Bom neutron
Phân bố năng lượng của vũ khí hạt nhân
| Dạng năng lượng | Vũ khí phân hạch thông thường (%) | Vũ khí bức xạ tăng cường (%) |
|---|---|---|
| Sóng xung kích | 50 | 40[1] đến tối thiểu 30[2] |
| Bức xạ nhiệt | 35 | 25[1] đến tối thiểu 20[2] |
| Bức xạ tức thời | 5 | 45 đến tối thiểu 30[1] |
| Bức xạ tồn dư | 10 | 5[1] |
Bom neutron, theo định nghĩa chính thức là một loại vũ khí bức xạ tăng cường (Enhanced Radiation Weapon – ERW), là một loại vũ khí nhiệt hạch có đương lượng nổ thấp, được thiết kế nhằm tối đa hóa lượng bức xạ neutron gây chết người trong khu vực lân cận ngay sau vụ nổ, đồng thời giảm thiểu sức công phá vật lý của chính vụ nổ. Lượng neutron được tạo ra từ phản ứng nhiệt hạch được cố ý cho phép thoát ra khỏi vũ khí, thay vì bị hấp thụ bởi các thành phần khác của nó.[3] Xung neutron, vốn là cơ chế hủy diệt chính của đầu đạn, có khả năng xuyên qua giáp của đối phương hiệu quả hơn đầu đạn thông thường, khiến nó trở thành một loại vũ khí chiến thuật có mức độ sát thương cao hơn.
Khái niệm này ban đầu được Hoa Kỳ phát triển vào cuối những năm 1950 và đầu những năm 1960. Nó được xem là một loại bom "sạch hơn" để sử dụng chống lại các đội hình xe bọc thép Liên Xô được triển khai với mật độ lớn. Do các loại vũ khí này dự kiến sẽ được sử dụng trên lãnh thổ các nước đồng minh, đặc biệt là Tây Đức, nên việc giảm thiểu thiệt hại do sóng xung kích được coi là một ưu điểm quan trọng.[4][5] Trong Chiến tranh Lạnh, Trung Quốc cũng phát triển bom neutron, nhưng không triển khai chúng trên cáctên lửa chiến thuật.[6](tr76)
Các vũ khí bức xạ tăng cường lần đầu tiên được triển khai tác chiến trên các tên lửa chống tên lửa đạn đạo (ABM). Trong vai trò này, xung neutron sẽ khiến các đầu đạn hạt nhân ở gần xảy ra hiện tượng phân hạch một phần, làm chúng không thể phát nổ đúng cách. Để đạt được hiệu quả này, tên lửa ABM phải phát nổ trong phạm vi khoảng 100 m so với mục tiêu. Ví dụ đầu tiên của loại hệ thống này là đầu đạn W66, được trang bị cho tên lửa Sprint trong hệ thống Nike-X của Hoa Kỳ. Người ta cho rằng tên lửa 53T6 thuộc hệ thống A-135của Liên Xô cũng sử dụng một thiết kế tương tự..[7]
Loại vũ khí này một lần nữa được Hoa Kỳ đề xuất sử dụng cho mục đích chiến thuật trong những năm 1970 và 1980, và việc sản xuất đầu đạn W70 dành cho tên lửa MGM-52 Lance bắt đầu vào năm 1981. Tuy nhiên, lần này nó đã vấp phải các cuộc biểu tình khi phong trào phản đối vũ khí hạt nhân ngày càng lớn mạnh trong giai đoạn này. Sự phản đối mạnh mẽ đến mức các nhà lãnh đạo châu Âu từ chối tiếp nhận loại vũ khí này trên lãnh thổ của họ. Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan vẫn ra lệnh sản xuất biến thể W70-3, số đầu đạn này được duy trì trong kho dự trữ của Hoa Kỳ cho đến khi bị loại biên vào năm 1992. Đầu đạn W70 cuối cùng được tháo dỡ vào tháng 2 năm 1996.[8]
Khái niệm cơ bản
[sửa | sửa mã nguồn]Trong một thiết kế vũ khí nhiệt hạch tiêu chuẩn, một quả bom phân hạch cỡ nhỏ được đặt gần một khối nhiên liệu nhiệt hạch lớn hơn, thường là lithi đơteri (lithium deuteride). Hai thành phần này sau đó được đặt bên trong một vỏ phản xạ bức xạ dày, thường được chế tạo từ urani, chì hoặc thép. Vỏ này giữ lại năng lượng từ quả bom phân hạch trong một khoảng thời gian rất ngắn, cho phép năng lượng đó nung nóng và nén khối nhiên liệu nhiệt hạch chính. Vỏ thường được chế tạo bằng urani nghèo hoặc urani tự nhiên ở dạng kim loại, bởi vì phản ứng nhiệt hạch giải phóng số lượng cực lớn neutron năng lượng cao, có thể gây ra các phản ứng phân hạch trong chính vật liệu của vỏ. Những phản ứng này bổ sung một lượng năng lượng đáng kể cho toàn bộ quá trình; trong một thiết kế điển hình, tới 50% tổng năng lượng của vụ nổ đến từ các phản ứng phân hạch xảy ra trong lớp vỏ. Vì lý do đó, về mặt kỹ thuật, các loại vũ khí này được gọi là vũ khí phân hạch – nhiệt hạch – phân hạch.
Ở bom neutron, vật liệu của lớp vỏ được lựa chọn sao cho hoặc trong suốt đối với bức xạ neutron, hoặc chủ động làm tăng số lượng neutron được tạo ra. Nhờ đó, luồng neutron sinh ra trong phản ứng nhiệt hạch có thể thoát khỏi quả bom, lan truyền nhanh hơn chính vụ nổ vật lý. Bằng cách thiết kế cẩn thận lớp nhiệt hạch của vũ khí, xung neutron có thể được tối đa hóa trong khi sức công phá của vụ nổ được giảm xuống mức tối thiểu. Điều này khiến bán kính gây chết người của xung neutron lớn hơn bán kính phá hủy do vụ nổ. Do neutron nhanh chóng bị hấp thụ hoặc phân rã trong không khí, một xung neutron khi tấn công vào đội hình hành quân của đối phương có thể tiêu diệt kíp chiến đấu trong các xe thiết giáp, nhưng vẫn cho phép khu vực đó không bị ảnh hưởng.
So với một quả bom phân hạch thuần túy có cùng đương lượng nổ, bom neutron phát ra lượng bức xạ neutron nhiều gấp khoảng mười lần.[9] Trong một quả bom phân hạch, ở mực nước biển, tổng năng lượng của xung bức xạ gồm tia gamma và neutron chỉ chiếm khoảng 5% tổng năng lượng được giải phóng; ở bom neutron, con số này vào khoảng 40%, phần gia tăng chủ yếu đến từ việc sản sinh nhiều neutron hơn. Hơn nữa, các neutron phát ra từ bom neutron có mức năng lượng trung bình cao hơn nhiều (xấp xỉ 14 MeV) so với neutron sinh ra trong phản ứng phân hạch (1–2 MeV).[10]
Về mặt kỹ thuật, mọi vũ khí hạt nhân có đương lượng nổ thấp đều là vũ khí bức xạ, kể cả những loại không được tăng cường bức xạ. Tất cả các vũ khí hạt nhân có đương lượng nổ tới khoảng 10 kiloton đều có bức xạ neutron tức thời là thành phần sát thương có tầm tác động xa nhất.[2] Đối với các vũ khí tiêu chuẩn có đương lượng nổ trên khoảng 10 kiloton, bán kính gây chết người của sóng xung kích và bức xạ nhiệt bắt đầu vượt quá bán kính gây chết người của bức xạ ion hóa.[11][12] Các vũ khí bức xạ tăng cường cũng nằm trong khoảng đương lượng nổ này, nhưng chỉ đơn thuần làm tăng cường cường độ và phạm vi tác động của liều neutron đối với cùng một mức đương lượng nổ.
Lịch sử phát triển và triển khai
[sửa | sửa mã nguồn]Ý tưởng về bom neutron nhìn chung được ghi nhận là của Samuel T. Cohen tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Livermore, người đã phát triển khái niệm này vào năm 1958.[13] Quá trình phát triển ban đầu được tiến hành trong khuôn khổ các dự án Dove và Starling, và một thiết bị thử nghiệm ban đầu đã được kích nổ dưới lòng đất vào đầu năm 1962. Các thiết kế dành cho một phiên bản có thể sử dụng và trang bị được hoàn thiện vào năm 1963.[14][15]
Việc phát triển hai mẫu đầu đạn sản xuất dành cho tên lửa đạn đạo chiến thuật MGM-52 Lance của Lục quân Hoa Kỳ bắt đầu vào tháng 7 năm 1964: đầu đạn W63 do Lawrence Livermore phát triển và đầu đạn W64 do Phòng thí nghiệm Quốc gia Los Alamos phát triển. Cả hai đều bước vào giai đoạn thử nghiệm cấp ba vào tháng 7 năm 1964, nhưng W64 bị hủy bỏ để ưu tiên W63 vào tháng 9 năm 1964. Đến lượt mình, W63 cũng bị hủy bỏ vào tháng 11 năm 1965 để nhường chỗ cho thiết kế đầu đạn thông thường W70 (Mod 0).[14] Cùng thời điểm đó, các khái niệm tương tự được áp dụng để phát triển đầu đạn cho tên lửa Sprint, một loại tên lửa chống tên lửa đạn đạo (ABM), với Lawrence Livermore phát triển đầu đạn W65 và Los Alamos phát triển đầu đạn W66. Cả hai bước vào giai đoạn thử nghiệm cấp ba vào tháng 10 năm 1965, nhưng W65 bị hủy bỏ để ưu tiên W66 vào tháng 11 năm 1968. W66 được thử nghiệm trong giai đoạn cuối những năm 1960 và chính thức đi vào sản xuất từ tháng 6 năm 1974,[14] trở thành bom neutron đầu tiên được đưa vào sản xuất hàng loạt. Khoảng 120 đầu đạn đã được chế tạo, trong đó khoảng 70 đầu đạn được triển khai trực chiến trong các năm 1975 và 1976 như một phần của Chương trình Safeguard. Khi chương trình này bị chấm dứt, các đầu đạn được đưa vào kho lưu trữ và cuối cùng bị loại biên vào đầu những năm 1980.[14]
Việc phát triển các đầu đạn bức xạ tăng cường dành cho tên lửa Lance vẫn tiếp tục, nhưng vào đầu thập niên 1970, trọng tâm đã chuyển sang sử dụng các phiên bản cải tiến của W70, cụ thể là W70 Mod 3.[14] Sau đó, Tổng thống Jimmy Carter đã hoãn chương trình phát triển vào năm 1978 sau các cuộc biểu tình phản đối kế hoạch triển khai đầu đạn neutron cho lực lượng lục quân tại châu Âu.[16] Ngày 17 tháng 11 năm 1978, trong một cuộc thử nghiệm, Liên Xô đã kích nổ quả bom neutron đầu tiên của mình. Tổng thống Ronald Reagan khởi động lại việc sản xuất bom neutron vào năm 1981.[16] Sau tuyên bố của Reagan, Liên Xô nối lại chiến dịch tuyên truyền chống bom neutron của Hoa Kỳ trong năm 1981. Đến năm 1983, Reagan công bố Sáng kiến Phòng thủ Chiến lược (Strategic Defense Initiative – SDI), một chương trình có quy mô và tham vọng vượt xa việc sản xuất bom neutron; từ đó, bom neutron nhanh chóng không còn là tâm điểm chú ý của công chúng.
| Ban đầu | Phiên bản tăng cường bức xạ | Cỡ nòng |
|---|---|---|
| W48 | W82 | 155 mm |
| W33 | W79 | 203mm |
Hoa Kỳ đã triển khai ba loại vũ khí bức xạ tăng cường.[17] Đầu đạn W66 dành cho hệ thống tên lửa Sprint chống tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM) được đưa vào trang bị năm 1975 và bị loại biên ngay trong năm tiếp theo cùng với toàn bộ hệ thống tên lửa này. Đầu đạn W70 Mod 3 được phát triển cho tên lửa chiến thuật tầm ngắn MGM-52 Lance, còn đầu đạn W79 Mod 0 được phát triển cho đạn pháo hạt nhân. Hai loại đầu đạn sau này đều bị Tổng thống George H. W. Bush cho loại biên vào năm 1992, sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc.[18][19] Đầu đạn W70 Mod 3 cuối cùng được tháo dỡ vào năm 1996, còn đầu đạn W79 Mod 0 cuối cùng được tháo dỡ trước năm 2003, khi việc tháo dỡ toàn bộ các biến thể của đầu đạn W79 được hoàn tất.[20]
Theo Báo cáo Cox, tính đến năm 1999, Hoa Kỳ chưa từng triển khai bom neutron. Tuy nhiên, ý nghĩa của nhận định này không thật sự rõ ràng. Báo cáo viết: "Các thông tin bị đánh cắp còn bao gồm thông tin thiết kế mật về một loại vũ khí bức xạ tăng cường (thường được gọi là 'bom neutron'), mà cả Hoa Kỳ lẫn bất kỳ quốc gia nào khác đều chưa từng triển khai."[21] Tuy nhiên, việc Hoa Kỳ đã chế tạo bom neutron vào thời điểm đó là điều được biết đến rộng rãi và đã được ghi nhận công khai. Samuel T. Cohen cho rằng báo cáo đã sử dụng cách diễn đạt mang tính đánh tráo khái niệm; mặc dù các bom neutron của Hoa Kỳ chưa bao giờ được triển khai tại châu Âu, chúng vẫn nằm trong kho dự trữ tại Hoa Kỳ.[22]
Ngoài hai siêu cường Mỹ và Liên Xô; Pháp và Trung Quốc cũng được biết là đã từng thử nghiệm bom neutron hoặc bom bức xạ tăng cường. Pháp tiến hành một cuộc thử nghiệm công nghệ ban đầu vào năm 1967[23] và thử nghiệm một quả bom neutron hoàn chỉnh vào năm 1980.[24] Trung Quốc thực hiện thành công thử nghiệm các nguyên lý của bom neutron vào năm 1984 và thử nghiệm thành công một quả bom neutron vào năm 1988. Tuy nhiên, không quốc gia nào trong số này quyết định triển khai bom neutron trong lực lượng tác chiến. Trước cuộc thử nghiệm năm 1988, các nhà khoa học hạt nhân Trung Quốc tuyên bố rằng Trung Quốc không có nhu cầu sử dụng bom neutron, nhưng vẫn phát triển loại vũ khí này như một "vũ khí dự phòng", phòng trường hợp phát sinh nhu cầu trong tương lai.[25]
Tháng 5 năm 1998, nhà khoa học cấp cao Pakistan, Tiến sĩ N. M. Butt, tuyên bố rằng Ủy ban Năng lượng Nguyên tử Pakistan (PAEC) đã chế tạo được một số lượng đáng kể bom neutron.[26]
Tháng 8 năm 1999, Chính phủ Ấn Độ tuyên bố rằng nước này có khả năng chế tạo bom neutron.[27]
Mặc dù hiện không có quốc gia nào được biết là đang triển khai bom neutron với vai trò vũ khí tấn công, tất cả các đầu đạn nhiệt hạch có khả năng lựa chọn nhiều mức đương lượng nổ (dial-a-yield), trong đó có tùy chọn khoảng 10 kiloton hoặc thấp hơn và phần đáng kể năng lượng được tạo ra từ phản ứng nhiệt hạch, đều có thể được xem là có khả năng hoạt động như bom neutron, dù không mang tên gọi đó. Quốc gia duy nhất được xác nhận chắc chắn đã triển khai đầu đạn neutron chuyên dụng (tức không phải loại dial-a-yield) trong một thời gian dài là Liên Xô, sau này là Nga,[7] quốc gia kế thừa chương trình tên lửa chống tên lửa đạn đạo ABM-3 Gazelle mang đầu đạn neutron của Liên Xô. Hệ thống phòng thủ chống tên lửa đạn đạo này được cho là có ít nhất 68 đầu đạn neutron, mỗi đầu đạn có đương lượng nổ khoảng 10 kiloton, và đã phục vụ từ năm 1995. Các cuộc thử nghiệm tên lửa không mang đầu đạn thật được tiến hành khoảng hai năm một lần (tính đến năm 2014). Hệ thống được thiết kế để tiêu diệt các đầu đạn hạt nhân đang bay trong khí quyển hướng tới Moskva và các mục tiêu khác, đồng thời là tầng đánh chặn thấp nhất, tuyến phòng thủ cuối cùng của hệ thống chống tên lửa đạn đạo A-135 (định danh NATO: ABM-3).[cần dẫn nguồn]
Theo Mordechai Vanunu, Israel đã tiến hành sản xuất hàng loạt bom neutron từ năm 1984.[28]
Một cuộc tranh cãi lớn đã nổ ra tại Hoa Kỳ và Tây Âu sau khi tờ Washington Post đăng bài điều tra vào tháng 6 năm 1977, tiết lộ kế hoạch của Chính phủ Hoa Kỳ trang bị bom neutron cho quân đội nước này. Bài báo nhấn mạnh rằng đây là loại vũ khí đầu tiên được thiết kế đặc biệt nhằm tiêu diệt con người bằng bức xạ.[29][30] Giám đốc Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Livermore Harold Brown và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev đều gọi bom neutron là "quả bom của chủ nghĩa tư bản", bởi vì nó được thiết kế để tiêu diệt con người trong khi vẫn bảo toàn tài sản.[31][32][cần câu trích dẫn để xác minh]
Sử dụng
[sửa | sửa mã nguồn]
Bom neutron được thiết kế có chủ ý với đương lượng nổ thấp hơn các loại vũ khí hạt nhân khác. Do neutron bị tán xạ và hấp thụ bởi không khí,[2] nên tác động của bức xạ neutron suy giảm rất nhanh theo khoảng cách trong khí quyển. Vì vậy, so với tác động của bức xạ nhiệt, ranh giới giữa khu vực có mức sát thương rất cao và khu vực chỉ chịu liều bức xạ thấp trở nên rõ rệt hơn.[3] Không một loại bom hạt nhân có đương lượng nổ lớn (trên khoảng 10 kiloton), kể cả trường hợp cực đoan như Tsar Bomba 50 megaton, có thể phát ra đủ lượng bức xạ neutron vượt ra ngoài phạm vi sát thương của sóng xung kích khi nổ trên mặt đất hoặc ở độ cao thấp, nên không được xếp là bom neutron. Điều này giới hạn đương lượng nổ của bom neutron ở mức tối đa khoảng 10 kiloton. Xung neutron năng lượng cao cường độ lớn do bom neutron tạo ra là cơ chế sát thương chủ yếu chủ yếu của loại bom này chứ không phải bụi phóng xạ, nhiệt hay sóng xung kích.
Cha đẻ của bom neutron, Samuel T. Cohen, đã chỉ trích việc gọi đầu đạn W70 là bom neutron, vì nó có thể được cấu hình để đạt đương lượng nổ tới 100 kiloton:
"W-70 ... hoàn toàn không phải là một 'bom neutron'. Thay vì là loại vũ khí mà trong nhận thức phổ biến 'giết người nhưng không phá hủy các tòa nhà', nó lại là loại vừa giết người vừa gây hủy diệt vật chất trên quy mô lớn. W-70 không phải là một vũ khí có tính chọn lọc như bom neutron — mà nhân tiện phải nói rằng, bom neutron nên được xem là loại vũ khí 'tiêu diệt binh sĩ đối phương trong khi vẫn bảo toàn cơ sở vật chất của khu vực bị tấn công, và thậm chí cả dân cư tại đó nữa'."[34]
Mặc dù bom neutron thường được cho là "không làm hại cơ sở hạ tầng", nhưng với các thiết kế hiện nay có đương lượng nổ ở mức vài kiloton,[35] việc kích nổ trong hoặc phía trên khu vực đô thị vẫn sẽ gây ra mức độ phá hủy đáng kể đối với các công trình xây dựng do tác động của sóng xung kích và bức xạ nhiệt trong một bán kính tương đối lớn, mặc dù mức độ phá hủy vẫn thấp hơn đáng kể so với một quả bom hạt nhân thông thường có cùng tổng năng lượng giải phóng hay cùng đương lượng nổ.[36]
Lực lượng xe tăng của Khối Warszawa có quy mô lớn hơn gấp đôi so với NATO, và học thuyết tác chiến chiều sâu của Liên Xô nhiều khả năng sẽ tận dụng ưu thế về số lượng này để nhanh chóng tràn qua lục địa châu Âu nếu Chiến tranh Lạnh chuyển thành xung đột nóng. Bất kỳ loại vũ khí nào có thể phá vỡ đội hình xe tăng tập trung của họ và buộc các xe tăng phải triển khai phân tán hơn, khiến chúng dễ bị chia cắt,[4] đều sẽ hỗ trợ lực lượng mặt đất trong việc săn lùng từng xe tăng riêng lẻ và sử dụng tên lửa chống tăng để tiêu diệt chúng,[39] chẳng hạn như các tên lửa M47 Dragon và BGM-71 TOW, mà NATO sở hữu tới hàng trăm nghìn quả khi đó.[4]
Thay vì chuẩn bị quy mô lớn cho chiến tranh hạt nhân chiến thuật tại Trung Âu, giới lãnh đạo quân sự Liên Xô cho rằng ưu thế về lực lượng thông thường đã đủ để Khối Warszawa đạt được hiệu quả tương đương với việc sử dụng vũ khí hạt nhân và giành chiến thắng tại châu Âu mà không cần phải sử dụng các loại vũ khí đó.[40]
Bom neutron, hay chính xác hơn là vũ khí bức xạ tăng cường, cũng được phát triển để sử dụng như vũ khí chiến lược chống tên lửa đạn đạo,[36] và trong vai trò này được cho là vẫn còn đang hoạt động trong hệ thống tên lửa Gazelle của Nga.[7]
Tác động
[sửa | sửa mã nguồn]
Khi phát nổ dưới dạng nổ trên không ở độ cao thấp gần mặt đất, một quả bom neutron có đương lượng nổ 1 kiloton sẽ tạo ra một sóng xung kích mạnh cùng với một xung bức xạ nhiệt cường độ lớn và bức xạ ion hóa dưới dạng neutron nhanh (14,1 MeV). Xung nhiệt sẽ gây bỏng độ ba cho vùng da không được che chắn ở khoảng cách tới khoảng 500 m. Sóng xung kích tạo ra áp suất dư ít nhất 4,6 psi (32 kPa) trong bán kính khoảng 600 m, đủ để gây hư hại nghiêm trọng cho mọi công trình không được xây bằng bê tông cốt thép.[41] Vụ nổ sẽ tạo ra liều bức xạ gây mất khả năng chiến đấu gần như tức thời và gây tử vong (trên 80 Gy) đối với kíp lái xe tăng ở khoảng cách tới 690 m, đồng thời phá hủy hoặc khiến phần lớn các công trình dân dụng trong phạm vi này không còn sử dụng được.[42]
Do các vật thể chứa nhiều chất lỏng như cơ thể con người có khả năng chịu áp suất dư khá tốt, áp suất dư 4–5 psi (28–34 kPa) chỉ gây rất ít thương vong trực tiếp ở khoảng cách khoảng 600 m. Tuy nhiên, các luồng gió cực mạnh do áp suất này tạo ra có thể hất văng con người vào các vật cứng hoặc làm các mảnh vỡ, bao gồm cả kính cửa sổ, bay với tốc độ rất cao; cả hai đều có thể gây chết người. Số thương vong thực tế thay đổi rất lớn tùy thuộc vào môi trường xung quanh, bao gồm cả khả năng các công trình bị sập đổ.[43]
Xung bức xạ neutron sẽ khiến những người ở ngoài trời và không được che chắn bị mất khả năng hoạt động ngay lập tức và vĩnh viễn trong phạm vi tới khoảng 900 m,[9] với tử vong xảy ra sau một hoặc hai ngày. Liều gây chết trung bình (LD50) khoảng 6 Gray kéo dài tới khoảng 1.350–1.400 m đối với những người không được che chắn ở ngoài trời,[42] trong đó khoảng một nửa số người bị chiếu xạ sẽ tử vong vì hội chứng nhiễm xạ cấp sau vài tuần. Trong khu vực đô thị, xung neutron còn gây ra hiện tượng hoạt hóa neutron đối với nhiều vật liệu xây dựng, chẳng hạn như thép mạ kẽm, khiến chúng trở thành vật liệu phóng xạ.
Một người ở bên trong, hoặc chỉ đơn giản được che chắn bởi, ít nhất một tòa nhà bê tông có tường và trần dày 30 cm, hoặc tương đương với lớp đất ẩm dày 60 cm, sẽ nhận liều bức xạ neutron giảm khoảng mười lần.[44] Ngay cả ở gần tâm nổ, việc trú ẩn dưới tầng hầm hoặc trong các công trình có khả năng che chắn bức xạ tương tự cũng sẽ làm giảm đáng kể liều chiếu xạ.[4]
Ngoài ra, phổ hấp thụ neutron của không khí vẫn còn là vấn đề gây tranh luận giữa một số chuyên gia và phụ thuộc một phần vào khả năng hấp thụ của hydro có trong hơi nước. Vì vậy, mức độ hấp thụ neutron có thể thay đổi theo cấp số mũ tùy theo độ ẩm không khí, khiến bom neutron có khả năng gây sát thương lớn hơn nhiều trong điều kiện khí hậu sa mạc khô so với nơi có khí hậu ẩm.[42]
Hiệu quả trong vai trò chống tăng hiện đại
[sửa | sửa mã nguồn]
Hiệu quả còn gây tranh cãi của vũ khí bức xạ tăng cường (ER) đối với các xe tăng hiện đại được xem là một trong những nguyên nhân chính khiến loại vũ khí này không còn được triển khai hoặc duy trì trong kho dự trữ của các cường quốc. Khi độ dày trung bình của lớp giáp xe tăng tăng lên kể từ khi các vũ khí bức xạ neutron đầu tiên được đưa vào trang bị, một bài viết đăng trên tạp chí New Scientist ngày 13 tháng 3 năm 1986 cho rằng khả năng bảo vệ của giáp xe tăng đã tiến gần đến mức mà kíp lái gần như được bảo vệ hoàn toàn trước tác động của bức xạ. Vì vậy, để một vũ khí bức xạ tăng cường có thể làm mất khả năng chiến đấu của kíp xe tăng hiện đại bằng chiếu xạ, nó phải phát nổ ở khoảng cách gần đến mức sóng xung kích của vụ nổ hạt nhân cũng sẽ có hiệu quả tương đương trong việc vô hiệu hóa cả chiếc xe tăng lẫn kíp lái của nó.[45][liên kết hỏng]
Tuy nhiên, tác giả cũng lưu ý rằng các chất hấp thụ neutron và chất độc neutron hiệu quả, chẳng hạn như cacbua bo (boron carbide), có thể được tích hợp vào lớp giáp thông thường hoặc vào các lớp vật liệu chứa hydro có tác dụng làm chậm neutron, ví dụ như giáp phản ứng nổ nhằm tăng hệ số bảo vệ. Dẫu vậy, tác giả cho rằng trên thực tế, khi xét thêm hiện tượng tán xạ neutron, hệ số bảo vệ trung bình của toàn bộ xe tăng hiếm khi vượt quá khoảng từ 15,5 đến 35.[46] Theo Liên đoàn các Nhà khoa học Hoa Kỳ, hệ số bảo vệ neutron của một "xe tăng" có thể chỉ ở mức 2,[2] mặc dù tài liệu này không nêu rõ đang đề cập đến xe tăng hạng nhẹ, xe tăng hạng trung hay xe tăng chiến đấu chủ lực.
Một lớp bê tông cường độ cao dạng composite hoặc một tấm chắn nhiều lớp theo cấu trúc graded-Z dày 24 đơn vị, gồm 16 đơn vị sắt và 8 đơn vị polyetylen chứa bo (BPE), kết hợp với một lớp vật liệu bổ sung phía sau để hấp thụ tia gamma sinh ra từ phản ứng bắt neutron, có hiệu quả che chắn cao hơn đáng kể so với việc chỉ sử dụng riêng 24 đơn vị sắt hoặc BPE. Điều này là nhờ tận dụng được ưu điểm của cả hai vật liệu: trong quá trình truyền neutron, sắt có hiệu quả trong việc làm chậm và tán xạ các neutron năng lượng cao khoảng 14 MeV, đồng thời hấp thụ tia gamma; trong khi đó, hydro trong polyetylen làm chậm các neutron nhanh đã bị giảm năng lượng xuống còn vài MeV, còn đồng vị bo-10 có tiết diện bắt neutron nhiệt rất lớn và chỉ tạo ra lượng tia gamma rất nhỏ khi hấp thụ neutron.[47][48][49] Xe tăng T-72 của Liên Xô được cho là đã được trang bị một lớp lót polyetylen pha bo để đối phó với mối đe dọa từ bom neutron, và đặc tính che chắn neutron của lớp lót này đã được mô phỏng bằng máy tính.[44][50][51]

Tuy nhiên, một số loại giáp xe tăng có chứa urani nghèo (depleted uranium – DU), điển hình là giáp của xe tăng M1A1 Abrams của Hoa Kỳ, sử dụng các khối giáp urani nghèo được bọc trong thép.[52] Loại vật liệu này có thể xảy ra phản ứng phân hạch nhanh khi bắt giữ neutron nhanh sinh ra từ phản ứng nhiệt hạch, từ đó tạo ra neutron phân hạch và các sản phẩm phân hạch nằm ngay trong lớp giáp. Những sản phẩm này tiếp tục phát ra, trong số các loại bức xạ khác, các tia gamma có khả năng xuyên thấu mạnh. Mặc dù neutron phát ra từ bom neutron có thể không xuyên qua lớp giáp với số lượng đủ để gây chết người cho kíp lái, phản ứng phân hạch nhanh xảy ra trong lớp DU vẫn có thể tạo ra môi trường gây chết người đối với kíp xe và nhân viên bảo dưỡng do sự kết hợp giữa neutron phân hạch và tia gamma,[53] mặc dù điều này phụ thuộc rất nhiều vào độ dày và thành phần chính xác của lớp giáp — những thông tin thường rất khó xác định. Mặc dù vậy, Ducrete — một loại bê tông chứa urani có thành phần nguyên tố tương tự (nhưng không hoàn toàn giống) lớp giáp kim loại nặng gốm thế hệ thứ hai kiểu Chobham trên xe tăng Abrams — lại là một vật liệu che chắn bức xạ hiệu quả đối với cả neutron phân hạch lẫn tia gamma nhờ cấu trúc graded-Z của nó.[54][55] Do urani có khối lượng riêng gần gấp đôi chì nên khả năng che chắn tia gamma trên cùng một chiều dày cũng gần gấp đôi.[56]
Sử dụng để chống tên lửa đạn đạo
[sửa | sửa mã nguồn]Là một loại vũ khí chống tên lửa đạn đạo, đầu đạn bức xạ tăng cường đầu tiên được đưa vào trang bị là W66, được phát triển cho hệ thống tên lửa Sprint trong khuôn khổ Chương trình Safeguard nhằm bảo vệ các thành phố và hầm chứa tên lửa của Hoa Kỳ trước các đầu đạn hạt nhân phóng từ Liên Xô.
Một vấn đề mà Sprint và các hệ thống chống tên lửa đạn đạo tương tự gặp phải là hiệu quả của sóng xung kích từ đầu đạn thay đổi rất lớn khi tên lửa đánh chặn bay lên cao và bầu khí quyển trở nên loãng hơn. Ở độ cao từ khoảng 18.000 m trở lên, hiệu quả của sóng xung kích giảm nhanh do mật độ không khí rất thấp. Có thể khắc phục điều này bằng cách sử dụng đầu đạn có sức nổ lớn hơn, nhưng khi đánh chặn ở độ cao thấp, đầu đạn như vậy lại trở nên quá mạnh. Một hệ thống lý tưởng sẽ sử dụng cơ chế tiêu diệt ít phụ thuộc hơn vào sự thay đổi mật độ không khí.
Tấn công bằng neutron mang lại một giải pháp cho vấn đề này. Xung neutron phát ra từ đầu đạn neutron có thể gây ra phản ứng phân hạch trong vật liệu phân hạch của tầng sơ cấp của đầu đạn mục tiêu. Năng lượng giải phóng từ các phản ứng này có thể đủ để làm nóng chảy đầu đạn; ngay cả khi tốc độ phân hạch thấp hơn, việc "đốt cháy" một phần nhiên liệu của tầng sơ cấp cũng có thể khiến đầu đạn không phát nổ đúng cách hoặc chỉ xảy ra hiện tượng "nổ lép" (fizzle).[57] Nhờ đó, một đầu đạn neutron có kích thước nhỏ vẫn có thể hoạt động hiệu quả trong dải độ cao rất rộng: ở độ cao thấp nó dựa vào sóng xung kích, còn khi độ cao tăng lên thì neutron với tầm tác động ngày càng lớn sẽ trở thành cơ chế tiêu diệt chủ yếu.
Việc sử dụng bức xạ neutron để chống tên lửa đạn đạo đã được thảo luận từ những năm 1950. Khi đó, Ủy ban Năng lượng Nguyên tử Hoa Kỳ đã đề cập đến các loại vũ khí có "lượng neutron phát ra cao và sạch" để sử dụng làm "đầu đạn phòng thủ chống tên lửa".[58] Việc nghiên cứu, cải tiến cũng như phát triển các biện pháp bảo vệ trước kiểu tấn công này là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong suốt thập niên 1950 và 1960. Một ví dụ điển hình là tên lửa Polaris A-3 của Hoa Kỳ, mang ba đầu đạn bay gần như trên cùng một quỹ đạo và chỉ cách nhau một khoảng ngắn. Một tên lửa chống tên lửa đạn đạo duy nhất về lý thuyết có thể phá hủy cả ba đầu đạn thông qua thông lượng neutron. Việc phát triển các đầu đạn ít nhạy cảm hơn trước bức xạ từ neutron cũng là một hướng nghiên cứu quan trọng tại Hoa Kỳ và Vương quốc Anh trong thập niên 1960.[57]
Một số nguồn còn cho rằng tấn công bằng thông lượng neutron cũng là mục tiêu thiết kế chính của nhiều loại vũ khí phòng không mang đầu đạn hạt nhân, chẳng hạn như tên lửa AIM-26 Falcon và CIM-10 Bomarc. Một phi công Convair F-102 Delta Dagger từng nhận xét:
"GAR-11/AIM-26 chủ yếu là vũ khí để tiêu diệt vũ khí của đối phương. Máy bay ném bom (nếu có) chỉ là mục tiêu bị ảnh hưởng kèm theo. Vũ khí sử dụng ngòi nổ cận đích để bảo đảm phát nổ đủ gần, tạo ra một luồng neutron cực mạnh gây phản ứng hạt nhân tức thời (không phải phản ứng nổ hoàn toàn) trong lõi đầu đạn của vũ khí đối phương, khiến nó không còn hoạt động đúng như thiết kế... Những vũ khí mang 'bom neutron' đầu tiên của chúng tôi chính là GAR-11 và MB-1 Genie."[58]
Người ta cũng cho rằng tác động của thông lượng neutron đối với các linh kiện điện tử của đầu đạn là một cơ chế tấn công khác của đầu đạn ER trong vai trò chống tên lửa đạn đạo. Mức ion hóa vượt quá 50 Gray trong các vi mạch silicon, kéo dài từ vài giây đến vài phút, sẽ làm suy giảm chức năng của các linh kiện bán dẫn trong thời gian dài.[59] Tuy nhiên, mặc dù kiểu tấn công này có thể hữu ích đối với các hệ thống dẫn đường sử dụng điện tử tương đối tiên tiến, trong nhiệm vụ đánh chặn tên lửa, các bộ phận đó thường đã tách khỏi đầu đạn từ lâu trước khi đầu đạn lọt vào tầm đánh chặn. Bản thân các mạch điện tử bên trong đầu đạn thường rất đơn giản, và việc tăng cường khả năng chống bức xạ cho chúng là một trong nhiều vấn đề đã được nghiên cứu từ những năm 1960.[57]
Lithi-6 hiđrua (Li⁶H) được cho là đã được sử dụng như một biện pháp đối phó nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và tăng khả năng chống chịu của đầu đạn hạt nhân trước tác động của neutron từ bên ngoài.[60][61] Việc tăng cường khả năng chịu bức xạ của các linh kiện điện tử bên trong đầu đạn cũng giúp giảm phạm vi mà đầu đạn neutron có thể gây ra các sự cố không thể phục hồi do hiện tượng tác động bức xạ thoáng qua lên linh kiện điện tử (Transient Radiation Effects on Electronics – TREE).[62][63]
Ở độ cao rất lớn, tại rìa khí quyển và ngoài khí quyển, một cơ chế khác bắt đầu chi phối. Ở độ cao thấp, tia X sinh ra từ vụ nổ bị không khí hấp thụ và chỉ truyền được quãng đường trung bình cỡ vài mét. Nhưng khi không khí trở nên loãng hơn, tia X có thể truyền đi xa hơn, cuối cùng vượt qua phạm vi tác động của neutron. Trong các vụ nổ ngoài khí quyển, bán kính này có thể đạt khoảng 10 km. Trong kiểu tấn công này, chính tia X truyền năng lượng tức thời lên bề mặt đầu đạn mới là cơ chế tiêu diệt chủ yếu; hiện tượng mài mòn vật liệu cách nhiệt bề mặt (ablation hay blowoff) diễn ra rất nhanh, tạo ra các sóng xung kích có thể phá vỡ đầu đạn.[64]
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- 1 2 3 4 "Sci/Tech Neutron bomb: Why 'clean' is deadly". Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2011.
- 1 2 3 4 5 "Chapter 2 Conventional and Nuclear Weapons - Energy Production and Atomic Physics Section I - General. Figure 2-IX, Table 2-III". Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2014.
- 1 2 "The Neutron Bomb". Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2014.
- 1 2 3 4 5 6 "Neutron bomb an explosive issue, 1981". Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2014.
- ↑ Muller, Richard A. (2009). Physics for Future Presidents: The Science Behind the Headlines. W.W. Norton & Company. tr. 148. ISBN 978-0-393-33711-2.
- ↑ Cunningham, Fiona S. (2025). Under the Nuclear Shadow: China's Information-Age Weapons in International Security. Princeton University Press. doi:10.2307/jj.16040335. ISBN 978-0-691-26103-4. JSTOR jj.16040335.
- 1 2 3 Yost, David Scott (ngày 2 tháng 2 năm 1988). Soviet Ballistic Missile Defense and the Western Alliance. Harvard University Press. ISBN 9780674826106 – qua Google Books.
- ↑ "U.S. Nuclear Weapons Stockpile, July 1996". Bulletin of the Atomic Scientists. 52 (4): 61–63. 1996. Bibcode:1996BuAtS..52d..61.. doi:10.1080/00963402.1996.11456646.
- 1 2 Kistiakovsky, George (tháng 9 năm 1978). "The folly of the neutron bomb". Bulletin of the Atomic Scientists. 34 (7): 27. Bibcode:1978BuAtS..34g..25K. doi:10.1080/00963402.1978.11458533. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2011.
- ↑ Hafemeister, David W. (2007). Physics of societal issues: calculations on national security, environment, and energy. Springer. tr. 18. ISBN 978-0-387-95560-5.
- ↑ "Mock up". Remm.nlm.gov. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2013.
- ↑ "Range of weapons effects". Johnstonsarchive.net. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2013.
- ↑ Robert D. McFadden (ngày 1 tháng 12 năm 2010). "Samuel T. Cohen, Neutron Bomb Inventor, Dies at 89". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2010.
- 1 2 3 4 5 Cochran, Thomas; Arkin, William; Hoenig, Milton (1987). Nuclear Weapons Databook: U.S. nuclear warhead production. Volume 2. Ballinger Publishing. tr. 23.
- ↑ "About: Chemistry article Lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2011 tại Wikiwix", by Anne Marie Helmenstine, Ph. D
- 1 2 "On this Day: 7 April". BBC. ngày 7 tháng 4 năm 1978. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2010.
- ↑ "Nuclear Weapon News and Background". Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2012.
- ↑ Christopher Ruddy (ngày 15 tháng 6 năm 1997). "Bomb inventor says U.S. defenses suffer because of politics". Tribune-Review. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2010.
- ↑ "Types of Nuclear Weapons". Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2012.
- ↑ "NNSA Dismantles Last Nuclear Artillery Shell" (PDF). National Nuclear Security Administration. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2012.
- ↑ "Report Of The Select Committee On U.S. National Security And Military/Commercial Concerns With The People's Republic Of China: Chapter 2 – PRC Theft Of U.S. Thermonuclear Warhead Design Information". Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 5 năm 2015.
- ↑ Cohen, Samuel (ngày 9 tháng 8 năm 1999). "Check Your Facts: Cox Report Bombs". Insight on the News.[liên kết hỏng]
- ↑ "Neutron bomb: Why 'clean' is deadly". BBC News. ngày 15 tháng 7 năm 1999. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2012.
- ↑ UK parliamentary question on whether condemnation was considered by Thatcher government Lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2009 tại Wayback Machine
- ↑ Ray, Jonathan (tháng 1 năm 2015). "Red China's "Capitalist Bomb": Inside the Chinese Neutron Bomb Program" (PDF). China Strategic Perspectives. 8. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2015.
- ↑ Raja Zulfikar (ngày 28 tháng 5 năm 1998). "Pakistan builds a neutron bomb". nuclnet.
- ↑ Journal, Jonathan Karp Staff Reporter of The Wall Street (ngày 17 tháng 8 năm 1999). "India Discloses It Is Able To Build a Neutron Bomb". Wall Street Journal. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 1 năm 2017.
- ↑ The Nuclear Express: A Political History of the Bomb and Its Proliferation, By Thomas C. Reed, Danny B. Stillman (2010), page 181
- ↑ Wittner, Lawrence S. (2009). Confronting the bomb: a short history of the world nuclear disarmament movement. Stanford University Press. tr. 132–133. ISBN 978-0-8047-5632-7.
- ↑ Auten, Brian J. (2008). Carter's conversion: the hardening of American defense policy. University of Missouri Press. tr. 134. ISBN 978-0-8262-1816-2.
- ↑ Snow, Donald (2008). National security for a new era: globalization and geopolitics after Iraq. Pearson Longman. tr. 115. ISBN 978-0-205-62225-2.
- ↑ Herken, Greff (2003). Brotherhood of the Bomb: The Tangled Lives and Loyalties of Robert Oppenheimer, Ernest Lawrence, and Edward Teller. Macmillan. tr. 332. ISBN 978-0-8050-6589-3.
- ↑ Healy, Melissa (ngày 3 tháng 10 năm 1987). "Senate Permits Study for New Tactical Nuclear Missile". Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2012.
- ↑ "Check Your Facts: Cox Report Bombs". Insight on the News. ngày 9 tháng 8 năm 1999. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "List of All U.S. Nuclear Weapons". ngày 14 tháng 10 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2012.
- 1 2 "What Is a Neutron Bomb? By Anne Marie Helmenstine, Ph.D". Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2007.
- ↑ Boersma, Hans. "1 (NL) Corps Artillery • 1 Legerkorpsartillerie (1 Lka)". www.orbat85.nl. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2015.
- ↑ "Accomplishments in the 1970s: LLNL's 50th Anniversary". ngày 17 tháng 2 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2005.
- ↑ "what is a neutron bomb "In strategic terms, the neutron bomb has a theoretical deterrent effect: discouraging an armoured ground assault by arousing the fear of neutron bomb counterattack"". Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2005.
- ↑ "Candid Interviews with Former Soviet Officials Reveal U.S. Strategic Intelligence Failure Over Decades". www.gwu.edu. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2011.
- ↑ Calculated from "Effects of Nuclear Explosions". Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2014. assuming 0.5 kt combined blast and thermal
- 1 2 3 "Fact-index, neutron bomb". Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2014.
- ↑ "1) Effects of blast pressure on the human body" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 27 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2012.
- 1 2 "Applications of the Monte Carlo Adjoint Shielding Methodology - MIT". Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2015.
- ↑ New Scientist March 13, 1986 pg 45. ngày 13 tháng 3 năm 1986. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2012.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
- ↑ New Scientist June 12, 1986 pg 62. ngày 12 tháng 6 năm 1986.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
- ↑ "Monte Carlo Calculations Using MCNP4B for an Optimal Shielding Design of a 14-MeV Neutron Source, Submitted to the Journal of Radiation Protection Dosimetry 1998" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2016.
- ↑ "Neutron Interactions – Part 2 George Starkschall, Ph.D. Department of Radiation Physics" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2014.
- ↑ "22.55 "Principles of Radiation Interactions"" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2015.
- ↑ Strobing, Ronan (tháng 7 năm 2009). Terror Reigns Again By Ronan Strobing. pg 418. ShieldCrest. ISBN 9780955855771.
- ↑ "What is a neutron bomb". Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2005.
- ↑ "M1A1/2 Abrams Main Battle Tank, United States of America". Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 8 năm 2014.
- ↑ "For example, M-1 tank armor includes depleted uranium, which can undergo fast fission and can be made to be radioactive when bombarded with neutrons". Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2007.
- ↑ "DUCRETE: A Cost Effective Radiation Shielding Material - Archived copy" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2011. Paper Summary Submitted to Spectrum 2000, Sept 24-28, 2000, Chattanooga, TN. Ducrete: A Cost Effective Radiation Shielding Material. Quote- "The Ducrete/DUAGG replaces the conventional aggregate in concrete producing concrete with a density of 5.6 to 6.4 g/cm3 (compared to 2.3 g/cm3 for conventional concrete). This shielding material has the unique feature of having both high Z and low Z elements in a single matrix. Consequently, it is very effective for the attenuation of gamma and neutron radiation ..."
- ↑ M. J. Haire and S. Y. Lobach, "Cask size and weight reduction through the use of depleted uranium dioxide (DUO2)-concrete material" Lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2012 tại Wayback Machine, Waste Management 2006 Conference, Tucson, Arizona, February 26–March 2, 2006.
- ↑ "Half-Value Layer (Shielding)". Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2014.
- 1 2 3 Walker, John (2016). British Nuclear Weapons and the Test Ban 1954–1973. Routledge. tr. 23, 323–325. ISBN 978-1-317-17170-6.
- 1 2 Maloney, Sean (Fall 2014). "Secrets of the BOMARC: Re-examining Canada's Misunderstood Missile". The Royal Canadian Air Force Journal. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2018.
- ↑ "FAS Nuclear Weapon Radiation Effects". Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2013.
- ↑ "Section 12.0 Useful Tables Nuclear Weapons Frequently Asked Questions". Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2011.
Due to moderating ability and light weight, used to harden weapons against outside neutron fluxes (especially in combination with Li-6) ...The very high cross section of this reaction for thermalized neutrons, combined with the light weight of the Li-6 atom, make it useful in the form of lithium hydride for hardening of nuclear weapons against external neutron fluxes.
- ↑ "Restricted Data Declassification Policy, 1946 to the Present RDD-1". Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2013.
The fact that Li6H is used in unspecified weapons for hardening
- ↑ "The Nuclear Matters Handbook, F.13". Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2013.
- ↑ "Transient Radiation Effects on Electronics (TREE) Handbook Formerly Design Handbook for TREE, Chapters 1-6". Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2014.
- ↑ "Nuclear Matters Handbook". Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 5 năm 2014.
Nuclear weapon-generated X-rays are the chief threat to the survival of strategic missiles in-flight above the atmosphere and to satellites ... The Neutron and gamma ray effects dominate at lower altitudes where the air absorbs most of the X-rays.
Đọc thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- Cohen, Sam (1983). The Truth About the Neutron Bomb: The Inventor of the Bomb Speaks Out. William Morrow & Co. ISBN 978-0-688-01646-3.
- Cohen, Sam (tháng 9 năm 2015). Shame: Confessions of the Father of the Neutron Bomb (PDF) (ấn bản thứ 4). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2016.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Strategic Implications of Enhanced Radiation Weapons
- Nuclear Files.org Lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2006 tại Wayback Machine Definition and history of the neutron bomb
- Creator of Neutron Bomb Leaves an Explosive Legacy
- The Woodrow Wilson Center's Nuclear Proliferation International History Project or NPIHP is a global network of individuals and institutions engaged in the study of international nuclear history through archival documents, oral history interviews and other empirical sources.