Bước tới nội dung

Các dân tộc tại Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Các dân tộc Việt Nam)

Hiện nay Việt Nam có 54 dân tộc được công nhận[1][2] và 1 nhóm "người nước ngoài". Bản Danh mục các dân tộc Việt Nam này được Tổng cục Thống kê Việt Nam của chính phủ Việt Nam đưa ra trong Quyết định số 121-TCTK/PPCĐ ngày 02 tháng 3 năm 1979.[3]

Phân loại chính thức

[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay, chính quyền Việt Nam công nhận 54 dân tộc chính thức cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, phân theo ngôn ngữ thì có 8 nhóm. Dân tộc đông người nhất là dân tộc Kinh, chiếm 85,32% dân số. Các dân tộc thiểu số đông dân nhất: Tày, Thái, Mường, Khmer, Hoa, Nùng, H'Mông, Dao, Gia Rai, Ê Đê, Ba Na, Chăm, Sán Dìu, Ra Glai... Đa số các dân tộc này sống ở miền núi và vùng sâu vùng xa ở miền Bắc, Tây Nguyên, miền Trungđồng bằng sông Cửu Long. Cuối cùng là các dân tộc Brâu, Ơ ĐuRơ Măm chỉ có trên 300 người.

Danh sách chi tiết

[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu dân số theo Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2019.[4]

Các dân tộc theo Tổng điều tra Dân số 2019[4]
Hệ Nhóm Dân tộc Tên gọi khác Phần trăm dân số Dân số Phân bổ
Hệ Nam Á[5] Việt-Mường[5] Kinh Việt 85,32% 82.085.826 Khắp Việt Nam
Mường Mol, Mual 1,51% 1.452.095 Hòa Bình (549.026 người), Thanh Hóa (376.340 người), Phú Thọ (218.404 người), Sơn La (84.676 người), Hà Nội (62.239 người), Ninh Bình (27.345 người)
Thổ Kẹo, Mọn, Họ, Cuối, Đan Lai, Ly Hà, Tày Poọng 0,1% 91.430 Nghệ An (71.420 người), Thanh Hóa (11.470 người)
Chứt Xá La Vàng, Chà Củi, Tắc Củi, Mày, Sách, Mã Liềng, Rục 0,01% 7.513 Quảng Bình (6.572 người)
Bahnar Ba Na Bơ Nâm, Roh, Kon Kde, Kriem, Jơlơng, Tơlô 0,3% 286.910 Gia Lai (189.367 người), Kon Tum (68.799 người), Bình Định (21.650 người)
Xơ Đăng Kmrâng, H'Đang, Con Lan, Brila, Ca Dong, Tơ-dra 0,22% 212.277 Kon Tum (133.17 người), Quảng Nam (47.268 người), Quảng Ngãi (19.690 người), Đắk Lắk (9.818 người)
Cơ Ho Kaho, Kơ Ho, Koho, K'Ho 0,21% 200.800 Lâm Đồng (175.531 người), Bình Thuận (13.531 người)
H'rê Chăm Rê, Thạch Bích 0,16% 149.460 Quảng Ngãi (133.103 người), Bình Định (11.112 người)
M'Nông 0,13% 127.334 Đăk Nông (50.718 người), Đắk Lắk (48.505 người), Bình Phước (10.879 người), Lâm Đồng (10.517 người)
Xtiêng Xa Điêng, Xa Chiêng 0,1% 100.752 Bình Phước (96.649 người)
Giẻ Triêng Giang Rẫy, Brila, Cà Tang, Doãn 0,07% 63.322 Kon Tum (39.515 người), Quảng Nam (23.222 người)
Mạ Châu Mạ 0,05% 50.322 Lâm Đồng (38,523 người), Đắk Nông (8,087 người), Đồng Nai (2,695 người)
Co Trầu, Cùa, Col 0,04% 40.442 Quảng Ngãi (33.227 người), Quảng Nam (6.479 người)
Chơ Ro Châu Ro, Dơ Ro, Chrau Jro 0,03% 29.520 Đồng Nai (16.738 người), Bà Rịa-Vũng Tàu (8.079 người), Bình Thuận (3.777 người)
Rơ Măm <0,005% 639 Kon Tum (577 người)
Brâu Brao <0.005% 525 Kon Tum (497 người), thành phố Hồ Chí Minh (8 người), Đồng Nai (4 người)
Cơ Tu Bru - Vân Kiều Bru, Vân Kiều, Ma Coong, Khùa, Trì 0,1% 94.598 Quảng Trị (69.785 người), Quảng Bình (18.575 người), Đăk Lăk (3.563 người)
Cơ Tu Ca Tu, Ca Tang, Cao, Hạ 0,08% 74.173 Quảng Nam (55.091 người), Thừa Thiên-Huế (16.719 người)
Tà Ôi Tôi Ôi, Ta Hoi, Ta Ôih, Tà Uất, A Tuất 0,05% 52.356 Thừa Thiên-Huế (34.967 người), Quảng Trị (16.446 người)
Khơ Mú Khơ Mú Xá Cẩu, Pu Thênh, Tày Hạy, Việt Cang, Khá Klậu, Tênh 0,09% 90.612 Nghệ An (43.139 người), Điện Biên (19.785 người), Sơn La (15.783 người), Lai Châu (7.778 người), Yên Bái (1.539 người)
Xinh Mun Puộc, Pụa, Xá 0,03% 29.503 Sơn La (27.031 người), Điện Biên (2.285 người)
Ơ Đu Tày Hạt <0,005% 428 Nghệ An (411 người)
Khmer Khmer Miên 1,37% 1.319.652 Sóc Trăng (362.029 người), Trà Vinh (318.231 người), Kiên Giang (211.282 người), An Giang (75.878 người), Bạc Liêu (73.968 người), Bình Dương (65.233 người), thành phố Hồ Chí Minh (50.422 người), Cà Mau (26.110 người), Đồng Nai (23.560 người), Vĩnh Long (22.630 người)
Palaung Kháng Xá Khao, Xá Đón, Xá Tú Lăng 0,02% 16.180 Sơn La (9.830 người), Điện Biên (5.224 người)
Mảng Mảng Mảng Ư, Xá Lá Vàng, Niễng O, Xa Mãng, Xá Cang Lai <0,005% 4.650 Lai Châu (4.501 người)
Hệ Kra-Dai Thái Thái Táy, các nhóm: Thái Trắng, Thái Đen, Thái Đỏ 1,89% 1.820.950 Sơn La (669.265 người), Nghệ An (338.559 người), Thanh Hóa (247.817 người), Điện Biên (213.714 người), Lai Châu (142.898 người)
Tày Thổ 1,92% 1.845.492 Lạng Sơn (282.014 người), Cao Bằng (216.577 người), Tuyên Quang (205.624 người), Hà Giang (192.702 người)
Nùng 1,13% 1.083.298 Lạng Sơn (335.316 người), Cao Bằng (158.114 người), Bắc Giang (95.806 người), Thái Nguyên (81.740 người), Hà Giang (81.478 người), Đắk Lắk (75.857 người)
Sán Chay Mán, Cao Lan - Sán Chỉ, Hờn Bạn, Hờn Chùng, Sơn Tử 0,21% 201.398 Tuyên Quang (70.636 người), Thái Nguyên (39.472 người), Bắc Giang (30.283 người), Quảng Ninh (16.346 người)
Giáy Nhắng, Giắng, Sa Nhân, Pấu Thỉn, Chủng Chá, Pu Năm 0,07% 67.858 Lào Cai (33.119 người), Hà Giang (17.392 người), Lai Châu (12.932 người), Yên Bái (2.634 người)
Lào Lào Bốc, Lào Nọi 0,02% 17.532 Lai Châu (6.922 người), Điện Biên (5.152 người), Sơn La (4.134 người)
Lự Lừ, Duồn, Nhuồn 0,01% 6.757 Lai Châu (6.693 người)
Bố Y Chủng Chá, Trung Gia, Pầu Y, Pủ Dí <0,005% 3.232 Lào Cai (1.925 người), Hà Giang (1.161 người)
Kra La Chí Thổ Đen, Cù Tê, Xá, La Ti, Mán Chí 0,02% 15.126 Hà Giang (13.828 người)
La Ha Xá Khao, Xá Cha, Xá La Nga 0,01% 10.157 Sơn La (10.015 người)
Cờ Lao <0,005% 4.003 Hà Giang (2.922 người)
Pu Péo Ka Bẻo, Pen Ti Lô Lô, La Quả, Mán <0,005% 903 Hà Giang (771 người)
Hệ H'Mông-Miền H'Mông H'Mông Mông, Mèo, Mẹo, Mán, Miêu 1,45% 1.393.547 Hà Giang (292.677 người), Điện Biên (228.279 người), Sơn La (200.480 người), Lào Cai (183.172 người), Lai Châu (110.323 người), Yên Bái (107.049 người)
Pà Thẻn Pà Hưng, Mán Pa Teng, Tống 0,01% 8.248 Hà Giang (6.502 người), Tuyên Quang (1.258 người)
Miền Dao Mán, Động, Trại, Dìu, Miến, Kiêm, Kìm Mùn 0,93% 891.151 Hà Giang (127.181 người), Tuyên Quang (105.359 người), Lào Cai (104.045 người), Yên Bái (101.223 người), Quảng Ninh (73.591 người)
Hệ Nam Đảo Chăm Gia Rai Jarai, Ană Krai 0,53% 513.930 Gia Lai (459.738 người), Kon Tum (25.883 người), Đắk Lắk (20.495 người)
Êđê Ra Đê, Rade, Rhade 0,41% 398.671 Đắk Lắk (351.278 người), Phú Yên (25.225 người)
Chăm Chiêm, Chăm Pa, Chàm 0,19% 178.948 Ninh Thuận (67.517 người), Bình Thuận (39.557 người), Phú Yên (22.813 người), An Giang (11.171 người), thành phố Hồ Chí Minh (10.509 người), Đồng Nai (8.603 người), Bình Định (6.364 người)
Ra Glai Ra Glay, O Rang, Glai, Rô Glai, Radlai 0,15% 146.613 Ninh Thuận (70,366 người), Khánh Hòa (55,844 người), Bình Thuận (17,382 người)
Chu Ru Chơ Ru, Kru 0,02% 23.242 Lâm Đồng (22.473 người)
Hệ Hán-Tạng Hán Hoa Tiều, Hán 0,78% 749.466 Thành phố Hồ Chí Minh (382.826 người), Đồng Nai (87.497 người), Sóc Trăng (62.389 người), Kiên Giang (24.051 người), Bắc Giang (20.225 người), Bình Dương (17.993 người)
Sán Dìu Trại, Trại Đát, Sán Rợ, Mán quần cộc, Mán váy xẻ 0,19% 183.004 Thái Nguyên (56.477 người), Vĩnh Phúc (46.222 người), Bắc Giang (33.846 người), Quảng Ninh (20.669 người)
Ngái Sán Ngái <0,005% 1.649 Thái Nguyên (800 người), Bình Thuận (188 người)
Tạng-Miến Hà Nhì U Ní, Xá U Ní, Hà Nhì Già 0,03% 25.539 Lai Châu (15.952 ngườim), Lào Cai (4.661 người), Điện Biên (4.555 người)
Phù Lá Phú Lá, Xá Phó 0,01% 12.471 Lào Cai (10.293 người), Yên Bái (968 người)
La Hủ Xá Lá Vàng, Khổ Thông 0,01% 12.113 Lai Châu (12.002 người)
Lô Lô Mùn Di, Ô Man, Lu Lọc Màn, Di, Qua La, La La, Ma Di 0,01% 4.827 Cao Bằng (2.861 người), Hà Giang (1.707 người)
Cống Xắm Khống, Mông Nhé, Xá Xeng <0,005% 2.729 Lai Châu (1.513 người), Điện Biên (1.145 người, chiếm 41,96% toàn bộ người Cống ở Việt Nam)
Si La Cú Đề Xừ[6][7] <0,005% 909 Lai Châu (592 người), Điện Biên (243 người)
Khác Người nước ngoài 3.553
Không xác định 264.918
Tổng Thống kê dân số tháng 12, 2020 96.208.984

Một số dân tộc có thể có một hoặc nhiều tên gọi, trong số đó có thể trùng nhau:

  • Người Mán có thể là: Sán Chay, Dao, H'Mông, Pu Péo, Sán Dìu (Mán quần cộc, Mán váy xẻ)
  • Người Xá là tên gọi chung cho các dân tộc thiểu số tại Tây Bắc trừ người Thái và người Mường
  • Người Brila có thể là: Giẻ Triêng, Xơ Đăng.
  • Dân tộc Thổ có thể chỉ dân tộc Tày.

Phân loại không chính thức

[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là những dân tộc được nhắc đến trong hoạt động kinh tế-xã hội, tuy nhiên lại không được nêu trong danh sách 54 dân tộc tại Việt Nam.

Các dân tộc Tây Nguyên

[sửa | sửa mã nguồn]

Người Xơ Đăng gồm nhiều nhóm có ngôn ngữ khác nhau như Hà Lăng, Mơ Nơm, Tơ Đ'rá, Xơ Đăng, Ca Dong... hiện gộp chung với tên gọi Xơ Đăng. Người Rơ Ngao hiện gộp chung với dân tộc Bahnar. Tương tự, các nhóm như Giẻ, Triêng, Lave, Bh'noong (chiếm đa số), hiện gộp chung với tên gọi Giẻ-Triêng. Người Cơ Ho gồm nhiều nhóm khác nhau như Srê, Chil, Lạt, Nộp, Dòn...

Người Pa Kô

[sửa | sửa mã nguồn]

Người Pa Kô là tên một cộng đồng thiểu số có vùng cư trú truyền thống là Trung Việt Nam và Nam Lào. Theo nghĩa trong tiếng Tà Ôi thì "Pa" là phía, "Kô" là núi, tức là người bên núi.[8] Tại Việt Nam người Pa Kô chủ yếu sống ở các huyện Hướng Hóa, Đakrông tỉnh Quảng Trị, và A Lưới tỉnh Thừa Thiên – Huế.[9] Theo Ethnologue[10] tiếng Pa Kô là một ngôn ngữ riêng biệt tuy cũng có quan hệ gần với người Tà Ôi, và tại Lào thì người Pa KôTà Ôi là hai dân tộc riêng biệt.[11]

Tuy nhiên cộng đồng Pa Kô chưa được coi là một dân tộc riêng mà đang được xếp vào dân tộc Tà Ôi trong Danh mục các dân tộc Việt Nam.

Người Nguồn

[sửa | sửa mã nguồn]

Người Nguồn là tên gọi cộng đồng người gồm 35.000 nhân khẩu, sống ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, Việt Nam. Hiện vẫn còn chưa có sự thống nhất về việc người Nguồn có phải là một sắc tộc riêng hay không. Tại Hội thảo khoa học xác định dân tộc Nguồn tổ chức ngày 19 tháng 10 năm 2004 tại Đồng Hới, Quảng Bình, có ý kiến đề nghị xếp người Nguồn vào dân tộc Mường, Thổ hoặc Chứt, và cũng có ý kiến tách người Nguồn thành một dân tộc thiểu số riêng.[12] Tiếng Nguồn hiện được Glottolog xếp là một ngôn ngữ riêng.[13]

Người Arem

[sửa | sửa mã nguồn]

Người Arem là tộc người hiện có 42 hộ với 183 người, sống ở vùng vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, hiện được xếp là người Chứt. Năm 1992 họ được bộ đội biên phòng phát hiện trong các hang đá và đưa về sống với cộng đồng, hiện ở xã Tân Trạch, Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.[14] Họ nói tiếng Arem nhưng cũng nói được tiếng của những tộc láng giềng: gặp người Khùa họ nói tiếng Khùa, gặp người Ma Coong họ dùng tiếng Ma Coong để giao tiếp.[15]

Người Đan Lai

[sửa | sửa mã nguồn]

Người Đan Lai có dân số khoảng hơn 3.000 người, sống chủ yếu ở vùng núi tại các bản Co Phạt, Khe Khặng, xã Môn Sơn, tỉnh Nghệ An.

Người Đan Lai được coi là có nguồn gốc từ người Kinh, trước đây ở làng Đan Nhiệm bỏ lên núi sống do các xung đột trong xã hội. Hiện tại họ được xếp vào dân tộc Thổ.

Người Tà Mun

[sửa | sửa mã nguồn]

Người Tà Mun là cộng đồng cỡ 3.000 người, với gần 2.000 người sống ở Tây Ninh và trên 1.000 người ở Bình Phước. Người Tà Mun theo chế độ mẫu hệ. Theo người già thuật lại thì giấy chứng nhận sắc tộc trước kia hiện còn giữ lại, đã công nhận "sắc dân Tà Mun" là "đồng bào Thượng miền Nam". Sau năm 1975, trong CMND của người Tà Mun vẫn được ghi là dân tộc Tà Mun. Đến khi lập danh mục thành phần dân tộc Việt Nam thì người Tà Mun không còn vị thế riêng mà xếp vào nhóm dân tộc "được coi là có quan hệ gần gũi về văn hóa, ngôn ngữ trên địa bàn là người XtiêngKhmer". Tuy nhiên bà con người Tà Mun luôn khẳng định mình là người Tà Mun và không liên quan gì tới người Xtiêng, Khmer, hay Chơ Ro.[16][17][18]

Người Thủy

[sửa | sửa mã nguồn]

Người Thủy là dân tộc sinh sống chủ yếu tại Tỉnh Quý Châu, Trung Quốc, và được công nhận là một trong 56 dân tộc tại CHND Trung Hoa. Người Thủy nói tiếng Thủy, là một ngôn ngữ thuộc Ngữ hệ Tai-Kadai. Tại Việt Nam có 26 hộ với 104 khẩu người Thủy sống tại xã Hồng Quang, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang, tuy nhiên họ không được công nhận chính thức là một dân tộc thiểu số.[19]

Những năm trước đây các giấy tờ cá nhân như Chứng minh nhân dân đã ghi mục "Dân tộc" là "Thủy" (bản CMND năm 2006). Tuy nhiên "bắt đầu từ năm 2016 công an tỉnh Tuyên Quang dừng cấp chứng minh nhân dân cho tộc người Thủy" và việc này gây rắc rối cho hoạt động của họ.[20]

Người Xạ Phang

[sửa | sửa mã nguồn]

Người Xạ Phang hay Hạ Phương là một cộng đồng dân tộc có dân số hơn 2.000 người, di trú từ Trung Quốc vào đầu thập niên 60 thế kỷ 20. Họ có cùng nguồn gốc với dân tộc Hoa và sử dụng tiếng Hoa là ngôn ngữ chính, tuy nhiên trang phục, tập tục có nét giống với người H'Môngngười Lô Lô. Họ sinh sống rải rác ở các xã, huyện biên giới Nậm Pồ, Mường Chà, Mường Nhé, Tủa Chùa của tỉnh Điện Biên.[21][22]

Người Pú Nả

[sửa | sửa mã nguồn]

Người Pú Nả còn có tên gọi khác như Củi Chu, Pố Y, Sa Quý Châu... sinh sống ở xã San Thàng, thị xã Lai Châu.

Người Pú Nả hiện được xếp vào dân tộc Giáy, và có văn hóa giống người Giáy ở Lào Cai nhưng nói tiếng Pú Nả mà người Giáy không nghe được. Họ có nguồn gốc từ tỉnh Quý Châu (Trung Quốc) di cư về Việt Nam cách đây từ 150 - 200 năm.[23]

Người Ngái, Đản, Hoa Nùng

[sửa | sửa mã nguồn]

Người Ngái hiện được xếp là một dân tộc sinh sống tại Việt Nam, tuy nhiên các dân tộc được xếp vào người Ngái tồn tại rất nhiều khác biệt về nguồn gốc, ngôn ngữ.

Tiếng nói của người Ngái là tiếng Ngái, một ngôn ngữ thuộc ngữ hệ H'Mông-Miền. Tuy nhiên, nhiều cộng đồng có nguồn gốc từ người Khách Gia, người Nùng, người Hoa (như người Hoa Nùng tại Đồng Nai) cũng được xếp vào nhóm dân tộc Ngái.

Ngoài ra còn có thiểu số người Đản Gia là một dân tộc sống trên sông nước tại miền Nam Trung Quốc, tại Việt Nam họ cũng được xếp vào dân tộc Ngái. [1]

Người En

[sửa | sửa mã nguồn]

Người En nói tiếng Nùng Vẻn hay còn gọi là tiếng En gồm 200 người sinh sống tại xóm Cả Tiểng, xã Nội Thôn, huyện Hà Quảng, Cao Bằng. Năm 1998, tiếng Nùng Vẻn được các nhà nghiên cứu đã xác định tiếng En là một ngôn ngữ thuộc nhóm Bố Ương, không phải nhóm Tày-Nùng.

Người Mơ Piu

[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Mơ Piu là một ngôn ngữ H'mông chưa được phân loại được nói ở làng Nậm Tu Thượng, xã Nậm Xé, mạn tây huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Nó được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 2009 bởi một nhóm các nhà ngôn ngữ học Pháp, tiếng Mơ Piu rất khác biệt so với các ngôn ngữ H'Mông lân cận ở Việt Nam.

Người Thu Lao

[sửa | sửa mã nguồn]

Người Thu Lao sinh sống ở huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai, hiện được xếp vào dân tộc Tày. Người Thu Lao nói tiếng Thu Lao thuộc ngữ chi Tráng Đại và có bản sắc văn hóa riêng. Cư dân Thu lao đặt chân đến mảnh đất Lào Cai từ thế kỷ 17 – 18. Nơi đầu tiên họ cư trú là xã Tả Gia Khâu, huyện Mường Khương. Sau đó, do thiếu nguồn nước và đất canh tác, họ chuyển dần sang địa phận xã Thảo Chư Phìn và Bản Mộ huyện Si Ma Cai và xã Mường Khương, xã Thanh Bình của huyện Mường Khương và định cư cho đến ngày nay.

Người Pa Dí

[sửa | sửa mã nguồn]

Người Pa Dí sinh sống chủ yếu ở Mường Khương tỉnh Lào Cai với dân số khoảng 2.000 người. Hiện được coi là dân tộc Tày.[2]

Phân bố lãnh thổ

[sửa | sửa mã nguồn]

Người Việt/Kinh là dân tộc đa số, sinh sống trên khắp các vùng lãnh thổ nhưng chủ yếu ở vùng đồng bằng, các hải đảo và tại các khu đô thị.

Hầu hết các nhóm dân tộc thiểu số (trừ người Hoa, người Khmer, người Chăm) sinh sống tại các vùng trung du và miền núi. Trong đó các dân tộc thuộc nhóm Hán-Tạng (trừ người Hoa), Tai-KadaiHmong-Dao phân bố chủ yếu ở Miền Bắc. Nhóm Nam Đảo chỉ sinh sống ở Nam Trung Bộ, Tây NguyênNam Bộ. Riêng nhóm Nam Á phân bố trải dài trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.

Các nhóm dân tộc thiểu số khác không có các lãnh thổ riêng biệt; nhiều nhóm sống hòa trộn với nhau. Một số nhóm dân tộc này đã di cư tới miền Bắc và Bắc Trung bộ Việt Nam trong các thời gian khác nhau: người Thái đến Việt Nam trong khoảng từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIII; người Hà Nhì, Lô Lô đến vào thế kỷ X; người Dao vào thế kỷ XI; các dân tộc H'Mông, Cao Lan, Sán Chỉ, và Giáy di cư đến Việt Nam từ khoảng 300 năm trước.

Hiện nay do hệ quả của các làn sóng di cư mới, nhiều người Kinh đã lên sinh sống tại các tỉnh miền núi, trong đó các tỉnh Tây Nguyên đã có đa số dân cư là người Kinh. Nhiều dân tộc thiểu số sinh sống tại các tỉnh phía Bắc như Tày, Nùng, Mường, Hmông... cũng di cư với số lượng lớn vào các tỉnh Tây Nguyên, Đông Nam BộNam Trung Bộ.

Chế độ gia đình

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài ngôn ngữ và văn hóa, các dân tộc ở Việt Nam còn được phân loại dựa trên mô hình gia đình. Có 3 nhóm chế độ gia đình chính ở Việt Nam là :

  • Phụ hệ: Con lấy theo họ bố và được xem là thuộc về gia đình bên phía bố. Vợ chồng sau khi cưới thì về sống bên nhà chồng và người vợ trở thành 1 thành viên của gia đình chồng. Người đàn ông là chủ của gia đình và có toàn quyền quyết định trong các vấn đề quan trọng. Tài sản thừa kế được để lại cho các con trai và con trai trưởng được ưu tiên.
  • Mẫu hệ: Con lấy theo họ mẹ và được xem là thuộc về gia đình bên phía mẹ. Vợ chồng sau khi cưới thì về sống bên nhà vợ và người chồng trở thành 1 thành viên của gia đình vợ. Người phụ nữ là chủ của gia đình, nhưng quyền quyết định các vấn đề quan trọng có thể vẫn phụ thuộc vào người chồng hoặc các họ hàng nam giới bên dòng họ mẹ. Tài sản thừa kế được để lại cho các con gái.
  • Không phân biệt tử hệ (đôi khi được hiểu là Song hệ nhưng quy định về các thuật ngữ trên trong tiếng Việt vẫn chưa được thống nhất): Không có họ hoặc có cách tính họ khác với 2 cách trên, con cái được xem là thuộc về cả dòng bên mẹ lẫn bên bố. Vợ chồng tự quyết định sống bên phía vợ hoặc phía chồng hoặc sống riêng tùy theo tính thuận tiện và điều kiện kinh tế. Quyền quyết định các vấn đề của gia đình phụ thuộc vào cả vợ lẫn chồng. Tài sản thừa kế được dành cho cả con trai lẫn con gái hoặc có các quy tắc thừa kế riêng.[25]

Trong cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam:[26]

Hiện nay nhiều nét của chế độ Không phân biệt tử hệ cũng dần phổ biến ở người Kinh và một số dân tộc thiểu số khác do hệ quả của các phong trào tuyên truyền và vận động đòi quyền Bình đẳng giới. Các quy định của pháp luật về thừa kế cũng được biên soạn trên cơ sở không phân biệt giới tính giữa các con.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam Lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2018 tại Wayback Machine. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ Việt Nam, 2016. Truy cập 01/04/2017.
  2. ^ Ủy ban Dân tộc Việt Nam giới thiệu Cộng đồng các dân tộc Việt Nam, 2016.
  3. ^ Danh mục các dân tộc Việt Nam. Tổng cục Thống kê, 2010. Truy cập 01/04/2017.
  4. ^ a b Công bố kết quả Tổng điều tra dân số 2019. Trung tâm Tư liệu và Dịch vụ Thống kê, Tổng cục Thống kê, 11/07/2019. Truy cập 05/09/2019.
  5. ^ a b The Vietic Branch. Mon-Khmer Languages Project. Truy cập 22/11/2016.
  6. ^ Theo Non nước Việt Nam, Vũ Thế Bình, Sách hướng dẫn du lịch, Nhà xuất bản Lao động- Xã hội, 2012
  7. ^ Theo 500 câu Hỏi – Đáp lịch sử - Văn hóa Việt Nam, Hà Nguyễn – Phùng Nguyên, Nhà xuất bản Thông tấn, 2011
  8. ^ Hành trình của tộc người "bên kia núi". Vov4, 28/4/2014. Truy cập 10/10/2015.
  9. ^ Bước đầu tìm hiểu nét độc đáo về văn hóa của người Bru-Vân Kiều và Pa Kô ở Quảng Trị[liên kết hỏng]. quangtritv, 17/12/2015. Truy cập 10/10/2016.
  10. ^ Pacoh at Ethnologue. 18th ed., 2015. Truy cập 15/10/2015.
  11. ^ Nordhoff, Sebastian; Hammarström, Harald; Forkel, Robert; Haspelmath, Martin, eds. (2013). "Pacoh". Glottolog. Leipzig: Max Planck Institute for Evolutionary Anthropology.
  12. ^ Đi tìm người Nguồn: Cần sớm định danh, Thanh Niên Online
  13. ^ Hammarström, Harald; Forkel, Robert; Haspelmath, Martin; Bank, Sebastian, eds. (2016). "Nguon". Glottolog 2.7. Jena: Max Planck Institute for the Science of Human History. Truy cập 11/11/2015.
  14. ^ Người Arem đã có bản mới. tuoitre, 24/11/2003. Truy cập 11/11/2015.
  15. ^ "Kho báu" bí ẩn của người Arem. danviet, 18/06/2010. Truy cập 11/11/2015.
  16. ^ Giải mã tộc người Tà Mun. Thanhnien Online, 08/01/2017. Truy cập 08/01/2017.
  17. ^ Người Tà Mun sẽ là dân tộc thứ 55?. Nguoiduatin, 27/12/2012. Truy cập 08/01/2017.
  18. ^ Bản sắc văn hoá của tộc người Tà Mun ở Tây Ninh. Tây Ninh Online, 30/07/2015. Truy cập 08/01/2017.
  19. ^ Cuộc sống huyền bí của bộ tộc 92 người ở VN
  20. ^ Dân tộc 100 người trước nguy cơ bị 'xóa sổ': Bức tâm thư gửi Thủ tướng. infonet, 20/07/2020. Truy cập 20/07/2020.
  21. ^ Nguồn gốc của người Xạ Phang Lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2022 tại Wayback Machine. Vov4, 20/2/2017.
  22. ^ Tết của dân tộc Xạ Phang tỉnh Điện Biên. Cổng Thông tin điện tử tỉnh Điện Biên, 2/1/2017.
  23. ^ Lễ cưới truyền thống của người Pú Nả. Cổng Thông tin điện tử tỉnh Lai Châu, 24/05/2016.
  24. ^ Mai Lý Quảng, tr. 91
  25. ^ Phan Hữu Dật (ngày 3 tháng 6 năm 2013). "LẠI BÀN VỀ CHẾ ĐỘ SONG HỆ Ở CÁC DÂN TỘC NƯỚC TA".
  26. ^ Lý Tùng Hiếu (ngày 7 tháng 7 năm 2009). "NAM QUYỀN TRONG CHẾ ĐỘ MẪU HỆ Ở VIỆT NAM". Trung tâm Văn hóa học, Lý luận và Ứng dụng. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2017.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]