Các nhóm sắc tộc ở Thái Lan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Các nhóm sắc tộc theo ngôn ngữ Thái Lan năm 1974

Vương quốc Thái Lan có khoảng 70 dân tộc, trong đó có 24 nhóm người Thái. Theo Báo cáo Quốc gia của Chính phủ Hoàng gia Thái Lan năm 2011 gửi cho Ủy ban Liên Hợp Quốc chịu trách nhiệm về Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, hiện có ở Cục Khuyến khích Quyền và Tự do của Bộ Tư pháp Thái Lan [1]:3 62 cộng đồng dân tộc được chính thức công nhận tại Thái Lan. Hai mươi triệu người Trung Thái (cùng với khoảng 650.000 Khorat Thai) chiếm khoảng 20.650.000 (34,1%) dân số cả nước là 60.544.937 [2] tại thời điểm hoàn thành dữ liệu Bản đồ dân tộc học của Đại học Mahidol (1997) [3].

Báo cáo quốc gia Thái Lan năm 2011 cung cấp số lượng dân số về người dân miền núi ("bộ lạc vùng đồi") và cộng đồng dân tộc ở phía đông bắc và rõ ràng về sự phụ thuộc vào dữ liệu Bản đồ dân tộc học của Đại học Mahidol Thái Lan [3]. Do đó, mặc dù không thể phân loại được hơn 3.288 triệu người ở phía đông bắc, nhưng dân số và tỷ lệ phần trăm của các cộng đồng dân tộc khác được biết đến vào cỡ năm 1997 và tạo thành quần thể tối thiểu:

Người Khmer và người Mon-Khmer chiếm khoảng 6%, người Malay ở miền nam Thái Lan chiếm khoảng 3%. Trong số các nhóm được phân loại là bộ lạc vùng đồi ở các tỉnh phía bắc, người H'mông (Miền), Karen và các bộ lạc đồi nhỏ khác chiếm hơn 1 phần trăm.

Trong các tài liệu chính thức của Thái Lan, thuật ngữ "bộ lạc vùng đồi" (chao khao) bắt đầu xuất hiện vào những năm 1960. Thuật ngữ này nhấn mạnh sự phân đôi "đồi và thung lũng" dựa trên mối quan hệ xã hội cổ xưa tồn tại ở hầu hết miền bắc và miền tây Thái Lan, cũng như ở Sipsongpanna và miền bắc Việt Nam. Phần lớn, người Đại / Tai / Thái chiếm các lưu vực và thung lũng màu mỡ hơn, trong khi các nhóm ít mạnh hơn sống ở độ cao ít giàu hơn. Sự phân đôi này thường đi kèm với mối quan hệ chủ / nông nô [5]. Dấu tích của sự phân đôi này còn tồn tại đến ngày nay: ví dụ, 30 % trẻ em dân tộc thiểu số ở Thái Lan không thể đọc được bằng lớp hai. Con số tương ứng của Bangkok là 1 % [6].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă International Convention on the Elimination of All Forms of Racial Discrimination; Reports submitted by States parties under article 9 of the Convention: Thailand (PDF) (bằng tiếng Anh và Thái). United Nations Committee on the Elimination of Racial Discrimination. 28 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2019. 
  2. ^ Population, total (Thailand). World Bank Group. (n.d.). Washington, DC. Truy cập 15/01/2019.
  3. ^ a ă Ethnolinguistic Maps of Thailand (PDF) (bằng tiếng Thai). Office of the National Culture Commission. 2004. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2019. 
  4. ^ Draper, John; Kamnuansilpa, Peerasit (2016). “The Thai Lao Question: The Reappearance of Thailand's Ethnic Lao Community and Related Policy Questions”. Asian Ethnicity 19: 81–105. doi:10.1080/14631369.2016.1258300. 
  5. ^ Kusuma Snitwongse & W Scott Thompson eds. Ethnic Conflicts in Southeast Asia, Institute of Southeast Asian Studies (14 October 2005) ISBN 978-9812303370, pg. 157
  6. ^ Parpart, Erich (23 tháng 7 năm 2018). “Childhood's End”. Bangkok Post. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2019. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhân khẩu học của Thái Lan
  • Charles Keyes (2008). Ethnicity and the Nation-States of Thailand and Vietnam. Challenging the Limits: Indigenous Peoples of the Mekong Region. Mekong Press.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]