Các trận lũ lớn ở Miền Nam Việt Nam
Ở Nam Bộ, hiện tượng lũ lụt gắn với mùa nước nổi ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, khi nước từ thượng nguồn sông Mekong lại đổ về khu vực này. Người dân ở các tỉnh Đồng Tháp, An Giang, Tứ Giác Long Xuyên coi lũ là một mùa tất yếu và sống chung với lũ.[1] Tuy nhiên vẫn có một số trận lũ lớn gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản cho các tỉnh miền Tây Nam Bộ.
Thế kỷ XX
[sửa | sửa mã nguồn]| Hệ thống sông | Sông | Trạm | Đỉnh lũ, năm |
|---|---|---|---|
| Mekong (Cửu Long) |
Tiền | Tân Châu (An Giang) | 5,12m (1961) |
| Chợ Mới (An Giang) | 3,45m (1961) | ||
| Hậu | Châu Đốc (An Giang) | 4,90m (1937) | |
| Long Xuyên (An Giang) | 2,81m (2011) | ||
| Cần Thơ (Cần Thơ) | 2,15m (2011) | ||
| Vàm Cỏ Tây | Mộc Hóa (Tây Ninh) | 3,27m (2000) | |
| Vàm Cỏ Đông | Gò Dầu Hạ (Tây Ninh) | 1,80m (2000) | |
| Đồng Nai | Đồng Nai | Tà Lài (Đồng Nai) | 114,31m (1987) |
| Biên Hòa (Đồng Nai) | 2,19m (2000) | ||
| Một số sông ở khu vực hạ lưu sông Cửu Long và Đồng Nai (khu vực TP Hồ Chí Minh, các tỉnh cũ Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Bạc Liêu, Tiền Giang, Cà Mau,... chịu ảnh hưởng của thủy triều, triều cường nên không tính lũ lịch sử. | |||
| Nguồn:[2] | |||
Trận lũ năm 1937
[sửa | sửa mã nguồn]Đỉnh lũ tại Tân Châu năm 1937 là 4,99m.[3] Lũ lịch sử được ghi nhận tại Châu Đốc 4,90m.[4]
Trận lụt năm 1952 (miền Đông Nam Bộ)
[sửa | sửa mã nguồn]Chịu ảnh hưởng của một trận bão lớn, mưa to kéo dài khiến nước lên, lụt Nhâm Thìn 1952 được xem là trận lụt lớn nhất thế kỷ 20 ở Biên Hòa cũng như cả vùng Đông Nam bộ.[5] Theo báo Đồng Nai, giữa tháng 10 năm 1952, trời mưa lớn kéo dài nhiều ngày khiến nước sông Đồng Nai, sông Bé dâng cao thành một bể nước mênh mông, chảy cuồn cuộn từ phía thượng nguồn đổ xuống khu vực hạ lưu. Các địa phương ven sông Đồng Nai đều bị ngập nước, sau đó chịu ảnh hưởng của bão đổ bộ ngày 20 tháng 10.[5][6] Khu vực căn cứ Chiến khu Đ (huyện Vĩnh Cửu) bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Cây cối ngã đổ, nước dâng ngập khắp nơi. Hầu hết ruộng nương, hoa màu, tài sản, nhà cửa, kho tàng hậu cứ đều bị phá hủy, cuốn trôi; nhiều người bị chết, mất tích vì lũ lụt. Theo báo cáo của tỉnh Thủ Biên (là tỉnh Thủ Dầu Một sáp nhập với tỉnh Biên Hòa), tất cả các đơn vị trực thuộc đều bị thiệt hại từ 90% trở lên về vật chất. Nạn đói bắt đầu xảy ra nên tỉnh Thủ Biên phải đề nghị viện trợ lương thực khẩn cấp. Biên Hòa cũng ngập lụt nghiêm trọng.[5] Ở các vùng căn cứ cách mạng của tỉnh Thủ Dầu Một (trước đó) nước lũ cũng ngập tràn các cánh đồng lúa đang vào mùa chín.[6]
Trận lũ năm 1961
[sửa | sửa mã nguồn]Ảnh hưởng từ 5 cơn bão đổ bộ vào Việt Nam, đặc biệt là 2 cơn bão số 8 và số 10, gây ra mưa lớn ở hạ Lào và Campuchia và khiến nước thượng nguồn sông Mekong lên cao.[7] Đỉnh lũ năm 1961 tại Tân Châu đạt 5,11m, lớn nhất tính từ năm 1926 (có nguồn ghi 5,28m).[3][8] Thời gian duy trì mực nước trên 3,0m tại trạm lên đến 90 ngày.[8] Đồng bằng sông Cửu Long chịu thiệt hại nặng trong đợt lũ lụt này.[7]
Trận lũ năm 1966
[sửa | sửa mã nguồn]Đỉnh lũ đầu nguồn sông Cửu Long tại Tân Châu năm 1966 là 5,03m, là một trong 3 năm có đỉnh lũ trên 5m ở trạm tính từ năm 1926 (chỉ đứng sau lũ lụt năm 1961 và 2000); đỉnh lũ Châu Đốc là 4,76m.[9]
Trận lũ năm 1978
[sửa | sửa mã nguồn]Trận lũ năm 1978, mực nước lũ trên 3,0 mét duy trì trong 95 ngày tại Tân Châu.[8] Mực nước ở Tân Châu 4,46 m ngày 30 tháng 8 và 4,15 m tại Châu Đốc ngày 5 tháng 9. Đỉnh thứ hai vào ngày 9 tháng 10 là 4,78 m tại Tân Châu và 4,46 m tại Châu Đốc.[10]
Trận lũ năm 1984
[sửa | sửa mã nguồn]Trận lũ năm 1984 là do mưa lớn ở khu vực thượng lưu sông Mê Kông dưới tác động của gió mùa Tây Nam liên tiếp trong cuối tháng 8, đầu tháng 9.[11] Trận lũ năm 1984 là lũ kép với hai đỉnh.[12] Đỉnh lũ tại Tân Châu đạt được là 4,96m.[13]
Trận lũ năm 1987 (sông Đồng Nai)
[sửa | sửa mã nguồn]Ảnh hưởng gió mùa Tây Nam hoạt động mạnh được kích hoạt bởi bão số 2 (Betty) và bão số 3 (Cary) gây mưa lớn tại lưu vực sông Đồng Nai. Đỉnh lũ lịch sử đạt được vào ngày 22/8/1987 là 114,31 m.[14]
Trận lũ năm 1991
[sửa | sửa mã nguồn]Ảnh hưởng của cơn bão số 6 (Fred) gây ra mưa lớn tại Lào, Campuchia làm nước sông Mekong dâng lên, đến đầu tháng 9 tràn về vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Đỉnh lũ tại Tân Châu là 4,80m đạt được vào ngày 13 tháng 9 (thấp hơn 0,16m so với năm 1984), tại Châu Đốc 4,31m, xuất hiện chậm 3 ngày so với Tân Châu. Đợt lũ lụt 139 người chết và thiệt hại 884 tỷ đồng.[13]
Trận lũ năm 1994
[sửa | sửa mã nguồn]Đỉnh lũ đầu nguồn tại Tân Châu là 4,67m và Châu Đốc là 4,27m vào ngày 3 tháng 10, với thời gian lũ duy trì trên 4,5m là 30 ngày và trên 3,5m là 90 ngày, gây ra tình trạng ngập lụt sâu kéo dài ở Đồng bằng sông Cửu Long. Tổng thiệt hại do lũ lên đến 2.284 tỷ đồng, 407 người chết (trong đó có 265 trẻ em, sản lượng lúa bị mất là 336 nghìn tấn.[15]
Trận lũ năm 1996
[sửa | sửa mã nguồn]Mực nước cao nhất tại Tân Châu là 4.87m, đạt được vào đầu tháng 10. Lũ lên với cường suất lớn, song lại rút rất chậm.[16] Theo số liệu của Ban chỉ đạo Phòng chống lụt bão Trung ương, tính đến ngày 18 tháng 10 nước lũ đã tràn qua 5911 km đường quốc lộ đường quốc lộ và tỉnh lộ, 1700 cầu và cống kiên cổ bị sập hoặc bị hư hại nặng; 320.878 nhà ở, 915 điểm trường và 164 cơ sở y tế bị ngập, 1236 nhà ở bị đổ và cuốn trôi.[17]
Trận lũ năm 2000
[sửa | sửa mã nguồn]Đỉnh lũ đạt được ở đầu nguồn tại Tân Châu và Châu Đốc đạt được vào ngày 23 tháng 9 lần lượt là 5,06m và 4,90m.[18] Đỉnh lũ này chỉ kém năm 1961.[3]
Đợt lũ lịch sử tại đồng bằng sông Cửu Long bắt đầu từ đầu tháng 7 đến cuối tháng 11 năm 2000 được coi là đợt lũ nặng nề và nghiêm trọng nhất trong hơn 70 năm qua, ảnh hưởng đến đời sống của 10 triệu dân, hơn 800.000 hộ bị ngập, gần 50.000 hộ phải di dời, trong đó nhiều hộ phải di dời đến 2-3 lần, nửa triệu người phải cứu trợ khẩn cấp, 80 vạn học sinh phải nghỉ học từ 1 đến 3 tháng, 453 người bị chết (phần lớn là trẻ em). Tổng thiệt hại của đợt lũ là 3.800 tỷ đồng.[19]
Tại hạ lưu sông Đồng Nai cũng ghi nhận lũ lịch sử (2,19m) ngày 15 tháng 10 năm 2000 tại trạm Biên Hòa.[20]
Trận lũ lụt năm 2000 chính là đề tài để nhạc sĩ Tiến Luân sáng tác "Quê em mùa nước lũ" nổi tiếng.[21]
Thế kỷ XXI
[sửa | sửa mã nguồn]Các trận lũ năm 2001 và 2002
[sửa | sửa mã nguồn]Liền sau năm 2000, hai năm 2001 và 2002 đều xảy ra lũ lớn và đặc biệt lớn ở đồng bằng sông Cửu Long, tuy nhiên đỉnh lũ đầu nguồn tại Tân Châu thấp hơn năm 2000 khoảng 0,4 đến 0,7m.[22][23] Đỉnh lũ năm 2002 nhìn chung có cao hơn đỉnh lũ năm 2001 nhưng còn thấp hơn đỉnh lũ năm 2000; lũ lụt lớn với đỉnh trên 4,7m xảy ra liên tiếp trong năm 2000, 2001, 2002 là trường hợp duy nhất quan trắc được trong 70 năm (tính đến năm 2002); thời gian duy trì mực nước trên 4,5 mét ở Tân Châu là trong 2 năm 2001 và 2002 lần lượt là 47 ngày và 35 ngày, chỉ đứng sau năm 1961.[22][23] Tuy nhiên về mức độ thiệt hại thì năm 2001 và 2002 không lớn như 2000, với lần lượt 230 và 170 người chết.[24] Trong trận lụt năm 2002, hơn 287.200 hộ dân bị ngập, Đồng Tháp nhiều nhất (117.000 hộ), tiếp sau đó là Cần Thơ (38.000), Tiền Giang (36.000), Long An (31.000), Vĩnh Long (30.000).[25]
Trận lũ năm 2011
[sửa | sửa mã nguồn]Đỉnh lũ cao nhất năm trên sông Cửu Long thuộc loại đặc biệt lớn, nhiều nơi ở hạ lưu đạt mức cao nhất tính đến thời điểm này. Đỉnh lũ tại Tân Châu đạt mức 4,86m ngày 29 tháng 9 và cao hơn báo động 3 0,36m; tại Châu Đốc đỉnh lũ là 4,27m đạt được ngày 12 tháng 10, cao hơn báo động 3 0,27m. Ở vùng Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên đỉnh lũ đều vượt mức báo động 3 từ 0,2 – 0,5m; một số nơi đã xuất hiện lũ lịch sử như: Tại Long Xuyên là 2,81m vào ngày 27 tháng 10, cao hơn đỉnh lũ lịch sử năm 1978 là 0,16m; tại Cần Thơ là 2,15m đạt được ngày 27 tháng 10, cao hơn đỉnh lũ lịch sử năm 2007 là 0,12m; tại Mỹ Thuận là 2,03m đạt được ngày 27 tháng 10, cao hơn đỉnh lũ lịch sử năm 2002: 0,12m; tại Mỹ Tho là 1,78m ngày 29 tháng 10, cao hơn đỉnh lũ lịch sử năm 2009 là 0,07m. Năm 2011, lũ đặc biệt lớn trên sông Cửu Long đã gây thiệt hại nặng nề , làm 89 người chết, trong đó có tới 75 trẻ em; 906 nhà bị đổ sập; 176.588 nhà, 1.268 trường học, 29 bệnh viện, trạm xá, 620 trụ sở cơ quan, công trình công cộng bị ngập, hư hại. Thiệt hại lên đến 4,3 nghìn tỷ đồng.[26]
Khác
[sửa | sửa mã nguồn]Những năm gần đây, tại đồng bằng sông Cửu Long và hạ nguồn lưu vực sông Mê Kông, lũ vẫn xuất hiện nhưng với mức độ (đỉnh lũ và lưu lượng lũ) thấp rất nhiều so với trung bình nhiều năm. Nhiều nguyên nhân được chỉ ra như việc phát triển thủy điện ồ ạt tại nhiều khu vực thượng nguồn dòng chính và các chi lưu quan trọng, nhu cầu nước lớn phát triển nông nghiệp có tưới và chặt phá rừng đầu nguồn...[10]
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ baodientuvtv (ngày 20 tháng 12 năm 2024). "Vẻ đẹp của miền Tây Nam bộ mùa nước nổi". BAO DIEN TU VTV. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2025.
- ^ Tổng hợp từ các nguồn:
- "Bảng mực nước lũ lịch sử". Trung tâm chính sách và kỹ thuật PCTT. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2025.
- Đặc điểm Khí tượng thủy văn Việt Nam (từ năm 1993 đến nay)
- Tạp chí Khí tượng thủy văn
- Cục Quản lý đê điều và phòng chống thiên tai
- Ban chỉ huy phòng thủ dân sự các tỉnh
- ^ a b c "Mô phỏng lũ lịch sử năm 1961 vùng trũng Tứ giác Long Xuyên gắn với hoạt động của hệ thống công trình thoát lũ ra biển Tây".
- ^ "Bảng mực nước lũ lịch sử". Trung tâm chính sách và kỹ thuật PCTT. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2025.
- ^ a b c "Biên Hòa trong trận lụt Nhâm Thìn 1952". baodongnai.com.vn. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2025.
- ^ a b "Trận bão lụt lịch sử năm 1952". baobinhduong.vn. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2025.
- ^ a b "Mùa nước son về". baovinhlong.com.vn. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2025.
- ^ a b c "Lũ lụt ở Đồng bằng Sông Cửu Long".
- ^ "Vấn đề phòng chống lũ sông Cửu Long".
- ^ a b "Tuyển tập kết quả khoa học công nghệ 2019-2020, Viện khoa học thủy lợi miền Nam" (PDF).
- ^ "Nghiên cứu các nhiễu động thời tiết chính gây mưa - lũ lụt ở Đồng bằng sông Cửu Long".
- ^ "Nghiên cứu các loại tai biến môi trường tự nhiên ở tỉnh Đồng Tháp và giải pháp phòng tránh, giảm nhẹ thiệt hại".
- ^ a b "Về trận lũ lớn năm 1991 ở đồng bằng sông Cửu Long".
- ^ "Lũ trên sông Đồng Nai đã gần chạm mực nước lũ lịch sử". nongnghiepmoitruong.vn. ngày 9 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2025.
- ^ "Bão trên biển Đông 1994" (PDF). dacdiemkttv_1994. Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Việt Nam. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2015.
- ^ "Đặc điểm KTTV 1996" (PDF). Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Việt Nam. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2015.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ^ "Lũ lớn 1996 ở đồng bằng sông Cửu Long và một số ý kiến đề xuất sau lũ".
- ^ "Đặc điểm KTTV 2000" (PDF). dacdiemkttv_2000. Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Việt Nam. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2015.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|ngày truy cập=(trợ giúp) - ^ "Đợt lũ lịch sử tại Đồng bằng sông Cửu Long".
- ^ "Đỉnh triều hạ lưu sông Đồng Nai đang lên, gần đạt mực nước trận lũ lịch sử năm 2000". baodongnai.com.vn. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2025.
- ^ ""Quê em mùa nước lũ" được sáng tác trong hoàn cảnh nào?". doisongphapluat.nguoiduatin.vn. ngày 5 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2024.
- ^ a b "Đặc điểm KTTV 2001" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2015.
- ^ a b "Đặc điểm KTTV 2002" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2024.
- ^ "Sổ tay phòng ngừa và giảm nhẹ rủi ro vùng lũ" (PDF).
- ^ "Gần 300 nghìn hộ dân ở ĐBSCL bị ngập".
- ^ "Đặc điểm khí tượng thủy văn 2011" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2025.