Cá nhà táng nhỏ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Cá nhà táng nhỏ
Pygmy sperm whale.jpg
Một con cá nhà táng nhỏ dạt bờ trên đảo Hutchinson, Florida
Pygmy sperm whale size.svg
Kích cỡ so sánh với của người trưởng thành
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Cetacea
Phân bộ (subordo) Odontoceti
Họ (familia) Kogiidae
Chi (genus) Kogia
Loài (species) K. breviceps
Danh pháp hai phần
Kogia breviceps
Blainville, 1838
Phạm vi phân bố của cá nhà táng nhỏ
Phạm vi phân bố của cá nhà táng nhỏ
Danh pháp đồng nghĩa
Euphysetes breviceps

Cá nhà táng nhỏ (Kogia breviceps) là một trong ba loài họ Kogiidae thuộc liên họ Cá nhà táng (Physeteroidea). Chúng ít khi được trông thấy trên biển, hầu hết những gì đã biết về chúng là nhờ nghiên cứu cá thể dạt bờ.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh minh hoạ thế kỷ 19.

Cá nhà táng nhỏ được nhà tự nhiên học Henri Marie Ducrotay de Blainville mô tả lần đầu năm 1838. Ông mô tả dựa trên đầu của một cá thể dạt trên bờ biển Audierne, Pháp năm 1784, mà sau đó được trưng bày ở Muséum d'histoire naturelle. Ông nhìn nhận rằng nó là một loài cá nhà táng, xếp nó vào chung chi với cá nhà táng thường (Physeter macrocephalus), dưới tên Physeter breviceps. Ông chú ý đến cái đầu nhỏ của nó, đặt nó cái tên "cachalot a tête courte"–cá nhà táng đầu bé; hơn nữa, tên loài breviceps trong tiếng Latinh có nghĩa là "đầu ngắn".[2] Năm 1846, nhà động vật học John Edward Gray dựng lên chi Kogia, và chuyển loài này qua đây với tên mới Kogia breviceps.[3]

Năm 1871, nhà động vật học Theodore Gill xếp cá nhà táng nhỏ và Euphysetes (nay là cá nhà táng lùn, Kogia sima) vào phân họ Kogiinae, còn cá nhà táng thường vào họ Physeterinae.[4] Hai phân họ này nay được nâng lên cấp họ.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Cá nhà táng nhỏ không to hơn là mấy so với nhiều loài cá heo. Chúng dài 1,2 m (3 ft 11 in) lúc mới sinh, đạt 3,5 m (11 ft) khi thành thục. Con trưởng thành nặng 400 kg (880 lb). Mặt bụng màu kem, đôi khi phớt hồng, mặt lưng và hai mặt bên màu xám xanh. Đầu lớn khi so với kích thước cơ thể, gần như mang cảm giác bị phồng lên khi nhìn ngang. Một vệt trăng trắng, có khi gọi là "mang giả", nằm ở phía sau mắt.[5][6]

Hàm dưới nhỏ. Lỗ thở hơi chếch về bên trái nếu nhìn từ trên. Vây lưng rất nhỏ, và cong.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Taylor, B.L.; Baird, R.; Barlow, J.; Dawson, S.M.; Ford, J.K.B.; Mead, J.G.; Notarbartolo di Sciara, G.; Wade, P.; Pitman, R.L. (2012). Kogia breviceps. The IUCN Red List of Threatened Species (IUCN) 2012: e.T11047A17692192. doi:10.2305/IUCN.UK.2012.RLTS.T11047A17692192.en. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2018. 
  2. ^ de Blainville, M. H. (1838). “Sur les Cachalot” [On the Sperm Whales]. Annales Francaises et Etrangères d'Anatomie et de Physiologie (bằng tiếng French) 2: 335–337. 
  3. ^ Gray, J. E. (1846). “Zoology of the Voyage of H. M. S. Erebus & Terror Under the Command of Captain Sir James Clark Ross, R. N., F. R. S., During the Years 1839 to 1843”. Mammalia 1: 22. 
  4. ^ Gill, T. (1871). “The Sperm Whales, Giant and Pygmy”. American Naturalist 4 (12): 725–743. doi:10.1086/270684. 
  5. ^ Roest, A.I. (1970). “Kogia simus and other cetaceans from San Luis Obispo County, California”. Journal of Mammalogy 51 (2): 410–417. JSTOR 1378507. doi:10.2307/1378507. 
  6. ^ Bloodworth, B.E. & Odell, D.K. (2008). “Kogia breviceps (Cetacea: Kogiidae)”. Mammalian Species 819: Number 819: pp. 1–12. doi:10.1644/819.1. 

Tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Pygmy and Dwarf Sperm Whales by Donald F. McAlpine in Encyclopedia of Marine Mammals pp. 1007–1009 ISBN 978-0-12-551340-1
  • Whales Dolphins and Porpoises, Mark Carwardine, Dorling Kindersley Handbooks, ISBN 0-7513-2781-6
  • National Audubon Society Guide to Marine Mammals of the World, Reeves, Stewart, Clapham and Powell, ISBN 0-375-41141-0

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]