 liệt sỹ đã xác định được rõ ràng tên tuổi, quê quán).

Chiến sỹ cảm tử nổi tiếng nhất là chiến sĩ Nguyễn Văn Thiềng (bí danh Trần Thành), chính là chiến sĩ quyết tử trong bức ảnh lịch sử năm 1946. Anh sinh năm 1927, tham gia cách mạng từ năm 1944, là đoàn viên Thanh niên cứu quốc Hoàng Diệu, trung đội trưởng trung đội bảo vệ Bộ Tổng tham mưu (nay là số nhà 18, phố Nguyễn Du, Hà Nội). Ngày 23/12/1946, anh Trần Thành đã dùng bom ba càng đánh hỏng được một xe tăng địch ở ngã tư Bà Triệu - Trần Quốc Toản, giết cả kíp lái Pháp trong xe. Chiều hôm đó, quân Pháp lại tấn công, anh Trần Thành lại một lần nữa ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch nhưng bom bị xịt, không phát nổ, lính bộ binh Pháp đi theo sau chiếc tăng dùng súng bắn liên tiếp khiến anh Trần Thành hy sinh. Nghệ sỹ Nguyễn Bá Khoản đã chụp được bức ảnh ghi lại khoảnh khắc lịch sử trước khi Trần Thành ôm bom ba càng lao lên và hy sinh. Bức ảnh đã trở thành biểu tượng của tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” trong kháng chiến chống Pháp.

Theo chỉ thị trực tiếp từ Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi từ căn cứ địa Việt Bắc xuống, bộ đội Việt Minh cấm được dùng bom ba càng một cách bừa bãi để tránh tổn thất quân số nên bom ba càng chỉ được sử dụng trong trường hợp bất khả kháng. Đến năm 1947, Giáo sư Trần Đại Nghĩa đã thiết kế thành công và cho ra đời súng Bazooka (Ba-dô-ca) Việt Nam theo mẫu Bazooka do Hoa Kỳ chế tạo trong Thế chiến 2. Từ sau năm 1948, bom ba càng không còn được sử dụng nữa.

Hiện Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam vẫn lưu giữ một cây bom ba càng, có lẽ là cây duy nhất còn sót lại trong số 93 cây được trang bị trong trận đánh Hà Nội 1946. Cây này được tìm thấy trong quá trình người dân đào đất xây nhà trên phố Hàng Bông năm 1983.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]