Cá lóc Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cá lóc Việt Nam
Cá lóc Việt Nam ở tỉnh Long An.JPG
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Actinopterygii
Bộ (ordo) Perciformes
Họ (familia) Channidae
Chi (genus) Channa
Loài (species) C. maculata
Danh pháp hai phần
Channa maculata
(Lacépède, 1801) [1][2]
Danh pháp đồng nghĩa[3]
  • Ophicephalus guentheri Sauvage & Dabry de Thiersant, 1874
  • Ophicephalus tadianus Jordan & Evermann, 1902
  • Ophiocephalus marmoratus Brind, 1914

Cá lóc Việt Nam (Danh pháp khoa học: Channa maculata) hay còn gọi là cá quả Việt Nam hoặc cá quả ta, cá tràu ta hay cá lóc đồng là một loài cá nước ngọt trong họ Cá quả (cá tràu) phân bố ở miền Nam Trung Quốc và đặc biệt là Việt Nam, một số cá thể cá lóc ở Trung Quốc cũng được du nhập vào nhiều nơi khác nhau và bị coi là loài xâm lấn.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Cá lóc Việt Nam nhỏ, thân thuôn dài, có màu đen vàng, hoa đốm xanh, chúng nhìn nhanh nhẹn hơn, màu đen vàng, thân, đuôi thuôn dài, sờ vào chắc, đặc biệt loại cá bông lau có hoa văn màu vàng xanh[4]. Đầu của chúng bẹt so với thân, vảy tạo vân màu nâu xám xen lẫn với những chỗ màu xám nhạt, lưng có màu đen ánh nâu[5]. Cá lóc Việt Nam có con có màu hơi ngả vàng, bụng cá ít mỡ, thịt cá khi luộc chín thì thơm và dẻo[6] Cá còn có lưỡi giống như lưỡi lợn.

Chúng thuộc họ cá lóc Ophicephalidae. Họ cá lóc sống chủ yếu ở tầng đáy, phân bố ở hầu hết các ao hồ, sông suối ở Việt Nam. Cá lóc vùng Châu Đốc thì cá nhỏ sống từng bầy nổi theo mặt nước ăn bông cỏ hay các phiêu sinh vật nhỏ gọi chung tên là cá rồng rồng. Đến khi cá lóc lớn bằng ngón chân cái thì gọi là cá lóc con hoặc cá cò cũng; lớn cỡ cườm tay, cán mác thì dân quê gọi cá bằng cổ tay, cá bằng cán dao, cá bằng bắp chân , và cá lóc lớn với lớp vảy đen ngòm và có thêm cặp râu ở ngay miệng cá gọi là cá lóc cối, hoặc cá lóc biết nói.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Cá lóc Việt Nam có 03 loại, Cả ba loại trên đều có mình thuôn dài, đuôi dẹp[4]

  • Cá đầu nhím: Trong số chúng có loại cá lóc nhím, thuộc loại có da trơn, đầu giống rắn, mình và đuôi như con cá chạch, dài 1,14 m, nặng 4,2 kg. Có mỏ nhọn dài. Cá lóc đầu nhím được người nuôi ưa chuộng bởi thịt ngon, bán được giá, ít bị bệnh và dị tật. Cá lóc đầu nhím là con lai giữa lóc môi trề và lóc đen. Ngoài tự nhiên, cá phân bố ở nhiều loại thủy vực nước ngọt. Chúng là động vật ăn thịt, có tập tính bắt mồi nhưng trong điều kiện nuôi, cá quen dần việc ăn thức ăn tĩnh và ăn được nhiều loại thức ăn[7]
  • Cá lóc cá đầu vuông: Có đầu vuông mình to
  • Cá lóc bông: Có mình trắng sọc đen.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]