Britney Spears

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Britney Spears
Britney Spears 2013 (Straighten Crop).jpg
Spears tại buổi hoà nhạc Wango Tango của 102.7 KIIS FMCarson, California, tháng 5 năm 2013
Sinh Britney Jean Spears
2 tháng 12, 1981 (35 tuổi)
McComb, Mississippi, Hoa Kỳ
Nghề nghiệp
  • Ca sĩ
  • vũ công
  • diễn viên
  • nhạc sĩ
  • người viết bài hát
Năm hoạt động 1992–hiện tại
Đại lý Larry Rudolph
Quê quán Hoa Kỳ Kentwood, Louisiana
Vợ/chồng
Con cái 2
Cha mẹ
Người thân
Website britneyspears.com
britney.com
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụ Giọng hát
Hãng đĩa
Hợp tác với Innosense

Britney Jean Spears (sinh ngày 2 tháng 12 năm 1981) là một ca sĩ, vũ công và diễn viên người Mỹ. Sinh ra tại McComb, Mississippi và lớn lên tại Kentwood, Louisiana, Spears bắt đầu tham gia nhiều chương trình truyền hình như Star SearchThe Mickey Mouse Club khi còn nhỏ trước khi ký kết hợp đồng thu âm với hãng đĩa Jive năm 1997. Album phòng thu đầu tiên và thứ hai của Spears, ...Baby One More Time (1999) và Oops!... I Did It Again (2000) đều gặt hái những thành công đột phá trên toàn cầu, trong đó album đầu tay của cô đã trở thành album bán chạy nhất bởi một nghệ sĩ hát đơn tuổi thanh thiếu niên.[2] Những bài hát chủ đề trích từ hai album như "...Baby One More Time" và "Oops!... I Did It Again" cũng phá vỡ những kỷ lục doanh thu trên thế giới. Năm 2001, Britney phát hành album phòng thu thứ 3 cùng tên, Britney và bắt đầu sự nghiệp diễn xuất trong Crossroads (2002). Cô nắm quyền kiểm soát sự sáng tạo trong âm nhạc với album phòng thu thứ tư, In the Zone (2003), bao gồm đĩa đơn "Toxic" trở thành hit trên toàn thế giới.

Năm 2007, Spears phải đối mặt nhiều vấn đề đời tư khiến sự nghiệp của cô đi vào gián đoạn. Tuy nhiên, album phòng thu thứ năm Blackout, phát hành trong giai đoạn này, vẫn đem về cho cô hai bản hit thành công là "Gimme More" và "Piece of Me". Album thứ sáu của Spears, Circus (2008) tiếp tục gặt hái thành công, với đĩa đơn quán quân toàn cầu "Womanizer". Album phòng thu thứ bảy của nữ ca sĩ, Femme Fatale, phát hành năm 2011 đã trở thành album phòng thu đầu tiên của nữ ca sĩ có 3 đĩa đơn lọt vào top 10 bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Cô phát hành album phòng thu thứ tám Britney Jean vào năm 2013. Cuối năm đó, Spears bắt đầu chương trình biểu diễn cư trú kéo dài 4 năm, Britney: Piece of Me, tại The AXIS thuộc Planet Hollywood Resort & Casino (Las Vegas). Năm 2016, cô phát hành album phòng thu thứ chín, Glory.

Spears được ghi nhận là một biểu tượng văn hoá nổi bật và thường xuyên được coi là người có công trong việc vực dậy dòng nhạc teen pop vào cuối thập niên 1990.[3] Cô trở thành "nghệ sĩ tuổi thiếu niên bán chạy nhất mọi thời đại",[4] và được mệnh danh là "Công chúa nhạc Pop".[5] Với những đóng góp của mình cho ngành công nghiệp âm nhạc, Spears đã được vinh danh thông qua nhiều giải thưởng và thành tựu khác nhau, bao gồm một giải Grammy, 6 giải Video âm nhạc của MTV bao gồm giải thưởng Thành tựu trọn đời, 10 giải thưởng âm nhạc Billboard bao gồm giải thưởng Billboard Thiên niên kỷ[6] và một ngôi sao trên Đại lộ Danh vọng Hollywood. Theo Hiệp hội công nghiệp ghi âm Mỹ (RIAA), Spears đứng thứ 8 trong danh sách những nữ nghệ sĩ có album bán chạy nhất tại Hoa Kỳ, với 34 triệu album được chứng nhận.[7] Cô cũng được công nhận là nữ nghệ sĩ có lượng album bán chạy nhất thập niên 2000, cũng như xếp thứ 5 nếu tính cả nghệ sĩ nam.[8] Ngoài ra, Billboard còn xếp cô ở vị trí thứ 8 trong danh sách Nghệ sĩ của thập niên 2000.[9] Tính đến nay, Spears đã bán được 100 triệu album cũng như hơn 100 triệu đĩa đơn trên toàn cầu,[10] giúp cô trở thành một trong những nghệ sĩ âm nhạc bán chạy nhất mọi thời đại. Theo Billboard, Spears đã bán được khoảng 22.38 triệu đĩa đơn nhạc số tại Hoa Kỳ và là nữ nghệ sĩ bán chạy thứ 4 kể từ khi Nielsen SoundScan bắt đầu.[11]

Tạp chí Rolling Stone ghi nhận Spears như là một trong 25 thần tượng tuổi thiếu niên đột phá nhất mọi thời đại.[12] trong khi VH1 xếp cô ở vị trí thứ 11 trong danh sách "100 Phụ nữ vĩ đại nhất trong Âm nhạc" của họ vào năm 2012,[13]Billboard gọi cô là Người phụ nữ gợi cảm nhất trong âm nhạc.[14] Trong tháng 6 năm 2010, Britney xếp hạng 6 trong danh sách 100 nhân vật nổi tiếng có ảnh hưởng nhất trên thế giới, và là nghệ sĩ được nhắc đến nhiều nhất trên Internet thứ 3, theo Forbes.[15]

Cuộc đời và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

1981–1997: Thời thơ ấu và khởi đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Spears được sinh ra tại McComb, Mississippi, là đứa con thứ hai của Lynne Irene Bridges và James Parnell Spears. Những anh chị em của cô trong gia đình gồm có Bryan JamesJamie Lynn.[16] Vào năm 3 tuổi, cô bắt đầu tham dự các lớp học nhảy tại quê hương của mình, và xuyên suốt thời thơ ấu, cô cũng tham dự các lớp thể dục và luyện thanh. Spears đã giành chiến thắng tại nhiều cuộc thi cấp Nhà nước và những chương trình tài năng cho trẻ em lúc bấy giờ.[17][18][19] Cô có màn trình diễn trên sân khấu lần đầu tiên tại địa phương của mình lúc 5 tuổi, trình diễn "What Child Is This?" tại buỗi lễ tốt nghiệp mẫu giáo của cô. Cô cũng đề cập đến tham vọng của mình khi còn là một đứa trẻ, "Tôi thực sự đã ở trong thế giới của riêng mình, [...] Tôi phát hiện ra những gì tôi phải làm trong những năm đầu đời."[18]

Năm 8 tuổi, Spears và mẹ cô Lynne đã đến Atlanta, Georgia để tham gia một buổi thử giọng cho phiên bản tái sinh vào những năm 1990 của The Mickey Mouse Club. Giám đốc casting Matt Casella đã từ chối cô vì quá nhỏ để tham gia chương trình vào thời điểm đó, nhưng giới thiệu cô với Nancy Carson, một nhà tìm kiếm tài năng của thành phố New York. Carson đã rất ấn tượng với giọng hát của Spears và đề nghị cô ghi danh tại trường nghệ thuật Professional Performing Arts; ngay sau đó, Lynne và con gái của cô chuyển đến sinh sống tại một căn hộ thuê lại ở New York. Spears bắt đầu diễn xuất chuyên nghiệp lần đầu tiên với vai trò diễn viên đóng thế cho vai chính của Tina Denmark trong vở nhạc kịch bán chuyên nghiệp Ruthless!. Cô cũng xuất hiện trên chương trình truyền hình nổi tiếng Star Search dưới vai trò thí sinh và được chọn tham gia vào một số quảng cáo.[20][21] Trong tháng 12 năm 1992, cô cuối cùng đã trúng tuyển vào đội hình chính thức của The Mickey Mouse Club cùng Christina Aguilera, Justin Timberlake, Ryan Gosling, và Keri Russell, nhưng trở về Kentwood ngay sau khi chương trình kết thúc vào năm 1996. Cô theo học tại Parklane Academy tại McComb, Mississippi. Mặc dù đã kết thân với nhiều bạn bè cùng lớp, cô so sánh ngôi trường với "cảnh mở đầu trong Clueless với tất cả các bè phái. [...] Tôi đã thấy rất buồn chán. Tôi là hậu vệ phối bóng của đội bóng rổ. Tôi có một người bạn trai, và tôi được trở về quê hương và tận hưởng Giáng sinh. Nhưng tôi mong muốn nhiều hơn thế nữa."[18][22]

Trong tháng 6 năm 1997, Spears đàm phán với nhà quản lý Lou Pearlman để tham gia vào nhóm nhạc pop nữ Innosense. Lynne cũng nhờ đến sự giúp đỡ từ người bạn của gia đình và là luật sư giải trí Larry Rudolph để tham khảo ý kiến và gửi một đoạn ghi âm Spears hát karaoke một bài hát của Whitney Houston cùng một số hình ảnh. Rudolph quyết định rằng ông muốn gửi chúng đến các hãng thu âm, vì vậy cô cần có một bản thu nháp chuyên nghiệp. Ông đã gửi Spears một bài hát không được sử dụng của Toni Braxton; cô đã luyện tập trong một tuần và thu âm lại giọng hát của mình trong một phòng thu với một kỹ sư âm thanh. Spears chuyển đến New York với những bản thu nháp và gặp gỡ giám đốc điều hành của bốn hãng đĩa, và trở về Kentwood trong cùng ngày. Ba trong số những hãng này đã từ chối cô, cho rằng khán giả muốn những ban nhạc pop như Backstreet BoysSpice Girls, và "sẽ không có thêm bất kỳ một Madonna, Debbie Gibson, hoặc Tiffany nào nữa."[23]

Hai tuần sau đó, giám đốc điều hành của Jive Records gọi lại cho Rudolph.[23] Phó chủ tịch cấp cao của A&R Jeff Fenster nói về buổi thử giọng của Spears rằng "thật hiếm hoi để có thể nghe được một giọng ca ở lứa tuổi này vừa truyền đạt nội dung ca từ tốt lẫn đáp ứng yếu tố thương mại. [...] Đối với bất kỳ một nghệ sĩ nào, động cơ thúc đẩy—'đôi mắt của hổ'—là cực kỳ quan trọng. Và Britney có điều đó."[18] Sau đó, cô hát "I Have Nothing" (1992) của Houston trước các giám đốc điều hành của Jive, và được ký kết hợp đồng ghi âm với hãng.[24] Họ bổ nhiệm nhà sản xuất Eric Foster White để làm việc với cô trong một tháng, người đã miêu tả chất giọng của cô "theo cách rất đặc trưng, không lẫn vào đâu được của Britney."[25] Sau khi nghe lại những tác phẩm thu âm đã hoàn thiện, chủ tịch Clive Calder đã quyết định thực hiện một album đầy đủ. Phong cách âm nhạc của Spears ban đầu được định hình như "âm nhạc của Sheryl Crow, nhưng trẻ trung hơn và hợp thời đại hơn" nhưng sau khi cảm thấy hài lòng với những nhà sản xuất mà hãng đã sắp xếp, cô cảm thấy rằng "nó sẽ khả quan hơn nếu quyết định theo đuổi nhạc pop, vì tôi có thể nhảy, và nó cũng hợp với tôi hơn." Cô đã bay tới Cheiron Studios ở Stockholm, Thụy Điển, nơi một nửa album được thu âm từ tháng 3 đến tháng 4 năm 1998, với các nhà sản xuất Max Martin, Denniz Pop, Rami Yacoub và nhiều người khác.[18]

1998–2000: ...Baby One More TimeOops!... I Did It Again[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi trở về Hoa Kỳ, Spears bắt tay triển khai một chuyến lưu diễn vòng quanh những trung tâm thương mại để quảng bá cho album đầu tay của cô. Buổi diễn bao gồm danh sách trình diễn với 4 bài hát và cô được hỗ trợ trên sân khấu bởi hai vũ công nhảy nền. Sau đó, cô tham gia lưu diễn như là nghệ sĩ hát mở màn cho *NSYNC.[26] Album phòng thu đầu tay của Spears, ...Baby One More Time, được phát hành vào ngày 12 tháng 1 năm 1999.[27] Nó đạt vị trí số một trên bảng xếp hạng Billboard 200 và được chứng nhận hai lần đĩa Bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Mỹ sau một tháng. Trên thị trường quốc tế, album đứng đầu các bảng xếp hạng thuộc 15 quốc gia và bán được hơn 10 triệu bản trong năm đầu phát hành.[28] Nó đã trở thành album bán chạy nhất từ trước đến nay bởi một nghệ sĩ hát đơn tuổi thanh thiếu niên.[19]

Bài hát chủ đề được phát hành như là đĩa đơn đầu tiên cho album. Ban đầu, Jive Records muốn thực hiện một video ca nhạc dưới hình thức hoạt hình cho nó; Tuy nhiên, Spears đã từ chối ý kiến, và đề xuất ý tưởng về hình tượng một nữ sinh Công giáo.[25] Đĩa đơn bán được 500.000 bản trong ngày đầu phát hành, và đạt vị trí số một trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 trong hai tuần liên tiếp. Tính đến nay, nó đã bán được hơn 10 triệu bản trên toàn cầu, trở thành một trong những đĩa đơn bán chạy nhất mọi thời đại.[29][30] "...Baby One More Time" sau đó đã nhận được một đề cử giải Grammy cho Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất.[31] Bài hát cũng đứng đầu bảng xếp hạng tại Vương quốc Anh, và trở thành đĩa đơn tiêu thụ nhanh nhất trong lịch sử bởi một nữ nghệ sĩ, với hơn 460.000 bản được tiêu thụ trong tuần đầu.[32] Nó sau đó đã trở thành bài hát thành công thứ thứ 25 trong lịch sử bảng xếp hạng Anh quốc.[33] Spears cũng là nữ nghệ sĩ trẻ tuổi nhất có một đĩa đơn đạt doanh thu triệu bản tại đây.[34] "(You Drive Me) Crazy" được phát hành như là đĩa đơn thứ ba từ album, và trở thành một hit top 10 trên toàn cầu cũng như thúc đẩy doanh số tiêu thụ của ...Baby One More Time. Tính đến nay, album đã bán được 30 triệu bản trên toàn thế giới, và là một trong những album bán chạy nhất mọi thời đại.

Với thành công của ...Baby One More Time, Spears được ghi nhận là người có ảnh hưởng đến sự hồi sinh của dòng nhạc teen pop vào cuối thập niên 1990. Thành công của Spears cũng đã thúc đẩy một làn sóng những ca sĩ nữ trẻ đẹp đáng chú ý sau này như Christina Aguilera, Jessica SimpsonMandy Moore.[3] Tuy nhiên, tại lễ trao giải Grammy năm 2000, Britney đã để vuột mất giải Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất vào tay Christina Aguilera.[35] Vào ngày 28 tháng 6 năm 1999, Spears bắt tay thực hiện chuyến lưu diễn hát chính đầu tiên trong sự nghiệp ...Baby One More Time Tour ở Bắc Mỹ, và nhận được những phản ứng tích cực từ các nhà phê bình,[36] dù vấp phải một số tranh cãi về phần trang phục.[37] Một phiên bản mở rộng của chuyến lưu diễn, mang tên Crazy 2k, diễn ra vào tháng 3 năm 2000. Spears đã trình diễn những bài hát mới từ album thứ hai sắp phát hành của cô trong buổi diễn.

Oops!... I Did It Again, album phòng thu thứ hai của cô, được phát hành vào tháng 5 năm 2000. Nó ra mắt ở vị trí số một tại Hoa Kỳ, bán được 1.3 triệu bản, và phá vỡ kỷ lục của SoundScan về doanh thu tuần đầu cao nhất từ trước đến nay của một nghệ sĩ nữ.[38] Album đã bán được hơn 25 triệu bản trên toàn thế giới tính đến nay, trở thành một trong những album bán chạy nhất mọi thời đại.[39] Đĩa đơn chủ đạo của album, "Oops!... I Did It Again", đạt vị trí quán quân ở Úc, New Zealand, Vương quốc Anh và nhiều quốc gia châu Âu khác.[34][40] Album cũng như bài hát chủ đề lần lượt nhận được những đề cử Grammy cho Album giọng pop xuất sắc nhất và Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất.

Cũng trong năm này, Spears bắt tay thực hiện Oops!... I Did It Again Tour, thu về 40,5 triệu đô-la; Cô cũng cho ra mắt cuốn sách đầu tiên của mình, Britney Spears' Heart to Heart, được đồng chắp bút bởi mẹ của cô.[19][41] Ngày 7 tháng 9 năm 2000, Spears biểu diễn tại Giải Video âm nhạc của MTV năm 2000. Giữa màn trình diễn, cô cởi bỏ bộ suit đen và để lộ một bộ bodysuit màu da, trước khi thể hiện một loạt vũ đạo phức tạp. Nó được ghi nhận bởi nhiều nhà phê bình như là khoảnh khắc đánh dấu sự thay đổi của Spears sang hình tượng gợi cảm và khiêu khích hơn.[42] Trước sự hoài nghi của giới truyền thông, Spears đã xác nhận rằng cô đang hẹn hò với thành viên của NSYNC Justin Timberlake.[19]

2001–02: BritneyCrossroad[sửa | sửa mã nguồn]

Spears trình diễn tại NFL Kickoff Live, tháng 9 năm 2003

Trong tháng 2 năm 2001, Spears ký kết một hợp đồng quảng cáo thương mại trị giá 7-8 triệu đô-la với hãng nước ngọt Pepsi, và phát hành một cuốn sách khác đồng chắp bút với mẹ cô, mang tên A Mother’s Gift.[19] Album phòng thu thứ ba mang chính tên của nữ ca sĩ, Britney, được phát hành vào tháng 11 năm 2001. Trong khoảng thời gian lưu diễn, cô cảm thấy được truyền cảm hứng bởi những nghệ sĩ hip hop như Jay-ZThe Neptunes và mong muốn tạo ra một album với âm thanh phấn khởi hơn.[43] Nó ra mắt ở vị trí số một trên Billboard 200 và lọt vào top 5 ở Úc, Vương quốc Anh và châu Âu và đã bán được hơn 12 triệu bản trên toàn thế giới.[44][45] Album nhận được 2 đề cử giải Grammy—Album giọng pop xuất sắc nhất và Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất cho "Overprotected"— và lọt vào danh sách "100 Album xuất sắc nhất trong 25 năm qua" của tạp chí Entertainment Weekly năm 2008.[46][47] Đĩa đơn đầu tiên từ album, "I'm a Slave 4 U", trở thành một đĩa đơn top 10 trên toàn cầu.[48]

Màn trình diễn đĩa đơn này của Spears tại Giải Video âm nhạc của MTV năm 2001 với một con hổ trong lồng và một con trăn được đặt trên vai cô, đã vấp phải những phản hồi gay gắt từ tổ chức vì quyền động vật PETA.[42] Để quảng bá cho album, Spears tổ chức chuyến lưu diễn Dream Within a Dream Tour. Nó được giới phê bình giành nhiều lời ca ngợi bởi những ý tưởng về dàn dựng kỹ thuật trong buổi diễn.[49][50] Chuyến lưu diễn thu về 43.7 triệu đô-la, trở thành chuyến lưu diễn có doanh thu cao thứ hai trong năm 2002 bởi một nữ nghệ sĩ, sau Farewell Tour của Cher.[51] Những thành công trong sự nghiệp của cô đã được ghi nhận bởi tạp chí Forbes năm 2002, với việc Spears được xếp hạng là ngôi sao quyền lực nhất thế giới.[52] Spears cũng đánh dấu vai diễn chính đầu tiên trong sự nghiệp diễn xuất với Crossroads, phát hành vào tháng 2 năm 2002. Mặc dù bộ phim phần lớn chịu nhiều sự chỉ trích, các nhà phê bình giành những lời khen ngợi cho diễn xuất của Spears và bộ phim là một thành công về mặt doanh thu.[53][54][55] Crossroads, với kinh phí 12 triệu đô-la, đã thu về hơn 61.1 triệu đô-la trên toàn thế giới.[55] Trong tháng 7 năm 2002, Spears tuyên bố cô sẽ tạm gác lại sự nghiệp trong 6 tháng; Tuy nhiên, cô đã trở lại phòng thu vào tháng 11 để thu âm cho album mới.[56] Mối quan hệ tình cảm giữa Spears và Timberlake cũng đi đến kết thúc sau 3 năm.

2003–05: In the Zone và những cuộc hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Spears trình diễn trong chuyến lưu diễn The Onyx Hotel Tour vào tháng 4 năm 2004

Năm 2003, Spears mở màn lễ trao giải Video âm nhạc của MTV năm 2003 với Christina Aguilera, trình diễn "Like a Virgin", trước khi Madonna tham gia vào màn trình diễn, và họ đã có một nụ hôn trên sân khấu. Sự việc đã trở thành một đề tài được quan tâm và bàn tán một thời gian dài sau đó.[19] Spears phát hành album phòng thu thứ tư của cô, In the Zone, vào tháng 10 năm 2003. Trong bản thu âm, cô nắm quyền kiểm soát sự sáng tạo nhiều hơn với việc tham gia viết lời và đồng sản xuất trong hầu hết những bài hát.[19] Vibe gọi nó là "Một tác phẩm dance không những vô cùng tự tin mà còn cho thấy khả năng phát triển của Spears như là một nhạc sĩ."[57] NPR đã liệt kê album vào danh sách "50 Bản thu quan trọng nhất của thập kỷ."[58] In the Zone bán được hơn 609.000 bản tại Hoa Kỳ và ra mắt ở vị trí quán quân, giúp Spears trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên trong kỷ nguyên SoundScan có bốn album phòng thu đầu tiên ra mắt tại vị trí số một.[19] Nó cũng đứng đầu bảng xếp hạng ở Pháp và vuơn đến top 10 ở Bỉ, Đan Mạch, Thụy Điển và Hà Lan.[59] In the Zone đã bán được hơn 10 triệu bản trên toàn thế giới,[60] và sản sinh nhiều đĩa đơn thành công: "Me Against the Music", hợp tác với Madonna; "Toxic"—giúp Spears giành giải Grammy cho Thu âm nhạc dance xuất sắc nhất; "Everytime" và "Outrageous".[19]

Trong tháng 1 năm 2004, Spears kết hôn với người bạn thời thơ ấu Jason Allen Alexander tại Nhà thờ The Little White WeddingLas Vegas, Nevada. Cuộc hôn nhân đã bị hủy bỏ 55 giờ sau đó, sau một đơn kiến nghị lên tòa án rằng Spears "thiếu nhận thức về hành động của mình".[61] Trong tháng 3 năm 2004, cô bắt đầu thực hiện chuyến lưu diễn The Onyx Hotel Tour để quảng bá cho In the Zone.[62] Trong tháng 6 năm 2004, Spears gặp một chấn thương đầu gối trái khi đang thực hiện video ca nhạc cho "Outrageous", và trải qua một cuộc phẫu thuật nội soi khớp. Sau đó, cô đã buộc phải hủy bỏ phần còn lại của The Onyx Hotel Tour.[63]

Trong tháng 7 năm 2004, Spears đính hôn với vũ công người Mỹ Kevin Federline, người mà cô đã gặp gỡ 3 tháng trước. Mối quan hệ này đã nhận được nhiều sự chú ý từ giới truyền thông, sau khi Federline quyết định chia tay nữ diễn viên Shar Jackson, người đang mang thai đứa con thứ hai của họ vào thời điểm đó.[19] Những giai đoạn phát triển tình cảm trong mối quan hệ của họ đã được lưu giữ trong chương trình truyền hình thực tế đầu tiên của Spears Britney & Kevin: Chaotic. Họ đã tổ chức một lễ cưới vào ngày 18 tháng 9 năm 2004, nhưng không được chấp thuận một cách hợp pháp cho đến 3 tuần sau đó, vào ngày 6 tháng 10 do sự chậm trễ trong việc hoàn thành hôn ước của vợ chồng.[64] Một thời gian ngắn sau, cô phát hành nhãn hiệu nước hoa đầu tiên của cô với Elizabeth Arden, Curious, và phá vỡ kỷ lục về doanh thu trong tuần đầu của công ty.[19] Trong tháng 10 năm 2004, Spears tạm gác lại sự nghiệp để bắt đầu xây dựng gia đình của mình.[65] Greatest Hits: My Prerogative, album tuyển tập hit đầu tiên của cô, được phát hành vào tháng 10 năm 2004.[66] Bản hát lại "My Prerogative" từ Bobby Brown của Spears đã được phát hành như là đĩa đơn đầu tiên từ album, và đứng đầu các bảng xếp hạng ở Phần Lan, Ireland, Ý, Na Uy.[67] Đĩa đơn thứ hai, "Do Somethin'", lọt vào top 10 ở Úc, Anh và nhiều nước châu Âu khác.[68][69] Tuyển tập đã bán được hơn 5 triệu bản trên toàn thế giới.[70] Trong tháng 8 năm 2005, Spears phát hành "Someday (I Will Understand)", được xem là một món quà mà cô gửi đến đứa con đầu lòng của mình, một bé trai, người được sinh ra vào tháng sau.[71] Trong tháng 11 năm 2005, cô phát hành album phối lại đầu tiên, B in the Mix: The Remixes, bao gồm 11 bản phối lại.[72] Nó đã bán được hơn 1 triệu bản trên toàn thế giới.[73]

2006–07: Vấn đề đời tư và Blackout[sửa | sửa mã nguồn]

Spears rời khỏi tòa án và bị bao vây bởi thợ săn ảnh trong tháng 10 năm 2007

Trong tháng 2 năm 2006, hình ảnh Spears đang lái xe với con trai Sean được đặt trên đùi thay vì ở ghế ngồi được đăng tải rộng rãi. Những người ủng hộ trẻ em đã thể hiện thái độ búc xúc trước những bức ảnh vừa lái xe bằng một tay và giữ Sean bằng một tay của cô. Spears tuyên bố rằng tình hình đó xảy ra khi cô đang gặp rắc rối với những tay săn ảnh, nhưng đó cũng là một phần lỗi của cô.[19] Trong tháng sau, cô xuất hiện trong tập phim "Buy, Buy Baby" của Will & Grace dưới vai trò khách mời.[74] Hai tháng sau đó, Spears chụp ảnh khỏa thân nghệ thuật cho trang bìa của Harper's Bazaar. Bức ảnh nhận được nhiều sự so sánh với hình ảnh của Demi Moore chụp cho trang bìa của Vanity Fair tháng 8 năm 1991.[19] Trong tháng 9 năm 2006, cô hạ sinh đứa con thứ hai, một bé trai.[75] Trong tháng 11 năm 2006, Spears đã đệ đơn xin ly dị với Federline, vì những sự khác biệt không thể hòa giải.[76] Vụ việc được kết thúc vào tháng 7 năm 2007, khi hai vợ chồng đạt được thỏa thuận chung và đồng ý chia sẻ quyền giám hộ hai đứa con của họ.[77]

Trong tháng 2 năm 2007, Spears ở lại một trại cai nghiện ma túy ở Antigua trong gần một ngày. Đêm hôm sau, cô cạo trọc đầu với một tông đơ điện tại một tiệm tóc ở Tarzana, Los Angeles. Cô thừa nhận mình phải đến những trung tâm điều trị trong những tuần tiếp theo.[78] Trong tháng 5 năm 2007, cô thực hiện một loạt các buổi diễn tại những địa điểm của House of Blues, mang tên The M+M's Tour.[79] Trong tháng 10 năm 2007, Spears mất quyền giám hộ hai đứa con của cô. Những phán quyết của tòa án không được tiết lộ cho công chúng.[80]

Trong tháng 10 năm 2007, Spears phát hành album phòng thu thứ năm của cô, Blackout. Nó đạt vị trí số một ở Canada và Ireland, thứ hai ở Pháp, Nhật Bản, Mexico, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ, và top 10 ở Úc, Hàn Quốc, New Zealand và nhiều nước châu Âu. Tại Hoa Kỳ, Spears trở thành nữ nghệ sĩ duy nhất có 5 album phòng thu đầu tay đều ra mắt trên top 2 của bảng xếp hạng.[81] Album nhận được những đánh giá tích cực từ các nhà phê bình và đã bán được hơn 3 triệu bản trên toàn thế giới.[82][83] Blackout giành giải Album của năm tại Giải Âm nhạc châu Âu của MTV năm 2008 và được liệt kê ở vị trí thứ 5 trong danh sách Album Pop xuất sắc nhất của thập kỷ bởi The Times.[84][85] Spears biểu diễn đĩa đơn "Gimme More" tại Giải Video âm nhạc của MTV năm 2007. Màn trình diễn đã bị chỉ trích gay gắt bởi nhiều nhà phê bình.[86] Mặc cho những phản ứng dữ dội, đĩa đơn vẫn gặt hái nhiều thành công trên toàn thế giới, đạt vị trí quán quân ở Canada và top 10 ở hầu hết những quốc gia nó xếp hạng.[87][88] Đĩa đơn thứ hai, "Piece of Me" đạt vị trí số một ở Ireland và lọt vào top 5 ở Úc, Canada, Đan Mạch, New Zealand và Vương quốc Anh. Đĩa đơn thứ ba, "Break the Ice" được phát hành vào năm sau và gặt hái những thành công tương đối dù không được quảng bá rộng rãi.[89][90][91]

2008–10: Circus[sửa | sửa mã nguồn]

Spears trình diễn "Freakshow" tại The Circus Starring Britney Spears, tháng 5 năm 2009

Trong tháng 1 năm 2008, Spears phủ nhận việc từ bỏ quyền nuôi con trai của mình cho Federline. Cô đã phải nhập viện khẩn cấp tại Trung tâm y tế Cedars-Sinai sau khi cảnh sát đến nhà cô và phát hiện cô đang bị ảnh hưởng bởi một chất bất hợp pháp. Ngày hôm sau, quyền bảo hộ của Spears đã bị đình chỉ tại một phiên tòa khẩn cấp, và Federline được trao quyền nuôi con dưới tư cách là người bảo hộ pháp lý duy nhất của bọn trẻ. Tòa án đã đưa ra phán quyết tạm thời, và sau đó, vĩnh viễn[92] rằng Spears sẽ phải chịu dưới sự kiểm soát từ cha cô, James Spears và luật sư Andrew Wallet, bao gồm việc kiểm soát toàn bộ tài sản của cô.

Trong tháng sau, Spears làm khách mời trong tập phim "Ten Sessions" của How I Met Your Mother với vai tiếp tân Abby. Cô nhận được những đánh giá tích cực cho diễn xuất của mình, cũng như mang lại cho loạt phim truyền hình dài tập này lượng người xem cao nhất từ ​​trước tới nay.[93][94] Trong tháng 7 năm 2008, Spears đã giành lại quyền thăm con sau một thỏa thuận với Federline và luật sư của anh.[95] Trong tháng 9 cùng năm, Spears mở màn Giải Video âm nhạc của MTV với một tiểu phẩm hài được ghi hình trước với Jonah Hill và có bài phát biểu khai mạc lễ trao giải. Cô đã chiến thắng giải Video xuất sắc nhất của nữ ca sĩ, Video Pop xuất sắc nhấtVideo của năm cho "Piece of Me".[96] Một bộ phim tài liệu dài 60 phút, Britney: For the Record, được sản xuất để ghi lại quá trình trở lại ngành công nghiệp ghi âm của Spears. Được đạo diễn bởi Phil Griffin, For the Record được ghi hình ở Beverly Hills, Hollywood, và thành phố New York trong quý III năm 2008.[97] Bộ phim tài liệu được phát sóng trên MTV với 5.6 triệu người xem cho hai lượt phát sóng vào đêm công chiếu. Đây là chương trình có lượng người xem cao nhất trong số những chương trình phát sóng cùng khung giờ với nó vào đêm chủ nhật và trong lịch sử của kênh.[98]

Trong tháng 12 năm 2008, album phòng thu thứ sáu của Spears Circus được phát hành. Nó nhận được những đánh giá tích cực từ các nhà phê bình[99] và đạt vị trí quán quân ở Canada, Cộng hòa Séc và Hoa Kỳ, cũng như lọt vào top 10 tại nhiều quốc gia châu Âu.[88][100] Tại Hoa Kỳ, Spears trở thành nữ nghệ sĩ trẻ tuổi nhất có 5 album phòng thu ra mắt ở vị trí số một, được ghi danh vào Sách Kỷ lục Guinness.[101] Cô cũng trở thành nghệ sĩ duy nhất trong kỷ nguyên Soundscan có 4 album phòng thu bán được từ 500,000 bản trở lên trong tuần đầu.[100] Đây là một trong những album bán chạy nhất trong năm,[102] và đã bán được 4 triệu bản trên toàn thế giới.[103] Đĩa đơn đầu tiên của nó, "Womanizer", trở thành đĩa đơn quán quân đầu tiên của Spears trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 kể từ "...Baby One More Time". Nó đạt vị trí số một ở Bỉ, Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Na Uy và Thụy Điển.[104][105] Bài hát còn nhận được một đề cử giải Grammy cho Thu âm nhạc dance xuất sắc nhất.[106] Spears bắt tay thực hiện chuyến lưu diễn The Circus Starring Britney Spears vào tháng 3 năm 2009. Với doanh thu 131.8 triệu đô-la, nó trở thành chuyến lưu diễn có doanh thu cao thứ 5 trong năm.[107]

Trong tháng 11 năm 2009, Spears phát hành album tuyển tập hit thứ hai của cô, The Singles Collection. Đĩa đơn chủ đạo và duy nhất của album, "3" trở thành đĩa đơn quán quân thứ ba của Spears tại Hoa Kỳ. Trong tháng 5 năm 2010, đại diện của Spears xác nhận rằng cô đang hẹn hò với quản lý của cô, Jason Trawick, và họ mong muốn kết thúc từ mối quan hệ nghề nghiệp của họ để tập trung vào mối quan hệ cá nhân.[108] Spears thiết kế một dòng thời trang phiên bản giới hạn cho Candie's, và được bày bán ở tất cả các cửa hàng vào tháng 7 năm 2010.[109] Trong tháng 9 năm 2010, Spears có vai diễn khách mời trong một tập phim tri ân âm nhạc của chính cô thuộc loạt phim truyền hình Mỹ Glee, mang tên "Britney/Brittany". Nó trở thành tập phim có lượng người xem cao nhất từ trước đến nay của Glee.[110][111]

2011–12: Femme FataleThe X Factor[sửa | sửa mã nguồn]

Britney Spears biểu diễn "Till the World Ends" ở Femme Fatale Tour.

Trong tháng 3 năm 2011, Spears phát hành album phòng thu thứ bảy Femme Fatale. Album đạt vị trí quán quân ở Úc, Canada, và Hoa Kỳ, và lọt vào top 10 ở hầu hết các bảng xếp hạng khác. Thứ hạng của nó tại Hoa Kỳ đã giúp cô cân bằng kỷ lục với Mariah CareyJanet Jackson ở vị trí thứ 3 trong danh sách những nữ nghệ sĩ có nhiều album quán quân nhất.[112] Album quán quân thứ 6 này đã bán được 1 triệu bản ở Hoa Kỳ và 2.2 triệu bản trên toàn thế giới, và được chứng nhận bạch kim bởi RIAA.[113]

Đĩa đơn đầu tiên của album "Hold It Against Me" ra mắt ở vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, trở thành đĩa đơn thứ tư của Spears trên bảng xếp hạng và giúp cô trở thành nghệ sĩ thứ hai trong lịch sử có hai đĩa đơn đạt vị trí số một ngay trong tuần đầu, sau Mariah Carey.[114] Đĩa đơn thứ hai "Till the World Ends" đạt vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100,[115] trong khi đĩa đơn thứ ba "I Wanna Go" đạt vị trí thứ 7. Thành tích này đã giúp Femme Fatale trở thành album đầu tiên trong sự nghiệp của Spears có 3 đĩa đơn lọt vào top 10 trên bảng xếp hạng này.[116] Đĩa đơn thứ tư và cuối cùng từ album "Criminal" được phát hành vào tháng 9 năm 2011. Video ca nhạc của nó đã gây nên nhiều tranh cãi khi các chính trị gia tại Anh chỉ trích việc Spears dùng súng lục trong quá trình quay phim tại London, một trong những khu vực bị ảnh hưởng xấu bởi cuộc nổi dậy năm 2011 tại đây.[117] Sau đó, quản lý của Spears đã trả lời ngắn gọn, rằng "Video này là một câu chuyện tưởng tượng với bạn trai của Britney, Jason Trawick, mà theo nghĩa đen là xuất phát từ lời bài hát đã được viết từ 3 năm trước, khi những cuộc bạo động chưa xảy ra."[118] Tháng 4 năm 2011, Spears góp giọng trong phiên bản phối lại của bài hát của Rihanna "S&M".[119] Nó đứng ở vị trí số một tại Hoa Kỳ vào cuối tháng, đem về cho Spears đĩa đơn quán quân thứ 5 trên bảng xếp hạng.[120] Trong danh sách cuối năm 2011 của Billboard, Spears đứng vị trí thứ 14 trong danh sách Nghệ sĩ của năm,[121] thứ 32 trong Top nghệ sĩ Billboard 200 và thứ 10 trong Top nghệ sĩ Billboard Hot 100.[122][123]

Tháng 6 năm 2011, Spears bắt tay vào chuyến lưu diễn Femme Fatale Tour.[124] Trong 10 ngày đầu tiên của chuyến lưu diễn, nó đã thu về 6.2 triệu đô-la, hạ cánh ở vị trí 50 trong danh sách 100 tour diễn hàng đầu Bắc Mỹ của Pollstar vào giữa năm.[125] Chuyến lưu diễn kết thúc vào ngày 10 tháng 12 năm 2011 tại Puerto Rico sau 79 buổi diễn.[126] Một DVD của chuyến lưu diễn đã được phát hành vào tháng 11 năm 2011.[127] Trong tháng 8 năm 2011, Spears đã giành giải thưởng Thành tựu Video của MTV tại Giải Video âm nhạc của MTV năm 2011.[128] Trong tháng sau, cô phát hành album phối lại thứ hai của mình, B in the Mix: The Remixes Vol. 2.[129] Trong tháng 12 cùng năm, Spears đã đính hôn với bạn trai lâu năm Jason Trawick, người trước đây từng làm trợ lý của cô.[130] Trawick đồng thời trở thành người bảo trợ hợp pháp của Spears, cùng với cha cô, vào tháng 4 năm 2012.[131] Tuy nhiên, Spears và Trawick đã hủy bỏ hôn ước của họ vào tháng 1 năm 2013. Trawick cũng không còn là người bảo hộ của Spears, và cha cô tiếp tục là người bảo hộ duy nhất của cô.[132][133]

Trong tháng 5 năm 2012, Spears được mời để thay thế Nicole Scherzinger cho vị trí giám khảo mùa thứ hai của cuộc thi The X Factor phiên bản tại Mỹ, Nicole Scherzinger, cùng với Simon CowellL.A. Reid và giám khảo mới Demi Lovato, người thay thế Paula Abdul. Với mức thù lao 15 triêu đô-la, Spears đã trở thành giám khảo được trả lương cao nhất trong lịch sử những cuộc thi hát trên truyền hình.[134] Trong cuộc thi, cô hướng dẫn nhóm Teens và thành viên cuối cùng trong đội của cô, Carly Rose Sonenclar, đã đạt ngôi vị Á quân của mùa giải. Spears đã không trở lại vào mùa thứ ba của cuộc thi và vị trí của cô được thay thế bởi Kelly Rowland.[135][136] Spears góp giọng trong bài hát "Scream & Shout" của will.i.am, đã được phát hành dưới dạng đĩa đơn trích từ album phòng thu thứ tư của anh, #willpower (2013). Nó sau đó đã trở thành đĩa đơn quán quân thứ sáu của cô trên bảng xếp hạng UK Singles Chart và đứng vị trí thứ 3 trên Billboard Hot 100 tại Hoa Kỳ. "Scream & Shout" là một trong những đĩa đơn bán chạy nhất trong năm 2012 và 2013 với 8.1 triệu bản được bán ra trên toàn thế giới. Trong tháng 12, Spears đứng thứ nhất trong danh sách những nghệ sĩ nữ có thu nhập cao nhất trong năm 2012 bởi tạp chí Forbes, với thu nhập ước tính là 58 triệu đô-la.[137]

2013–15: Britney JeanBritney: Piece of Me[sửa | sửa mã nguồn]

Spears trình diễn trong chương trình biểu diễn cư trú của cô ở Las Vegas, Britney: Piece of Me, tháng 1 năm 2014

Spears bắt đầu thực hiện album phòng thu thứ 8 của mình, Britney Jean, trong tháng 12 năm 2012,[138] và mời will.i.am làm giám đốc điều hành vào tháng 5 năm 2013.[139] Ngày 17 tháng 9 năm 2013, cô xuất hiện trên Good Morning America để công bố chương trình biểu diễn cư trú hai năm của cô tại Planet Hollywood Resort & Casino ở Las Vegas, mang tên Britney: Piece of Me. Nó bắt đầu vào ngày 27 tháng 12 năm 2013, và bao gồm tổng cộng 100 chương trình xuyên suốt năm 2014 và 2015.[140][141] Bên cạnh đó, Spears cũng thông báo rằng Britney Jean sẽ được phát hành tại Hoa Kỳ vào ngày 3 tháng 12 năm 2013.[142][143] Nó sẽ được phát hành thông qua hãng đĩa RCA Records do sự tan rã của Jive Records vào năm 2011.[144] Britney Jean trở thành dự án cuối cùng của Spears theo hợp đồng ghi âm ban đầu của cô với RCA, đảm bảo việc phát hành 8 album phòng thu.[145] Bản thu âm không có bất kỳ hoạt động quảng bá hoặc tác động thương mại cụ thể nào, được cho là vì điều khoản trong hợp đồng show diễn Britney: Piece of Me.[146] Sau khi phát hành, album ra mắt và đạt vị trí thứ 4 trên Billboard 200 với 107.000 bản, trở thành album có thứ hạng và doanh số tiêu thụ thấp nhất của cô tại Hoa Kỳ.[147] Điều này cũng diễn ra tương tự tại thị trường Vương quốc Anh, khi Britney Jean chỉ đạt vị trí thứ 34 trên UK Albums Chart.[148]

"Work Bitch" được chọn làm đĩa đơn đầu tiên cho Britney Jean vào ngày 16 tháng 9 năm 2013, một ngày sớm hơn dự kiến do bị rò rỉ trực tuyến.[149] Nó ra mắt và đạt vị trí thứ 12 trên Billboard Hot 100, đánh dấu bài hát thứ 31 của Spears lọt vào bảng xếp hạng và ra mắt ở thứ hạng cao thứ 5 trong sự nghiệp của cô, cũng như là đĩa đơn top 20 thứ 7 của nữ ca sĩ làm được điều này. Đây cũng là đĩa đơn top 20 thứ 19 và đĩa đơn top 40 thứ 23 của Spears. Trên bảng xếp hạng Pop Songs, nó ra mắt ở vị trí thứ 25, trở thành bài hát thứ 31 của cô có mặt trên bảng xếp hạng, vượt qua thành tích của Mariah Carey (30) cho cương vị Nghệ sĩ có nhiều bài hát lọt vào bảng xếp hạng Pop thứ 2 trong lịch sử. Bài hát cũng đạt thành tích tốt ở một số quốc gia khác, đạt đến top 10 ở Brazil, Canada, Pháp, Ý, Mexico, Tây Ban Nha, Hàn Quốc và Vương quốc Anh.[150]

Đĩa đơn thứ hai, "Perfume" ra mắt vào ngày 3 tháng 11 năm 2013, hai ngày sớm hơn so với thông báo ban đầu.[151][152] Nó ra mắt và đạt vị trí thứ 76 trên Billboard Hot 100[153] và 22 trên Pop Songs.[154] Trong khoảng thời gian sản xuất Britney Jean, Spears thu âm bài hát "Ooh La La" cho nhạc phim của Xì Trum 2 vào đầu năm 2013.[155] Trong tháng 10 năm 2013, cô tham gia góp giọng cho bài hát của Miley Cyrus "SMS (Bangerz)", nằm trong album phòng thu thứ tư của Cyrus, Bangerz (2013).[156] Ngày 8 tháng 1 năm 2014, Spears thắng giải Nghệ sĩ Pop được yêu thích tại Giải thưởng People Choice lần thứ 40.[157] Vào tháng 8 năm 2014, Spears xác nhận cô đã gia hạn hợp đồng ghi âm của cô với RCA, qua đó cũng tiết lộ việc đang sáng tác và thu âm những nhạc phẩm mới cho album tiếp theo của mình.[158] Spears công bố thông qua tài khoản Twitter của mình vào tháng 8 năm 2014 rằng cô sẽ cho ra mắt dòng sản phẩm nội y mang tên "The Intimate Britney Spears". Tính đến nay, nó đã được xuất khẩu sang hơn 200 quốc gia trên toàn cầu.[159] Ngày 25 tháng 9 năm 2014, Spears khẳng định trên Good Morning Britain rằng cô đã gia hạn hợp đồng với The AXIS and Planet Hollywood Resort & Casino, để tiếp tục thực hiện Britney: Piece Of Me trong hai năm nữa.[160]

Vào tháng 3 năm 2015, tin tức về Spears sẽ phát hành đĩa đơn "Pretty Girls", với Iggy Azalea, vào ngày 4 tháng 5 năm 2015 được xác nhận trên tạp chí People.[161] Bài hát ra mắt và đạt vị trí thứ 29 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 và gặt hái những thành công tương đối trên thị trường quốc tế. Spears và Azalea đã biểu diễn ca khúc trực tiếp tại Giải thưởng âm nhạc Billboard năm 2015 từ The AXIS, nơi biểu diễn cư trú của Spears, và nhận được những phản hồi tích cực. Entertainment Weekly ca ngợi rằng "Spears đã cho thấy một trong những màn trình diễn truyền hình mạnh mẽ nhất của cô trong nhiều năm".[162] Ngày 16 tháng 6 năm 2015, Giorgio Moroder phát hành album của mình, Deja Vu, bao gồm sự góp giọng của Spears trong bài hát "Tom's Diner".[163] Trong một cuộc phỏng vấn, Moroder ca ngợi giọng hát của Spears và nói rằng cô ấy đã làm một "công việc tốt" cho bài hát.[164] Moroder cũng nói rằng "nó rất tuyệt đến nỗi bạn sẽ khó nhận ra cô ấy".[165] Tại Giải Sự lựa chọn của Giới trẻ năm 2015, Spears nhận giải Biểu tượng Phong cách của Candie.[166] Trong tháng 11, Spears xuất hiện trong vai phỏng tác từ chính mình, dưới tư cách khách mời, trên loạt phim truyền hình Jane the Virgin[167] và nhảy "Toxic" cùng với nhân vật của Gina Rodriguez.[168]

2016-hiện tại: Glory và tiếp tục chương trình cố định tại Vegas[sửa | sửa mã nguồn]

Spears trình diễn "Circus" trong chương trình biểu diễn cư trú của cô ở Las Vegas, tháng 2 năm 2016

Trong năm 2016, Spears xác nhận rằng cô đã bắt đầu thu âm album phòng thu thứ 9 của mình thông qua mạng xã hội.[169] Ngày 1 tháng 3 năm 2016, tạp chí V công bố rằng Spears sẽ xuất hiện trên bìa ấn phẩm thứ 100 của họ, xuất bản ngày 08 tháng 3 năm 2016, với 3 phiên bản bìa khác nhau do nhiếp ảnh gia Mario Testino thực hiện.[170] Tổng biên tập của tạp chí, Stephen Gan, tiết lộ rằng việc lựa chọn Spears cho "V100" là vì Spears là một biểu tượng trong ngành công nghiệp âm nhạc, và nói "Ai trong thế hệ chúng tôi lớn lên mà không nghe nhạc của cô ấy?".[171] Vào tháng 5 năm 2016, Spears hợp tác với Glu Mobile để cho ra mắt một ứng dụng trò chơi nhập vai mang tên Britney Spears: American Dream.[172] Ngày 22 tháng 5 năm 2016, Spears trình diễn một liên khúc những bài hát cũ của cô tại Giải thưởng âm nhạc Billboard năm 2016.[173][174] Ngoài nhiệm vụ mở màn lễ trao giải, Spears còn được vinh danh với giải thưởng Giải thưởng Billboard Thiên niên kỷ.[175]

Vào ngày 14 tháng 7 năm 2016, Britney phát hành đĩa đơn đầu tiên, "Make Me...", trích từ album phòng thu thứ 9 của cô, với sự tham gia góp giọng của rapper người Mỹ G-Eazy.[176] Ngày 3 Tháng 8 năm 2016, Spears thông báo rằng album mới của cô, Glory sẽ được phát hành vào ngày 26 tháng 8 năm 2016. Ngày 16 tháng 8 năm 2016, MTV và Spears thông báo rằng cô sẽ biểu diễn tại lễ trao giải Giải Video âm nhạc của MTV năm 2016.[177] Đây là lần đầu tiên Spears trở lại sân khấu của lễ trao giải kể từ năm 2007 với màn trình diễn "Gimme More".[178] Cùng với "Make Me...", Spears và G-Eazy còn trình diễn bản hit "Me, Myself & I" của G-Eazy.[179]. Spears xuất hiện trên trang bìa của Marie Claire Anh quốc vào tháng 10 năm 2016. Trong ấn phẩm này, Spears đã tiết lộ rằng cô đã phải trải qua nhiều căng thẳng tồi tệ trong quá khứ, và việc làm mẹ đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp cô vượt qua những khó khăn đó. "Những đứa con của tôi không quan tâm nếu mọi thứ không hoàn hảo và chúng không phán xét tôi," Spears nói.[180]

Vào tháng 11 năm 2016, trong một cuộc phỏng vấn với Las Vegas Blog, Spears xác nhận rằng cô đã bắt đầu làm việc cho album phòng thu tiếp theo, nói rằng: "Tôi không chắc mình muốn album tiếp theo sẽ như thế nào [...] Tôi chỉ biết rằng tôi rất vui mừng khi trở lại phòng thu một lần nữa và thực sự đã quay trở lại."[181]

Vào tháng 1 năm 2017, Spears nhận được 4 đề cử tại Giải thưởng People Choice lần thứ 43, và chiến thắng tất cả, bao gồm Nghệ sĩ Pop, Nghệ sĩ nữ, Người nổi tiếng trên mạng xã hội được yêu thích, cũng như Màn hợp tác hài hước cho một chuyên mục với Ellen DeGeneres trên The Ellen DeGeneres Show.[182]

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôi sao của Spears trên Đại lộ Danh vọng Hollywood

Spears đã trở thành một biểu tượng văn hóa pop quốc tế ngay sau khi bắt đầu sự nghiệp âm nhạc của mình. Tạp chí Rolling Stone đã miêu tả Spears như là "Một trong những giọng ca nữ gây nhiều tranh cãi và thành công nhất của thế kỷ 21," và cô "đã thúc đẩy sự hồi sinh của dòng nhạc teen pop."[183]

Spears được biết đến với những màn trình diễn và những video ca nhạc mang tính biểu tượng.[184] Video ca nhạc cho đĩa đơn đầu tay của cô, "...Baby One More Time", đã được xếp hạng nhất trong chương trình Final Countdown của Total Request Live như là video ca nhạc mang tính biểu tượng nhất.[185] Tại Giải Video âm nhạc của MTV năm 2000, trước khi trình diễn "Oops!... I Did It Again", nữ ca sĩ xuất hiện phía sau màn hình lớn, và bước xuống cầu thang xoắn ốc và bắt đầu trình diễn "(I Can't Get No) Satisfaction", mặc một bộ tuxedo.[186] Sau khi thực hiện một đoạn ngắn của bài hát, cô đã xé bỏ bộ tuxedo, để lộ bộ trang phục màu da gợi cảm.[187] Năm tiếp theo, Spears biểu diễn đĩa đơn "I'm a Slave 4 U". Jocelyn Vena của MTV đã tổng kết màn trình diễn, nói rằng, "mang trên mình một con trăn trắng và trườn quanh một khu vườn ẩm ướt - được bao quanh bởi các vũ công trong trang phục ngựa vằn và hổ - Spears đã tạo ra một trong những hình ảnh ấn tượng nhất trong lịch sử 27 năm của lễ trao giải."[188]

Cô cũng song ca "The Way You Make Me Feel" với ca sĩ nhạc pop Michael Jackson trong buổi hòa nhạc kỷ niệm 30 năm ca hát của ông vài ngày trước đó.[189] Tại buổi lễ khai mạc của Giải Video âm nhạc của MTV năm 2003 vào ngày 28 tháng 8 năm 2003, Spears tham gia trình diễn một tiết mục với Madonna, Christina Aguilera và Missy Elliott.[190] Trong màn trình diễn, Madonna đã hôn môi Spears và Aguilera trên sân khấu.[191] Nụ hôn giữa Spears và Madonna đã tạo nên những phản ứng mạnh mẽ từ giới truyền thông.[192] Màn trình diễn này được liệt kê bởi tạp chí Blender như là một trong 25 khoảnh khắc âm nhạc gợi cảm nhất trong lịch sử truyền hình.[193] MTV đã liệt kê nó như là khoảnh khắc mở màn số một trong lịch sử Giải Video âm nhạc của MTV.[194]

Barbara Ellen của The Observer đã viết: "Spears là một trong những ngôi sao nhạc thiếu niên 'già nhất' đã từng sản sinh, khi cô gần như lão làng nếu chỉ bàn về đam mê và khả năng làm chủ sân khấu. Nhiều người 19 tuổi thậm chí còn chưa bắt đầu làm việc, trong khi Britney, cựu thành viên của Mickey Mouse, là một cô gái có sức lan tỏa nhất trong các hiện tượng Mỹ - một đứa trẻ có nghề nghiệp toàn thời gian. Trong khi các cô gái khác đang treo poster lên tường, Britney đã trở thành tấm poster trên tường. Trong khi những đứa trẻ khác phát triển theo tốc độ riêng của họ, Britney đã phát triển với tốc độ của ngành công nghiệp giải trí cạnh tranh khốc liệt tại Mỹ."[195]

Spears đã được trích dẫn như là nguồn cảm hứng âm nhạc bởi nhiều nghệ sĩ đương đại. Nhân vật của Gwyneth Paltrow trong bộ phim năm 2010 Country Strong được lấy cảm hứng từ quá trình khủng hoảng trong cuộc sống của nữ ca sĩ. Theo đạo diễn của bộ phim Shana Fest, "đó là nơi bộ phim này bắt đầu, tôi đã nhìn thấy những gì đang diễn ra trên các phương tiện truyền thông liên quan tới Britney Spears. Tôi nghĩ rằng thật bi thảm khi chúng ta đối xử với những người đã cho chúng ta rất nhiều, và chúng ta rất thích xem họ gục ngã để gầy dựng lại họ, và rồi khiến họ gục ngã một lần nữa."[196] Nicki Minaj đã trích dẫn Spears như là nguồn cảm hứng chính cho sự nghiệp của cô, và bình luận, "thực tế là sự trở lại cô ấy với đầy sự nhiệt huyết đã tạo nên rất nhiều cảm hứng cho tôi, và nó truyền cảm hứng cho những phụ nữ trẻ và mọi người trên toàn thế giới. Rất nhiều người hâm mộ của tôi cảm thấy rằng họ là những người yếu thế và chưa bao giờ được xã hội chấp nhận chính con người họ, hoặc bị chê cười hay trêu chọc. Nhưng chỉ cần bạn là chính mình dù là bất cứ chuyện gì, mọi người có thể không thích bạn, mọi người không thể yêu bạn, nhưng họ sẽ phải tôn trọng bạn vào cuối ngày và sự tôn trọng đó là tất cả của vấn đề."[197]

Lana Del Rey nói: "Tôi không thực sự quan tâm đến hàng tá những nghệ sĩ nữ, nhưng có điều gì đó ở Britney đã thu hút tôi - cách cô ấy hát và cách cô ấy nhìn."[198] Del Rey cũng tiết lộ rằng video ca nhạc cho "Toxic" đã truyền nên cảm hứng cho cô.[199] Tại Giải Video âm nhạc của MTV năm 2011, Lady Gaga nói rằng Spears "đã dạy chúng tôi làm thế nào để không sợ hãi, và ngành công nghiệp sẽ không như thế này nếu không có cô ấy."[200] Gaga cũng trích dẫn Spears như là một nguồn cảm hứng, và gọi cô là "nghệ sĩ khiêu khích nhất trong thời đại của tôi".[201] Miley Cyrus đã liệt kê Spears như là nghệ sĩ có tầm ảnh hưởng lớn nhất với cô, và đề cập tên nữ ca sĩ trong bản hit của cô "Party in the U.S.A." (2009).[202][203] Những khủng hoảng trong đời sống cá nhân của Spears cũng được trích dẫn như là nguồn cảm hứng cho album 15 Minutes của Barry Manilow.[204]

Spears trình diễn vào ngày 5 tháng 3 năm 2009

Spears cũng đã ảnh hưởng đến nhiều nghệ sĩ đương đại khác, bao gồm Katy Perry,[205] Meghan Trainor,[206] Demi Lovato,[205] Kelly Key,[207] Kristinia DeBarge,[208] Little Boots,[209] Charli XCX,[210] Marina and the Diamonds,[211] Tegan and Sara,[212] Pixie Lott,[213] Grimes,[214] Selena Gomez,[215] Hailee Steinfeld,[216] Tinashe,[217] Victoria Justice,[218] Cassie,[219]The Saturdays.[220] Fergie của The Black Eyed Peas tiết lộ với The Hollywood Reporter rằng cô cảm thấy vui với sự trở lại của Spears trong ngành công nghiệp âm nhạc và tiếp tục, "Thật là tuyệt vời, trong nhiều năm hoạt động, và với mọi thứ cô ấy đã trải qua, thật tuyệt vời khi thấy cô ấy thực hiện một sự trở lại khổng lồ này. Thực sự, đó là một điều tuyệt vời."[221] Simon Cowell giải thích rằng anh "bị cuốn hút bởi [Britney]. Thực tế cô là một trong những người được bàn luận nhiều nhất - không chỉ các ngôi sao nhạc pop - mà còn cả thế giới hiện nay, có nghĩa là bạn đã có được ngôi sao quyền lực này. [...] Cô ấy vẫn nổi tiếng, cô ấy vẫn đạt được những thành tích và cô ấy vẫn còn tranh cãi, và có một lý do cho điều đó."[222] Jessica JungHyoyeon của nhóm nhạc nữ Hàn Quốc Girls' Generation cũng được so sánh với Spears, do mái tóc vàng của họ và khả năng của Hyoyeon như là một vũ công.[223]

Marina and the Diamonds đã gọi Spears là nguồn cảm hứng chính cho album của cô Electra Heart, nói rằng "Tôi nghĩ rằng mọi người đang nghĩ tôi đã đùa về việc này trong một thời gian dài. Nhưng khi tôi còn là thiếu niên, có một mối liên hệ thực sự với cô gái ngọt ngào này, người cũng có khía cạnh về tình dục mà mọi người không thực sự muốn chấp nhận [...] Britney thực sự rất thông minh."[224] Diamandis cũng tiết lộ rằng Spears là người có ảnh hưởng chính đến cô khi nói đến nền văn hoá đại chúng và Spears là một trong những người cô mong ước được trở thành khi lớn lên.[225]

Spears đã có tầm ảnh hưởng trực tiếp đến những tác phẩm của ca sĩ Porcelain Black sau khi âm nhạc của Spears tác động đến cô khi còn nhỏ. Black mô tả âm nhạc của cô như là "một đứa trẻ xuất phát từ mối tình" giữa Marilyn Manson và Spears.[226] Bebo Norman đã viết một bài hát về Spears, được gọi là "Britney", được phát hành dưới dạng đĩa đơn. Ban nhạc nam Busted cũng đã viết một bài hát về Spears mang tên "Britney", nằm trong album đầu tay của họ. Nữ ca sĩ Hàn Quốc, BoA cũng đã thể hiện tình yêu và tầm ảnh hưởng của Spears đối với cô. Họ gặp gỡ nhau lần đầu tiên vào năm 2003, khi Spears đang quảng bá cho In The Zone, và Spears đã viết lời cho bài hát "Look Who's Talking" trích từ album tiếng Anh đầu tay mang chính tên của BoA. Phiên bản được trình bày bởi Spears đã bị rò rỉ vào năm 2012.[227] Spears cũng thường xuyên tham gia vào Ngày tinh thần để chống lại việc bắt nạt giới trẻ LGBTQnạn bắt nạt.[228]

Tạp chí People và MTV thông tin rằng vào ngày 1 tháng 10 năm 2008, Trường trung học John Philip Sousa của Bronx, đã đặt tên phòng thu âm nhạc của họ để tôn vinh Britney Spears.[229] Bản thân Spears cũng đã góp mặt trong buổi lễ và giành tặng 10.000 đô-la cho chương trình âm nhạc của trường.[230]

Thành tựu[sửa | sửa mã nguồn]

Cô được liệt kê bởi Sách Kỷ lục Guinness với việc sở hữu "Album bán chạy nhất của một nghệ sĩ hát đơn tuổi vị thành niên" khi album đầu tay của cô ...Baby One More Time đã bán được hơn 13 triệu bản tại Hoa Kỳ. Melissa Ruggieri của Richmond Times-Dispatch đã phát biểu: "Cô được ghi nhận là nghệ sĩ tuổi thiếu niên bán chạy nhất. Trước khi cô ấy tròn 20 tuổi vào năm 2001, Spears đã bán được hơn 37 triệu album trên toàn thế giới."[231] 'Britney Spears' là thuật ngữ được tìm kiếm nhiều nhất trên Yahoo! từ năm 2005 đến năm 2008, và đã đạt được vị trí này trong tổng cộng 7 năm khác nhau.[232] Cô đã được liệt kê là Người được tìm kiếm nhiều nhất trong Sách kỷ lục Guinness phiên bản năm 2007 và 2009.[233] Cô sau này được phong tặng là người được tìm kiếm nhiều nhất trong thập kỷ 2000-2009.[234]

Tính đến năm 2011, cô đã bán được hơn 100 triệu bản trên toàn thế giới, giúp cô trở thành một trong những nghệ sĩ âm nhạc bán chạy nhất mọi thời đại nếu chỉ dựa trên doanh số bán album.[235] Cô cũng xếp thứ 4 trong danh sách "50 Phụ nữ vĩ đại nhất của kỷ nguyên Video" của VH1, vượt qua hầu hết những nghệ sĩ đương thời và chỉ đứng sau những cái tên kỳ cựu như Madonna, Janet Jackson, và Whitney Houston.[236] Spears cũng được công nhận là nghệ sĩ nữ bán chạy nhất trong thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, cũng như xếp thứ 5 nếu xét tổng thể.[237] Tháng 12 năm 2009, tạp chí Billboard đã xếp Spears ở vị trí thứ 8 trong danh sách Nghệ sĩ của thập niên 2000 tại Hoa Kỳ.[238]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu diễn và hòa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Chuyến lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu diễn cư trú[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “RCA's Peter Edge, Tom Corson on the Shuttering of Jive, J and Arista”. Billboard.biz. Ngày 7 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2011. 
  2. ^ Folkard, Claire (2003). Sách Kỷ lục Guinness 2003. Bantam Books. Tr. 28. ISBN 978-0-553-58636-7.
  3. ^ a ă Serjeant, Jill (ngày 29 tháng 9 năm 2010). “Britney Spears praises "Glee" tribute”. Reuters (Thomson Reuters). Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2010. 
  4. ^ Ruggieri, Melissa (19 tháng 12 năm 2000). "Music Notes". Richmond Times-Dispatch: tr. D.13.
  5. ^ Susan Hopkins (2002), Girl Heroes: The New Force In Popular Culture, Đại học Michigan Press, tr. 60
  6. ^ http://www.billboard.com/articles/news/7350405/britney-spears-billboard-millenium-award-honoree
  7. ^ Bainwol, Mitch. “RIAA — Gold & Platinum”. Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2010. 
  8. ^ Grein, Paul (ngày 29 tháng 5 năm 2009). “Chart Watch Extra: The Top 20 Album Sellers Of The 2000s”. Yahoo! Music. Yahoo!. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2010. 
  9. ^ “Artists of the Decade”. Billboard. Nielsen Company. 2010. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2010. 
  10. ^ Schwarz, Hunter (6 tháng 11 năm 2014). “Finally, our elected officials are giving Britney Spears the respect she deserves”. The Washington Post. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015. 
  11. ^ Ask Billboard: Britney Spears's Career Sales | Billboard
  12. ^ “The Top 25 Teen Idol Breakout Moments – Britney Spears”. Rolling Stone. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  13. ^ Graham, Mark (13 tháng 2 năm 2012). “VH1's 100 Greatest Women In Music (Complete List)”. VH1. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2012. 
  14. ^ “Music's Sexiest Man & Woman: Poll Results”. Billboard. 12 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2012. 
  15. ^ “Celeb 100 FAQ: Yes, Britney Spears Really Made $64 Million Last Year. Here’s How. " The Biz Blog”. Forbes. Ngày 1 tháng 7 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2010. [liên kết hỏng]
  16. ^ Spears & Craker 2008, tr. 211
  17. ^ Spears & Craker 2008, tr. 56
  18. ^ a ă â b c Daly, Steven (15 tháng 4 năm 1999). “Cover Story: Britney Spears: Britney Spears: Rolling Stone”. Rolling Stone. ISSN 0035-791X. 
  19. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Reporter, Staff (31 tháng 7 năm 2008). “Britney Spears' Biography”. Fox News Channel. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  20. ^ Spears & Craker 2008, tr. 75
  21. ^ Laufenberg 2005, tr. 616
  22. ^ Mundy, Chris (25 tháng 5 năm 2000). “Cover Story: The Girl Can't Help It”. Rolling Stone. ISSN 0035-791X. 
  23. ^ a ă Hughes 2005, tr. 145
  24. ^ Taylor, Chuck (24 tháng 10 năm 1998). “Air Waves: Jive's Britney Spears Sets Top 40 Abuzz With Rhythm-Leaning 'Baby One More Time'. Billboard 110 (43). ISSN 0006-2510. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2011. 
  25. ^ a ă Hughes 2005, tr. 147
  26. ^ Blandford 2002, tr. 28
  27. ^ “Britney Spears, Teen Queen: Rolling Stone's 1999 Cover Story”. Rolling Stone. 2011. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2010. 
  28. ^ Blandford 2002, tr. 30
  29. ^ Blandford 2002, tr. 29
  30. ^ Bronson 2003, tr. 377
  31. ^ “Rock On The Net: 42nd Annual Grammy Awards – 2000”. National Academy of Recording Arts and Sciences. RockOntheNet.com. 2010. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2010. 
  32. ^ “Record-Breakers and Trivia”. Everyhit.com. 2010. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2010. 
  33. ^ “Best Selling Singles Of All Time”. Everyhit.com. 2010. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2010. 
  34. ^ a ă “Britney Spears”. The Official Charts Company. 2010. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2010. 
  35. ^ Christina Aguilera Best New Artist Grammy - YouTube
  36. ^ Stevenson, Jane (10 tháng 7 năm 1999). “Spears takes aim at fame”. Jam!. Quebecor Inc. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2010. 
  37. ^ Blandford 2002, tr. 38
  38. ^ Skanse, Richard (25 tháng 5 năm 2000). “Oops!...She Sold 1.3 Million Albums: Britney Spears”. Rolling Stone. ISSN 0035-791X. 
  39. ^ Staff, Michael (20 tháng 5 năm 2010). “Oops! Week: 10 Fun Facts”. BritneySpears.com Brandcasting Unlimited. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2010.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  40. ^ “ultratop.be — Britney Spears — Oops!... I Did It Again:”. Ultratop. Hung Medien. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2010. 
  41. ^ Spears, Britney (9 tháng 5 năm 2000). Britney Spears' Heart to Heart (bằng tiếng Anh) . New York: Three Rivers Press. ISBN 9780609807019. 
  42. ^ a ă Montgomery, James (6 tháng 9 năm 2007). “Britney Spears' Greatest VMA Hits: Barely There Costumes, Giant Snakes And A Scandalous Lip-Lock”. MTV. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2010. 
  43. ^ Moss, Corey (ngày 25 tháng 10 năm 2001). “Britney Says Britney Reflects Who Britney Is”. MTV. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2010. 
  44. ^ Britney sold over 12 million copies worldwide”. Live Nation. 2010. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2010. 
  45. ^ “ultratop.be — Britney Spears — Britney”. Ultratop. Hung Medien. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2010. 
  46. ^ “Rock On The Net: 45nd Annual Grammy Awards - 2001”. National Academy of Recording Arts and Sciences. RockOntheNet.com. 2010. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  47. ^ “The New Classics: Music”. Entertainment Weekly. 2010. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  48. ^ “ultratop.be — Britney Spears — I'm a Slave 4 U”. Ultratop. Hung Medien. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  49. ^ McHugh, Catherine (1 tháng 7 năm 2002). “Britney's Big Splash”. Live Design. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  50. ^ Singlerland, Amy L. (1 tháng 8 năm 2002). “Singin' in the Rain”. Live Design. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  51. ^ “McCartney Notches Year's Highest-Grossing Tour”. Billboard. Nielsen Company. 2002. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2010. 
  52. ^ “Forbes Celebrity 100 2002”. Forbes. 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  53. ^ “Crossroads Movie Reviews, Pictures — Rotten Tomatoes”. Rotten Tomatoes. Flixster. 2002. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  54. ^ “Crossroads Film Review — Crossroads Film Pictures, Crossroads Film Trailer”. View London. 2 View Group Ltd. 2 tháng 4 năm 2002. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  55. ^ a ă Hughes 2005, tr. 152
  56. ^ Moss, Corey (5 tháng 11 năm 2002). “Britney Spears' Hiatus Is History”. MTV. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  57. ^ “In The Zone reviews at Metacritic.com:”. Metacritic. 2003. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  58. ^ “The 50 Most Important Recordings: S-Z: NPR”. NPR.com. 16 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  59. ^ “ultratop.be — Britney Spears — In the Zone”. Ultratop. Hung Medien. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  60. ^ In the Zone sold over 10 million copies worldwide”. Live Nation. 2010. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2010. 
  61. ^ “Judge dissolves Britney's 'joke' wedding ”. NBCUniversal / Microsoft. Associated Press. 6 tháng 4 năm 2004. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2010. 
  62. ^ Vineyard, Jennifer (2 tháng 3 năm 2004). “Britney Checking Into Onyx Hotel Wearing Rubberlike Outfit”. MTV. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2009. 
  63. ^ Silverman, Stephen M. (16 tháng 6 năm 2004). “Britney Cancels Tour Due to Bad Knee”. People. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2009. 
  64. ^ Heller 2007, tr. 80
  65. ^ Vineyard, Jennifer (16 tháng 10 năm 2004). “Britney Spears Announces She's Taking A Break From Her Career”. MTV. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2010. 
  66. ^ Vineyard, Jennifer (13 tháng 8 năm 2004). “Britney Covers Bobby Brown's 'My Prerogative' For Forthcoming LP”. MTV. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2010. 
  67. ^ “Britney Spears — My Prerogative (song)”. Ultratop. Hung Medien. 2004. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2010. 
  68. ^ “UK Singles Chart”. Official Charts Company. aCharts. 7 tháng 3 năm 2005. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2010. 
  69. ^ “Britney Spears – Do Somethin' (song)”. UltratopHung Medien. 2005. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2010. 
  70. ^ “Biography – Sales”. Britney.com. Sony Music Entertainment. 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2010.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  71. ^ “Britney Welcomes Home Sean Preston”. People. 21 tháng 9 năm 2005. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2010. [liên kết hỏng]
  72. ^ Vineyard, Jennifer (6 tháng 10 năm 2010). “Surprise: Britney's Releasing An Album In Just Two Weeks”. MTV. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2005. 
  73. ^ Daniel, Mike (6 tháng 11 năm 2007). “Britney Spears' recordings find art imitating life”. Denton Record-Chronicle. A. H. Belo. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2011. [liên kết hỏng]
  74. ^ Thomas, Karen (6 tháng 10 năm 2010). “USATODAY.com — Britney maybe one more time”. USA Today. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2006. 
  75. ^ “Britney's Baby Name: Jayden James Federline — Britney Spears”. People. 24 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2010. [liên kết hỏng]
  76. ^ “Britney Spears Files for Divorce — Divorced, Britney Spears, Kevin Federline”. People. 7 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2010. 
  77. ^ Hall, Sarah (30 tháng 7 năm 2007). “Britney, Kevin Back to Being Single — E! Online”. E!. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2010. 
  78. ^ Marikar, Sheila (19 tháng 2 năm 2007). “Bald and Broken: Inside Britney's Shaved Head ”. ABC News. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2010. 
  79. ^ Van Horn, Teri (2 tháng 5 năm 2007). “Britney's Back! Spears Returns To The Stage With Five-Song Dirty Dance Party”. MTV. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2010.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  80. ^ “Spears will lose custody of children”. CNN. 2 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2010. 
  81. ^ “Britney Spears Debuts No. 1 on European Albums Chart and Debuts No. 1 on...”. PR Newswire. 8 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2010. 
  82. ^ Petridis, Alexis (28 tháng 11 năm 2008). “CD review: Britney Spears: Circus”. The Guardian. UK. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2010. 
  83. ^ Robinson, Peter (11 tháng 11 năm 2007). “CDs: Britney Spears, Blackout and Kylie Minogue, X”. The Observer. UK. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2010. 
  84. ^ Lyons, Bev; Sutherland, Laura (7 tháng 11 năm 2008). “Britney Spears seals comeback with two gongs at MTV Europe Music Awards ”. Daily Record. Scotland. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2010. 
  85. ^ Asthana, Anushka (21 tháng 11 năm 2009). “The 100 best pop albums of the Noughties ”. The Times. UK. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2010. 
  86. ^ Willis, David (10 tháng 9 năm 2007). “Britney's MTV comeback falls flat”. BBC. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2010. 
  87. ^ “Canada Singles Top 100”. Billboard. acharts.us. 13 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010. 
  88. ^ a ă “Britney Spears – Gimme More (song)”. Ultratop. Hung Medien. 2007. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010. 
  89. ^ “Australian Singles Chart”. acharts.us. 1 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2010. 
  90. ^ “UK Singles Chart”. The Official Charts Company. 23 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2010. 
  91. ^ “Britney Spears – Piece of Me(song)”. Ultratop 50. Hung Medien. 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2010.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  92. ^ McKay, Holly (28 tháng 10 năm 2008). “Britney Spears Under Permanent Conservatorship”. Fox News Channel. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2014. 
  93. ^ Hinckley, D. (25 tháng 3 năm 2008). “Britney Spears begins rehab of image with wacky cameo on CBS sitcom”. Daily News. New York. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2010. 
  94. ^ Hibberd, James (25 tháng 3 năm 2008). “Spears delivers 'Mother's' highest ratings”. The Hollywood Reporter. e5 Global Media. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2010.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  95. ^ Lee, Ken (18 tháng 7 năm 2008). “It's Over: Britney & Kevin Reach a Custody Settlement — Scandals & Feuds, Britney Spears, Kevin Federline”. People. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2010. 
  96. ^ “Highlights, Winners, Performers and Photos from the 2008 MTV Video Music Awards”. MTV. 2008. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2010. 
  97. ^ Vena, Jocelyn (9 tháng 10 năm 2008). “Britney Spears 'Sets The Record Straight' In Documentary Airing November 30 On MTV”. MTV. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2011. 
  98. ^ "Britney: For the Record" scores staggering 3.54 P12–34 rating in Sunday debut on MTVh”. MTV. 2 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2011. [liên kết hỏng]
  99. ^ “Circus reviews at Metacritic.com”. Metacritic. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2010. 
  100. ^ a ă Hasty, Katie (10 tháng 12 năm 2008). “Britney's 'Circus' Debuts Atop Album Chart”. Billboard. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2010. 
  101. ^ “Britney Earns (Another) Guinness World Record”. Britney.com. 27 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2010.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  102. ^ Reporter, Staff (6 tháng 3 năm 2009). “#13 Britney Spears — The 2009 Celebrity 100”. Forbes. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2010. 
  103. ^ “Britney Spears' Singles Collection”. HMV Store Japan. 1 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2010. 
  104. ^ Reporter, Billboard (15 tháng 10 năm 2008). “Spears Scores Record-Setting Hot 100 Jump”. Billboard. Nielsen Company. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2010. 
  105. ^ “Britney Spears — Womanizer (song)”. Ultratop. Hung Medien. 2008. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2010. 
  106. ^ “Nominees list for the 52nd Grammy Awards”. Los Angeles Times. 2 tháng 12 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2009.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  107. ^ “2009 Year End Top 50 Worldwide Concert Tours” (PDF). Pollstar. 2010. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2010. 
  108. ^ Jordan, Julie (11 tháng 5 năm 2010). “Britney Spears and Jason Trawick Split – Professionally — Britney Spears”. People. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2010. 
  109. ^ Vena, Jocelyn (30 tháng 6 năm 2010). “Britney Spears To Design Clothing For Candie's”. MTV. MTV Networks. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2012. 
  110. ^ Porter, Rick (29 tháng 9 năm 2010). 'Glee' ratings: Britney is bigger than Madonna”. Zap2it. Tribune Media Services. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2010. 
  111. ^ Gorman, Bill (29 tháng 9 năm 2010). “Tuesday Finals: Glee, No Ordinary Family, NCIS, Dancing Up; Raising Hope, Detroit 1–8–7, Running Wilde Down”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2010. 
  112. ^ “Britney Spears Snares Sixth No. 1 on Billboard 200 with 'Femme Fatale'. Billboard. 14 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2011. 
  113. ^ “Adele, Katy Perry Rule Mid-Year SoundScan Charts”. Billboard. 6 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2011. 
  114. ^ “Britney Spears' 'Hold It Against Me' Single Premieres”. Billboard. 10 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2013. 
  115. ^ “Listen: Britney Spears, Nicki Minaj and Ke$ha's 'Till the World Ends' Remix.”. Billboard. 14 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2011. 
  116. ^ http://www.billboard.com/artist/302957/glynn+kerslake/chart
  117. ^ Copsey, Robert (31 tháng 10 năm 2011). “Britney Spears angers MPs over 'Criminal' video shoot”. Digital Spy. Hachette Filipacchi (UK) Ltd. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2011. 
  118. ^ Montgomery, James (26 tháng 9 năm 2011). “Britney Spears Responds To 'Criminal' Video Controversy”. MTV. MTV Networks. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2011. 
  119. ^ Vena, Jocelyn (11 tháng 4 năm 2011). “Rihanna Says Britney Spears' 'S&M' Remix 'Had To Be Major'. MTV. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2011. 
  120. ^ Trust, Gary (20 tháng 4 năm 2011). “Rihanna's 'S&M' Reigns on Hot 100, Lady Gaga's 'Judas' Debuts”. Billboard. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2011. 
  121. ^ “Best of 2011: The Artists”. Billboard. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2011. 
  122. ^ “Best of 2011: Billboard 200 Artists”. Billboard. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2011. 
  123. ^ “Best of 2011: Hot 100 Artists”. Billboard. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2011. 
  124. ^ Live Nation (12 tháng 4 năm 2011). “Pop Superstar Britney Spears Announces Special Guest Nicki Minaj to Join the Highly Anticipated All Female Femme Fatale Tour”. PR Newswire. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2011. 
  125. ^ “Top 100 North American Tours” (PDF). Pollstar. 30 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2011. 
  126. ^ “Britney Spears Wraps Femme Fatale Tour”. MTVdate=2011-12-12. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2011. 
  127. ^ “Britney Spears Live: The Femme Fatale Tour (2011)”. Amazon.com. 25 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2011. 
  128. ^ Mitchell, John (28 tháng 8 năm 2011). “Britney Spears Accepts Video Vanguard VMA – And A Kiss From Lady Gaga”. MTV. MTV Networks. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2011. 
  129. ^ Bain, Becky (9 tháng 9 năm 2011). “Britney Spears Reveals 'B In The Mix: The Remixes Vol. 2' Track Listing”. Idolator. Buzz Media. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2011. 
  130. ^ Vena, Jocelyn (19 tháng 12 năm 2011). “Britney Spears' Engagement Ring: How Does It Stack Up?”. MTV News. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2011. 
  131. ^ Eggenberger, Nicole (25 tháng 4 năm 2012). “Britney Spears' Fiance Jason Trawick Approved as Co-Conservator”. Us Weekly. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2013. 
  132. ^ Laudadio, Marisa (11 tháng 1 năm 2013). “Britney Spears and Jason Trawick Split”. People. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2013. 
  133. ^ “Britney Spears and Jason Trawick – SPLIT”. TMZ. 11 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2013. 
  134. ^ Bromley, Melanie (12 tháng 4 năm 2012). “Britney Spears Will Get Record $15 Million Payday to Be X Factor Judge”. E!. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2012. 
  135. ^ “Britney Spears Officially Leaving 'The X Factor'. ABC News. 11 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2013. 
  136. ^ Larkin, Mike (21 tháng 5 năm 2013). “Kelly Rowland and Paulina Rubio replace Britney Spears and L.A. Reid for new season of The X Factor”. Daily Mail. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2014. 
  137. ^ “Britney Spears Is Music's Top Earning Woman of 2012”. ABC News. 12 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2013. 
  138. ^ “Britney Spears begins work on eighth studio album – Music News”. Digital Spy. 12 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2013. 
  139. ^ Lipshutz, Jason (1 tháng 5 năm 2013). “Will.i.am Executive Producing New Britney Spears Album”. Billboard. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2013. 
  140. ^ Williott, Carl (17 tháng 9 năm 2013). “Britney Spears Announces 2-Year 'Piece Of Me' Vegas Residency, December 3 Album Release”. Idolator. Buzz Media. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2013. 
  141. ^ “Britney Spears: Las Vegas Show Will Be 'A Massive Party From Start To Finish'. Billboard. 8 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2013. 
  142. ^ Joannou, Andy (15 tháng 10 năm 2013). “Britney Spears names new album 'Britney Jean'. Digital Spy. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2013. 
  143. ^ “Britney Spears' Album Release Date Announced As Dec. 3 On 'Good Morning America'. The Huffington Post. 17 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2013. 
  144. ^ Christman, Ed (23 tháng 8 năm 2011). “RCA's New Executive Team Named Under CEO Peter Edge Amid Layoffs”. Billboard. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2011. 
  145. ^ “Daily B: Britney's Record Deal is Ready to Be Renewed And Everyone Wants A Piece of B”. MuuMuse. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2013. 
  146. ^ Jake Pearlman (25 tháng 11 năm 2013). “Britney Spears' new album 'Britney Jean' now streaming on iTunes”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2013. 
  147. ^ Gil Kaufman (11 tháng 12 năm 2013). “Britney Spears Has Lowest Chart Debut With Britney Jean”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2013. 
  148. ^ “You Better Work, Britney: 'Britney Jean' Debuts at No. 34 in UK”. The Honesty Hour. 8 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2013. 
  149. ^ “Britney Spears Debuts 'Work Bitch' Following Leak By 'One Bad Apple': Listen”. Billboard. 15 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2013. 
  150. ^ Grein, Paul (25 tháng 9 năm 2013). “Week Ending Sept. 22, 2013. Songs: The Brit Is Back”. Yahoo! Music. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2013. 
  151. ^ Lansky, Sam (25 tháng 10 năm 2013). “Britney Spears Unveils 'Britney Jean' Album Cover, Pens Emotional Letter To Fans”. Idolator.com. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2013. 
  152. ^ Busis, Hillary (3 tháng 11 năm 2013). “Britney Spears spritzes fans with new single 'Perfume' – LISTEN”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2013. 
  153. ^ "Britney Spears Album & Song Chart History" Billboard Hot 100 for Britney Spears.”. Billboard. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2013. 
  154. ^ “Chart Highlights: Johnny Mathis Scores 50th Adult Contemporary Hit”. Billboard. 18 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 
  155. ^ “Britney Spears Records New Song For 'Smurfs 2' Soundtrack”. Billboard. 17 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2013. 
  156. ^ “Miley Cyrus Reveals 'Bangerz' Tracklist as 'Wrecking Ball' Breaks VEVO Record”. Billboard. 10 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2013. 
  157. ^ “People's Choice Awards 2014 Nominees”. PeoplesChoice.com. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2014. 
  158. ^ Barker, Andrew. “Britney Spears: Popstar Directs Clear Vision of Her Billion-Dollar Empire”. Variety. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2014. 
  159. ^ [1]
  160. ^ Rigby, Sam (25 tháng 9 năm 2014). “Britney Spears confirms 2-year Las Vegas residency extension”. Digital Spy. Hearst Corporation. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2014. 
  161. ^ Corner, Lewis (25 tháng 3 năm 2015). “Britney Spears dates new single 'Pretty Girls' for May”. Digital Spy. United Kingdom: Hearst Corporation. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2015. 
  162. ^ O'Donnell, Kevin (17 tháng 5 năm 2015). “Britney Spears & Iggy Azalea perform 'Pretty Girls' live for the first time at Billboard Music Awards”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2015. 
  163. ^ “Disco Godfather Giorgio Moroder Goes Back to the Future on Déjà Vu”. Vulture. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015. 
  164. ^ “Giorgio Moroder: Britney Spears "did a good job" with collab”. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015. 
  165. ^ “EDM Godfather Giorgio Moroder Raves About Recording With Britney Spears: 'She Sounds So Good'. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015. 
  166. ^ “Britney Spears wins Teen Choice Award 2015 choice style icon, shows off cleavage in plunging dress”. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2015. 
  167. ^ “Britney Spears Is Ruffling Feathers in This 'Jane The Virgin' Promo”. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2015. 
  168. ^ “Oops she did it again! Britney Spears dances a Toxic jig with Gina Rodriguez in special Jane The Virgin appearance”. DailyMail. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2015. 
  169. ^ “Britney Spears Confirms She's 'Working Hard' on a New Album”. Billboard. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2015. 
  170. ^ http://www.usatoday.com/story/life/entertainthis/2016/03/02/britney-spears-on-3-covers-for-v-magazines-100th-issue/81199372/
  171. ^ http://www.vmagazine.com/site/content/5587/v100-starring-britney-spears
  172. ^ “Britney Spears Helps You Chase the 'American Dream' in New Mobile Game”. Billboard. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2016. 
  173. ^ “Find Out When and Where Adele's New Video Will Debut”. E! Online (bằng tiếng en-US). Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2016. 
  174. ^ http://www.maxim.com/entertainment/daily-heat-index-britney-spears-billboard-music-awards-2016-5
  175. ^ “Britney Spears to receive Billboard Millennium Award”. USA TODAY. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2016. 
  176. ^ http://headlineplanet.com/home/2016/07/14/britney-spears-make-me-receiving-hourly-airplay-on-july-15-officially-impacts-july-19/
  177. ^ http://www.cnn.com/2016/08/16/entertainment/britney-spears-vma-performance/
  178. ^ http://www.huffingtonpost.com/entry/britney-spears-is-ready-to-make-history-at-the-vmas-9-years-after-disastrous-performance_us_57b33b2ae4b0863b0284f09a
  179. ^ Britney Spears Slays 2016 VMAs Performance With a Surprise From G-Eazy | E! News
  180. ^ Britney Spears praises sons for helping her beat crippling anxiety | Daily Mail Online
  181. ^ Slattery, Ryan (17 tháng 11 năm 2016). Glory: With A New Album And A Record-Breaking Hit Show In Las Vegas, Britney Spears Finds Her Energy And Her Peace”. Las Vegas Blog. United States: Caesar Palace. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2016. 
  182. ^ “People's Choice Awards 2017: See the Full List of Winners”. Billboard. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2017. 
  183. ^ “Britney Spears: Biography: Rolling Stone”. Rolling Stone. 2008. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2008. 
  184. ^ Graham, Mark; George, Kat (2 tháng 12 năm 2011). “The 30 Greatest Britney Spears Songs (In Honor Of Her 30th Birthday)”. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012. 
  185. ^ Lloyd, Robert (17 tháng 11 năm 2008). “Show Tracker”. Los Angeles Times. 
  186. ^ Basham, David (7 tháng 9 năm 2000). “Britney, Eminem, 'NSYNC Get Wild, Weird For VMA Sets”. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2011. 
  187. ^ “MTV Video Music Awards of 2000”. 6 tháng 9 năm 2000. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2011. 
  188. ^ Vena, Jocelyn (25 tháng 8 năm 2011). “Britney Spears' Iconic VMA History: Snakes, Stripteases And Smooches”. MTV. MTV Networks. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012. 
  189. ^ Aswad, Jen (26 tháng 6 năm 2009). “Britney Spears On Michael Jackson's Death: 'I'm Devastated'. MTV. MTV Networks. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012. 
  190. ^ Moss, Corey (23 tháng 8 năm 2003). “Madonna Smooches With Britney And Christina; Justin, Coldplay Win Big At VMAs”. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2009. 
  191. ^ “MTV VMA 2003 highlights – Madonna performance video”. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009. 
  192. ^ Paglia, Camille (8 tháng 12 năm 2006). “Camille Paglia says Madonna Gave Britney the 'Kiss of Death'. Us Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2009.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  193. ^ Collis, Jonah; Weiner (15 tháng 2 năm 2004). “The 25 Sexiest Music Moments in TV History!”. Blender. ISSN 1534-0554. 
  194. ^ Vera, Jocelyn (24 tháng 8 năm 2008). “The Top 10 Opening Moments In VMA History: From Madonna To The Present”. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2009. 
  195. ^ Ellen, Barbara (10 tháng 12 năm 2000). “Comment: Britney Spears: Growing up is hard to do: America's apple- pie cheerleader is feeling the pressure as she tries to break free from her clean teen image. So is it all proving too much for Britney Inc, as she pulls out of tonight's Smash Hits Poll Winners' party and takes to her bed: The Observer Profile: Britney Spears”. The Observer. tr. 27. ISSN 0029-7712. 
  196. ^ Ziegbe, Mawuse (16 tháng 12 năm 2010). “Britney Spears Inspired 'Country Strong' Lead, Director Says”. MTV. MTV Networks. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012. 
  197. ^ Michelson, Noah (5 tháng 9 năm 2011). “Catching Up With Nicki Minaj”. Out. Joe Landry. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012. 
  198. ^ Kaufman, Gil (2 tháng 2 năm 2012). “Lana Del Rey 'Compelled' By Britney Spears”. MTV. MTV Networks. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2012. 
  199. ^ Anitai, Tamar (11 tháng 1 năm 2012). “Lana Del Rey Visits MTV, Talks Britney & Bruce, We All Collectively Fall In Love Even Harder (PHOTO)”. MTV. MTV Networks. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2012. 
  200. ^ “Britney Spears Accepts Video Vanguard VMA – And A Kiss From Lady Gaga”. MTV. MTV Networks. 28 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012. 
  201. ^ “Lady GaGa: I don't have time for dating”. Now. 9 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2015. 
  202. ^ Vena, Jocelyn (11 tháng 8 năm 2009). “Miley Cyrus On Britney Spears: 'I'm Proud Of Her'. MTV. MTV Networks. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010. 
  203. ^ “Miley Cyrus — Party in the USA — Review of Party in the USA by Miley Cyrus”. About.com. Rovi Corporation. 19 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010. 
  204. ^ Lacher, Irene (5 tháng 6 năm 2011). “The Sunday Conversation: Barry Manilow”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2011. 
  205. ^ a ă Boyce, Shannon (1 tháng 9 năm 2011). “SHE DID IT AGAIN: BRITNEY SPEARS LANDS BACK ON TOP”. Young Hollywood. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  206. ^ Copsey, Rob (19 tháng 4 năm 2016). “Meghan Trainor talks new album Thank You, Grammys backlash and working with her mum - Interview”. The Official UK Charts Company. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2016. 
  207. ^ “Kelly Key busca o sucesso de Christina Aguilera, Jennifer Lopez, Britney Spears, Madonna e Janet Jackson”. Universo Musical. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2012. 
  208. ^ “Kristinia DeBarge — Rhapsody Music”. Rhapsody.com. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010. 
  209. ^ “Artist to Watch 2009: Little Boots: Little Boots”. Rolling Stone. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010. 
  210. ^ Van Nguyen, Dean (12 tháng 9 năm 2014). “Charli XCX reveals she would 'love' to write a song with Britney Spears”. NME. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015. 
  211. ^ Crowley, Gary (9 tháng 6 năm 2009). “Marina and The Diamonds in the BBC Introducing hotseat”. BBC Music. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2012. 
  212. ^ Daniels, Colin (15 tháng 1 năm 2013). “Tegan and Sara unveil new song 'I Was a Fool' - listen”. Digital Spy. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2016. 
  213. ^ Lott, Pixie (27 tháng 8 năm 2009). “Pixie Lott's diary: 'After the single hit No 1, it went crazy'. The Guardian. UK. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010. 
  214. ^ Sanneh, Kelefa (28 tháng 9 năm 2015). “Pop for Misfits”. The New Yorker. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2016. 
  215. ^ Gomez, Selena (7 tháng 5 năm 2013). “Selena Gomez's Evolution Mirrors Britney Spears'. USA: MTV. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014. 
  216. ^ Vain, Madison (26 tháng 7 năm 2016). “How Justin Bieber and Britney Spears inspired Hailee Steinfeld's tour”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2016. 
  217. ^ “Tinashe Video Interview: On Bringing More Females Into the Mainstream & The Success of '2 On' - Billboard”. Billboard. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2016. 
  218. ^ Harp, Justin (13 tháng 12 năm 2010). “Victoria Justice 'reveals musical influences'. Digital Spy. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2015. 
  219. ^ “Cassie Ventura Profile and Biography”. Celebrity Days. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2013. 
  220. ^ King, Mollie (tháng 5 năm 2010). “The Saturdays influences”. The Saturdays official website. London. 
  221. ^ Halperin, Shirley (22 tháng 5 năm 2011). “Billboard Music Awards: Fergie Expresses Support for Britney Spears”. The Hollywood Reporter. Lynne Segall. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012. 
  222. ^ Blickley, Leigh (28 tháng 2 năm 2012). “Simon Cowell Wants Britney Spears on 'The X Factor': "I'm Fascinated By Her". OK!. Northern & Shell. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2012. 
  223. ^ “Girls' Generation's Hyoyeon Is Getting Prettier by the Day”. soompi.com. 3 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. 
  224. ^ Michelson, Noah (21 tháng 8 năm 2012). “Marina And The Diamonds Chats About 'Electra Heart,' Britney Spears, Lady Gaga And More”. The Huffington Post. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2012. 
  225. ^ Stern, Bradley (27 tháng 4 năm 2012). “DAILY B: MARINA AND THE DIAMONDS TALKS BRITNEY TO Q MAGAZINE”. muumuse.com. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2012. 
  226. ^ Kennedy, Gerrick. “Porcelain Black knows she's rock and roll, and doesn't care who says otherwise”. Pop & Hiss: The L.A. Times music blog. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2011. 
  227. ^ “BoA's profile” (bằng tiếng Nhật). Avex Marketing Inc. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2008. [liên kết hỏng]
  228. ^ #SpiritDay 2016: Entertainers, Performers and Celebrities | GLAAD
  229. ^ “Britney Spears Gets Bronx Middle School Music Studio Named In Her Honor”. MTV. 2 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010. 
  230. ^ Bartolomeo, Joey (1 tháng 10 năm 2008). “Britney Spears Goes Back to School – for a Cause”. People. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010. 
  231. ^ Ruggieri, Melissa (19 tháng 12 năm 2000). “Music Notes”. Richmond Times-Dispatch. tr. D.13. 
  232. ^ “Britney Spears Tops Yahoo Searches”. NBC Washington. 1 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2012. 
  233. ^ “Angelina, Brad & Britney Set Guinness World Records”. NBC Chicago. 15 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012. 
  234. ^ Lynch, Gerald (21 tháng 12 năm 2009). “Britney Spears is the most searched for celebrity of the decade”. techdigest.tv. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2012. 
  235. ^ Moodie, Clemmie (3 tháng 11 năm 2011). “Britney Spears pictured backstage at Rock Of Ages with Shane Ward”. Daily Mirror. UK. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2012. 
  236. ^ “The Greatest: 50 Greatest Women of the Video Era”. VH1. MTV Networks. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2009. 
  237. ^ Grein, Paul (29 tháng 5 năm 2009). “Chart Watch Extra: The Top 20 Album Sellers Of The 2000s”. Yahoo! Music. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2010.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  238. ^ “Artists of the Decade”. Billboard. 2010. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2010. 

Tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]