Bước tới nội dung

Browning M1918

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
M1918 Browning Automatic Rifle
Súng trung liên M1918A2 BAR với giá chống 2 chân.
LoạiSúng máy hạng nhẹ
Súng trường tự động
Nơi chế tạo Hoa Kỳ
Lược sử hoạt động
Phục vụ1918 - 1973 (Hoa Kỳ)
1928 - 1999 (các nước khác)
Sử dụng bởiXem Các quốc gia sử dụng
TrậnChiến tranh thế giới thứ nhất (cuối cuộc chiến)
Chiến tranh thế giới thứ hai
Chiến tranh Triều Tiên
Chiến tranh Đông Dương
Chiến tranh Việt Nam
Nội chiến Trung Quốc
Chiến tranh Trung-Nhật
Sự kiện Vịnh Con Lợn
Nội chiến Campuchia
Cách mạng Cuba
Chiến tranh Việt Nam-Campuchia
Chiến tranh biên giới Lào-Thái Lan
Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979
Lược sử chế tạo
Người thiết kếJohn Browning
Năm thiết kế1917
Nhà sản xuấtColt's Patent Firearms Manufacturing Company (Mỹ)
Winchester Repeating Arms Company (Mỹ)
Marlin-Rockwell Corporation (Mỹ)
New England Small Arms (Mỹ)
Carl Gustafs Stads Gevärsfaktori (Thụy Điển)
Państwowa Fabryka Karabinów (Ba Lan)
FN Herstal (Bỉ)
Giai đoạn sản xuất19181945
Số lượng chế tạo351.679 khẩu
Các biến thểM1918 BAR
M1918A1 BAR
M1918A2 BAR
M1922
Colt Monitor
Browning wz. 1928
FN Mle 1930 D "BAR"
Kg m/21, m/37
Thông số
Khối lượng7,25kg (M1918)
6.0 kg (Colt Monitor)
11kg (M1922)
8.4kg (M1918A1)
8.8kg (M1918A2)
9.0kg (Browning wz 1928)
Chiều dài1,194 mm (47.0 in) M1918, M1918A1 và M1922
1,215 mm (47,8 in) M1918A2
1,110 mm (43,7 in) Browning wz 1928

Đạn.30-06 Springfield (Mỹ)
7.65x53mm (Bỉ)
7.92x57mm Mauser (Ba Lan)
6.5x55mm (Thụy Điển)
7.62x51mm NATO (Phiên bản BAR phục vụ trong biên chế của quân đội Mỹ từ sau năm 1953)
Cơ cấu hoạt độngTrích khí
Tốc độ bắn600-755 viên/phút
Sơ tốc đầu nòng860 m/giây
Tầm bắn hiệu quả1300 mét
Tầm bắn xa nhất4100 m
Chế độ nạpBăng đạn 20 viên
Ngắm bắnĐiểm ruồithước ngắm

M1918 Browning Automatic Rifle là loại súng trường tự độngsúng máy hạng nhẹ được sử dụng bởi Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác nhau trong suốt thế kỷ 20. Đây là một trong những sản phẩm được biết đến nhiều nhất của nhà thiết kế John Browning.

Mặc dù tên của nó là M1918 "Browning Automatic Rifle" (Súng trường tự động Browning) nhưng trên thực tế nó lại là súng máy hạng nhẹ (trung liên). M1918 Browning Automatic Rifle được quân đội Mỹ gọi bằng cái tên khác ngắn gọn hơn là M1918 BAR (hay BAR). Khẩu BAR có nhiều biến thế khác nhau, nhưng nổi tiếng nhất trong số chúng là 2 biến thể M1918 và M1918A2.

Khẩu BAR được thiết kế để người lính có thể vừa bắn vừa di chuyển (trong tiếng Anh nó được gọi là "walking fire"), lúc đó được cho là cần thiết trong chiến tranh chiến hào.[1] Nhưng trên thực tế Quân đội Hoa Kỳ đã sử dụng BAR như một loại súng máy hạng nhẹ, thường được bắn và sử dụng chân chống (các biến thể sau năm 1938 cũng đã được trang bị chân chống).

Lịch sử hoạt động

[sửa | sửa mã nguồn]

Thế chiến 1

[sửa | sửa mã nguồn]

Xuất hiện lần đầu vào tháng 9 năm 1918, thời điểm chỉ còn 2 tháng nữa là cuộc chiến kết thúc nhưng khẩu BAR đóng một vai trò không nhỏ trong việc làm nên chiến thắng của Quân đội Hoa Kỳ trong trận Meuse-Argonne tàn khốc. Sau khi cuộc chiến này kết thúc, Quân đội Pháp đã mua 15,000 khẩu súng này từ Mỹ để thay thế cho 2 mẫu súng máy hạng nhẹ M1909 Benet-Merciè và M1915 Chauchat đã lỗi thời.

Thế chiến 2

[sửa | sửa mã nguồn]

Đến năm 1938, Quân đội Mỹ đã tiến hành chuyển đổi BAR từ một khẩu súng trường tự động thành một khẩu súng máy hạng nhẹ. Phiên bản mới này được gọi là M1918A2 BAR. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai thì khẩu BAR được nhìn thấy sử dụng hết sức rộng rãi với vai trò là súng máy hạng nhẹ tiêu chuẩn cấp tiểu đội, chuyên dùng để yểm trợ hỏa lực hạng nhẹ cho bộ binh, lính thủy đánh bộ và lính dù Mỹ tiêu diệt đối phương. Nó được khen ngợi vì tốc độ bắn cao, dễ cơ động, bắn chính xác... Nhưng nhược điểm của nó là băng đạn chỉ có 20 viên, quá ít với một khẩu súng máy hạng nhẹ (để so sánh, khẩu Bren của Anh mang được băng đạn 30 viên, khẩu Degtyarov DP của Liên Xô mang được trống đạn 47 viên), khiến xạ thủ phải dừng bắn liên tục để thay băng đạn. Trong trận đánh ác liệt thì đây là mối nguy rất lớn cho xạ thủ.

Chiến tranh Triều Tiên

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Chiến tranh Triều Tiên, những khẩu BAR cùng với rất nhiều loại vũ khí khác được Hoa Kỳ hỗ trợ cho đồng minh Hàn Quốc dưới dạng viện trợ quân sự. Khẩu BAR giúp Quốc quân Đại Hàn Dân QuốcQuân đội Hoa Kỳ chống lại chiến thuật biển người của Quân đội Nhân dân Triều TiênChí nguyện quân Trung Quốc trong cuộc chiến này. Nó được lính Hàn Quốc khen ngợi là: "Những người bạn đồng hành ăn ý nhất của quân đội chúng ta".

Chiến tranh Việt Nam

[sửa | sửa mã nguồn]

BAR vẫn được sử dụng trong giai đoạn đầu của Chiến tranh Việt Nam, khi Hoa Kỳ chuyển giao một số lượng vũ khí từ thời Thế chiến 2 của nước này cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Từ sau năm 1967, nó dần bị thay thế bằng súng máy M60. Một số khẩu BAR bị Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tịch thu và sử dụng.

Sau chiến tranh Việt Nam

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc thì khẩu BAR vẫn còn nhìn thấy được sử dụng mãi cho đến tận những năm cuối thập niên 1990 thì mới bị loại bỏ hoàn toàn khỏi biên chế của các quân đội khác nhau trên toàn thế giới.

Ảnh hưởng

[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh hưởng của khẩu BAR lên các thiết kế súng khác nhau trên toàn thế giới là rất lớn. Ví dụ như ZB vz. 26 (của Tiệp Khắc), Chatellerault FM 24/29 (của Pháp), hay là khẩu M240 (khẩu M240 có cơ chế điểm hỏa viên đạn tham khảo từ khẩu BAR), súng trường tiến công HCAR (Heavy Counter Assault Rifle) - phiên bản BAR do hãng vũ khí Ohio Ordance hiện đại hóa,...

Các quốc gia sử dụng

[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ "HyperWar: The Machine Gun". www.ibiblio.org. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2025.
  2. ^ "THE COLT MONITOR B.A.R. - Small Arms Review" (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 12 năm 2004. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2025.
  3. ^ a b c Smith, W. H. B. (Walter Harold Black); Smith, Joseph Edward (1969). Small arms of the world; a basic manual of small arms. Internet Archive. Harrisburg, Pa., Stackpole Books. ISBN 978-0-8117-1566-9.
  4. ^ a b c d e f g h i j k Jr, Robert R. Hodges (ngày 20 tháng 4 năm 2012). The Browning Automatic Rifle (bằng tiếng Anh). Bloomsbury Publishing. ISBN 978-1-78096-410-2.
  5. ^ Maximiano, Cesar Campiani; Neto, Ricardo Bonalume (ngày 20 tháng 12 năm 2011). Brazilian Expeditionary Force in World War II (bằng tiếng Anh). Bloomsbury Publishing. ISBN 978-1-78096-285-6.
  6. ^ "THE BAR IN VIETNAM: LEGACY OF THE FRENCH - Small Arms Review" (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 6 năm 2002. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2025.
  7. ^ Russell Spurr (1988). Enter the dragon. Internet Archive. Newmarket Press. ISBN 978-1-55704-008-4.
  8. ^ "Wayback Machine" (PDF). apps.dtic.mil. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2025.
  9. ^ "Ethiopian .30-06, 7.62 × 51 mm & 7.92 × 57 mm cartridges - Armament Research Services (ARES)" (bằng tiếng Anh). ngày 30 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2025.
  10. ^ "Log in or sign up to view". www.facebook.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2025.
  11. ^ "https://twitter.com/jatosint/status/1364437571426607108". Twitter (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2025. {{Chú thích web}}: Liên kết ngoài trong |title= (trợ giúp)
  12. ^ Ministero della difesa italiano - 1955. Armi e mezzi in dotazione all'esercito italiano - 1955 (bằng tiếng Italian).{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  13. ^ "Wayback Machine" (PDF). medcmd.mil.kr. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2025.
  14. ^ KTV 아카이브 (ngày 13 tháng 11 năm 2016), 대한뉴스 제 551호-월남소식, truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2025
  15. ^ "Maritiem Digitaal NL". www.maritiemdigitaal.nl. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2025.
  16. ^ "Small arms of the Philippine Constabulary: from Moro to Japanese and back again! Part 2. - Free Online Library". www.thefreelibrary.com. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2025.
  17. ^ Quesada, Alejandro de (ngày 20 tháng 1 năm 2015). The Spanish Civil War 1936–39 (2): Republican Forces (bằng tiếng Anh). Bloomsbury Publishing. ISBN 978-1-78200-787-6.