Britain's Next Top Model

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Britain's Next Top Model
Định dạng Truyền hình thực tế
Sáng lập Tyra Banks
Đạo diễn James Macdonald
Lorraine O'Keefe
Dẫn chương trình Lisa Snowdon (2-hiện tại)
Lisa Butcher (1)
Giám khảo Lisa Snowdon
Huggy Ragnarsson (4-hiện tại)
Gerry Deveaux (4-hiện tại)
Jonathan Phang (1-3)
Paula Hamilton (2-3)
Lisa Butcher (1)
Marie Helvin (1)
Quốc gia  Anh Quốc,  Ireland
Số tập 42
Số mùa đã phát tại Việt Nam 4
Số tập đã phát tại Việt Nam 42
Sản xuất
Thời lượng 60 phút (44 phút không quảng cáo)
Trình chiếu
Kênh trình chiếu LIVING (2005-)
RTL 5 (Hà Lan)
Kênh trình chiếu tại Việt Nam Channel V
Định dạng hình ảnh 480i (SDTV)
Phát sóng 14/09, 2005 – hiện tại
Liên kết ngoài
Trang mạng chính thức

Britain's Next Top Model (gọi tắt BNTM hoặc Top Model) là phiên bản tại Anh của loạt chương trình truyền hình thực tế đào tạo người mẫu America's Next Top Model. Giống như phiên bản gốc tại Mỹ, đây là cuộc tranh tài của các thí sinh nữ để giành ngôi vị Britain's Next Top Model và cơ hội tiến sâu vào ngành công nghiệp người mẫu. Người dẫn chương trình mùa thi đầu tiên là người mẫu Lisa Butcher, tiếp đến là siêu mẫu Lisa Snowdon.

Ngày 18 tháng 04, 2008 một chương trình ăn theo mang tên Comic Relief Does Britain's Next Top Model được sản xuất và phát trên kênh BBC1. Chương trình là cuộc cạnh tranh của 12 phụ nữ nổi tiếng trong làng giải trí, qua mỗi tuần lần lượt các thí sinh phải chia tay cuộc chơi thông qua hệ thống phiếu bầu. Chương trình này được sản xuất để phát thay cho chương trình Comic Relief does Fame Academy.

Định dạng[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi mùa thi, chương trình Britain's Next Top Model có khoảng 10-12 tập phim với 10-14 thí sinh nữ. Qua các tập, lần lượt các thí sinh bị loại (mỗi tập một người); có rất ít trường hợp một tập phim không có thí sinh nào bị loại hoặc có hai thí sinh bị loại, tất cả tuỳ thuộc vào sự nhất trí của hội đồng giám khảo. Phần thay đổi diện mạo của các thí sinh thường được tiến hành ở những tập đầu của mùa thi. Khi cuộc thi đã loại bớt thí sinh, chỉ còn khoảng 4-5 người thì đội ngũ nhân viên sản xuất và các thí sinh bay ra nước ngoài để ghi hình.

Thời gian trung bình của mỗi tập phim gần như là cố định (thời gian ghi hình ở nước ngoài nhanh hơn ở trong nước), gồm các thử thách, phần chụp ảnh hoặc quay quảng cáo, thử thách và chất vấn từ hội đồng giám khảo do Lisa Snowdon chỉ huy, và tập phim kết thúc ở phần loại thí sinh. Đối với mùa thi thứ 4, thành phần hội đồng giám khảo gồm: nhiếp ảnh gia thời trang, đồng thời là cựu siêu mẫu Huggy Ragnarsson; và chuyên gia thời gian gốc Hindi, Gerry DeVaux. Giám khảo các mùa thi trước: người mẫu Lisa Butcher (cũng là giám khảo trụ cột mùa đầu); các siêu mẫu Marie Helvin (Mùa 1), Paula Hamilton (Mùa 2-3) và chuyên gia Jonathan Phang. Hội đồng giám khảo cũng không thể không kể đến các vị khách mời.

Một tập phim bắt đầu với phần huấn luyện người mẫu, làm việc chung với các chuyên gia có tiếng trong nghề; tham gia thử thách và giành giải thưởng chiến thắng thử thách. Kế đến là chụp ảnh với nhiếp ảnh gia, thái độ hợp tác của thí sinh với đội ngũ nhân viên cũng được ghi nhận rất đáng kể, làm nền cho đánh giá xét loại thí sinh. Nội dung chụp ảnh có thể là: chụp ảnh khoả thân/bán khoả thân, chụp với đồ lót hoặc bikini, ảnh chân dung, hoặc với các con vật, cây cỏ... Ở phần cuối chương trình, các thí sinh phải đối diện với hội đồng giám khảo để tiếp nhận những lời bình phẩm cũng như chỉ trích, và nhận tấm ảnh đại diện người tiếp tục cuộc hành trình trở thành siêu mẫu. Thí sinh không có tấm ảnh sẽ phải chia tay cuộc chơi, thu dọn hành lý và về nhà. Tuy nhiên trong lịch sử BNTM cũng có những ngoại lệ

  • Ở mùa thi đầu và mùa thi thứ tư, không có thí sinh nào bị loại, do trước đó có một thí sinh bỏ cuộc
  • Ở mùa thi thứ hai và thứ tư, có hai thí sinh bị loại cùng lúc trong một tập.

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Giống những chương trình khác trong khuôn khổ Top Model, Britain's Next Top Model trao tặng những giải thưởng rất có giá trị cho người chiến thắng. Người chiến thắng có cơ hội giành được một hợp đồng ới công ty quản lý người mẫu Models 1 - một trong những công ty hàng đầu Vương quốc Anh; bài phỏng vấn độc quyền và ảnh bìa trên tạp chí Company Magazine; cùng với một hợp đồng trị giá £100.000 với thương hiệu mỹ phẩm Max Factor. Giải thưởng của các mùa thi trước gồm một hợp đồng trị giá £100.000 với công ty mỹ phẩm Ruby and Millie (Mùa thi 1-3), bài viết trên B Magazine và hợp đồng người mẫu của Beatrice Models ở Milan (mùa thi đầu).


Các mùa thi[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa thi Phát sóng Quán quân Á quân Thứ tự loại bỏ Số thí sinh Điểm đến quốc tế
1 02005-09-14 14 tháng 9 năm 2005 Lucy Ratcliffe Edwina Joseph Marina Fallahi, Claire Hillier, Shauna Breen, Anne Kent (quit), Hayley Wilkins, Marisa Heath, Stephanie Jones, Naomi Teal, Tashi Brown, Jenilee Harris 12 Ý
Milan
Pháp
Paris
2 02006-07-24 24 tháng 7 năm 2006 Lianna Fowler Abigail Clancy Yvette Stubbs, Nina Malone, Asha Hibbert, Lucy Flower, Sophia Price, Sam Gerrard, Tamar Higgs & Georgina Edewor-Thorley, Sarah Butler, Amber Niemann, Jasmia Robinson 13 Maroc
Marrakesh
3 02007-07-02 2 tháng 7 năm 2007 Lauren McAvoy Louise Watts Dani Lawrence, Krystal Hancock, Abigail Galatia, Natalie Nwagbo, Holly Alexander, Carly Thompson, Sherece Campbell, Lucy Bennett, Stefanie Webber, Rebecca White 12 Brasil
Rio de Janeiro
4 02008-04-21 21 tháng 4 năm 2008 Alex Evans Catherine Thomas Sophie Roberts, Musayeroh Barrie, Louise Heywood, Lauren Donaldson-Stanley, Lynzi Arnott, Lisa Fowler, Martha Braddell & Leanne Nagle, Aaron Hunt, Charlotte Denton, Rachael Cairns, Stefanie Wilson 14 Cộng hòa Nam Phi
Cape Town
5 02009-04-20 20 tháng 4 năm 2009 Mecia Simson Sophie Sumner Lisa-Ann Hillman, Lauren Wee, Kasey Wynter & Chloe Cummings, Madeleine Wheatley, Hayley Buchanan, Annaliese Dayes, Daisy Payne, Viola Szekely, Ashley Brown, Jade McSorley 13 Iceland
Reykjavík
Argentina
Buenos Aires
6 02010-07-05 5 tháng 7 năm 2010 Tiffany Pisani Alisha White Hannah Goodeve (quit), Rachelle Harry, Susan Loughnane, Harleen Kaur Nottay, Delita Cole, Amba Hudson-Skye, Nicola Wright, Kirsty Parsons, Olivia Oldham-Stevens, Amelia Thomas, Charlotte Holmes, Joy McLaren 14 Tây Ban Nha
Alicante
Na Uy
Hardanger
Malaysia
Kuala Lumpur
7 02011-07-04 4 tháng 7 năm 2011 Jade Thompson Juste Juozapaityte Kimberleigh Spreadbury & Joanne Northey, Ufuoma Itoje, Hannah Devane, Holly Higgins & Amy Woodman, Tanya Mihailovic & Stacey Haskins, Jessica Abidde, Imogen Leaver & Anastasija Bogatirjova 13 Cộng hòa Ireland
Dublin
Hoa Kỳ
Miami
8 02012-07-09 9 tháng 7 năm 2012 Letitia Herod Emma Grattidge Emma Sharratt, Penelope Williamson, Tasmin Golding, Anne Winterburn, Kellie Forde, Jennifer Joint, Madeleine Taga, Roxanne O'Connor, Rissikat Oyebade, Lisa Madden, Anita Kaushik 13 Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
Dubai
Pháp
Paris
Canada
Toronto
9 02013-06-20 20 tháng 6 năm 2013 Lauren Lambert Emma Ward
Sarah Kennedy
Christina Chalk, Danielle Sandhu, Jess Patterson, Abigail Johns, Laura Young, Emily Garner, Saffron Williams, Holly Carpenter, Angel Mbonu, Naomi Pelkiewicz, Sophie Ellson 14 Barbados
Bridgetown
10 02016-01-14 14 tháng 1 năm 2016 Chloe Keenan Angel Cole
Jessica Workman
Jasmine Hodge, Amreen Akhtar (quit), Alex Needham, Jenna McMahon, Megan Brunell & Georgia Butler, Billie Downes, Lexi Kelly, Bethan Sowerby 12 Croatia
Zagreb
Jamaica
Ocho Rios
11 TBA TBA TBA Abby Heaton, Alannah Beirne, Ana Tanaka, Anastasia Ellis, Bianca Thomas, Chloe Lockley-Middleton, Eleanor Sippings, Jennifer Malengele, Olivia Liv Wardell, Simone Murphy, Tallulah Bluebell, Talulah Eve Brown, Victoria Clay 13 TBA

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]