Các trận lũ lớn ở Miền Trung Việt Nam

Khu vực miền Trung Việt Nam có địa hình hẹp, sông ngòi ngắn, dốc nên thường xuyên xảy ra các trận lũ, lụt, úng ngập, và đã xuất hiện nhiều trận lũ lụt lớn trong lịch sử. Điển hình tại miền Trung Việt Nam là các trận lũ, lụt, úng ngập lịch sử các năm 1964, 1999 và 2025 đã để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng về người và tài sản.
Thời nhà Nguyễn (1802-1884)
[sửa | sửa mã nguồn]Theo các tài liệu, tính từ năm 1802 đến năm 1888 khu vực Huế và Trung Kỳ đã xảy ra đến 40 trận lũ, lụt lớn.[1]
Trận lụt năm Tân Mùi (1811)
[sửa | sửa mã nguồn]Tháng Tám năm Tân Mùi 1811, kinh đô Huế bão, lụt, nước ngập hơn 8 thước. Các tỉnh miền Trung như Quảng Trị, Quảng Bình (cũ), Quảng Nam (cũ), Quảng Ngãi cũng bị ảnh hưởng. Hoàng cung Huế ngập 3,36m, phá vỡ cửa Tư Hiền.[2]
Trận lụt năm Nhâm Ngọ (1822)
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 1822, miền Trung từ Quảng Trị vào Quảng Nam hạn hán nặng; đến tháng 10, lũ lụt lớn ở kinh đô, các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình nhiều nhà bị sụp hoặc bị cuốn trôi ra biển, dân và binh lính bị chết đuối rất nhiều. Tháng 11 cùng năm, trấn Phú Yên cũng xảy ra mưa lụt to, dải cát ở cửa biển cũ Phú Sơn vỡ thành cửa biển mới rộng 24 trượng 7 thước (98 mét), sâu 1 trượng 1 thước 1 tấc (4,44m), dài 64 trượng 5 thước (266m), cách cửa biển cũ 1.010 trượng (4.040m).[3]
Trận lũ lụt năm Giáp Thìn (1844)
[sửa | sửa mã nguồn]Trận lũ năm Giáp Thìn (1844) xảy ra vào tháng 10 dương lịch (tháng 9 âm lịch) ở phủ Thừa Thiên và tỉnh Quảng Trị gây nên thiệt hại nặng. Theo đó, từ ngày 9 tháng 9 âm lịch, gió nổi từ phương Tây Bắc, sang hôm sau gió bão dữ dội, mái ngói bị tốc, cây cối đổ ngã, mưa lụt nước ngập. Ở kinh thành Huế nước ngập hơn 10 thước (2,5m), cán cờ trên chòi cửa bị gãy, công sở, nhà cửa, thuyền bè bị đổ, bị chìm đắm rất nhiều. Phủ Thừa Thiên hơn 1.000 người chết đuối. Ở Quảng Trị nước ngập đến 16 thước (4m), 79 người bị chết đuối, 3.000 ngôi nhà dân bị đổ. Các tỉnh Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi cũng đều bị ảnh hưởng.[4]
Trận lũ lụt năm Mậu Dần (1878)
[sửa | sửa mã nguồn]Vào năm 1878, một trận lũ lụt lớn xảy ra ở các tỉnh Trung Bộ và đặc biệt tại Quảng Nam và Quảng Ngãi.[5] Trong bài vè “Lụt bất quá” của Tú tài Phan Thanh viết năm Mậu Dần 1878, có câu: “Ba huyện Quảng Nghĩa mười phần tả tơi”.[6]
Thời Pháp thuộc (1884-1945)
[sửa | sửa mã nguồn]| Hệ thống sông | Sông | Trạm | Đỉnh lũ, năm |
|---|---|---|---|
| Mã | Mã | Cẩm Thủy (Thanh Hóa) | 22,05m (2025) |
| Lý Nhân (Thanh Hóa) | 13,24m (2007) | ||
| Giàng (Thanh Hóa) | 7,51m (1980) | ||
| Chu | Bái Thượng (Thanh Hóa) | 21,54m (1962) | |
| Xuân Khánh (Thanh Hóa) | 13,49m (1980) | ||
| Bưởi | Kim Tân (Thanh Hóa) | 14,33m (2025) | |
| Cả | Cả (Lam) | Mường Xén (Nghệ An) | 145,89m (2025) |
| Dừa (Nghệ An) | 24,97m (1988) | ||
| Đô Lương (Nghệ An) | 19,71m (1978) | ||
| Yên Thượng (Nghệ An) | 12,46m (1978) | ||
| Nam Đàn (Nghệ An) | 9,76m (1978) | ||
| La | Linh Cảm (Hà Tĩnh) | 7,74m (1978) | |
| Ngàn Sâu | Hòa Duyệt (Hà Tĩnh) | 12,83m (2010) | |
| Chu Lễ (Hà Tĩnh) | 16,56m (2010) | ||
| Ngàn Phố | Sơn Diệm (Hà Tĩnh) | 15,82m (2002) | |
| Vu Gia - Thu Bồn |
Thu Bồn | Nông Sơn (Đà Nẵng) | 18,68m (2025) |
| Giao Thủy (Đà Nẵng) | 10,06m (1964) | ||
| Câu Lâu (Đà Nẵng) | 5,62m (2025) | ||
| Hội An (Đà Nẵng) | 3,40m (1964) | ||
| Vu Gia | Thành Mỹ (Đà Nẵng) | 27,2m (2025) | |
| Hội Khách (Đà Nẵng) | 19,32m (2025) | ||
| Ái Nghĩa (Đà Nẵng) | 10,77m (2009) | ||
| Hàn | Cẩm Lệ (Đà Nẵng) | 4,4m (1964) | |
| Ba - Đà Rằng |
Ba | Ayunpa (Gia Lai) | 158,63m (2009) |
| Ba (Đà Rằng) | Củng Sơn (Đắk Lắk) | 40,99m (2025) | |
| Phú Lâm (Đắk Lắk) | 5,40m (2025) | ||
| Mekong (Sê San - Srêpôk) |
Đắkbla | Kon Tum (Quảng Ngãi) | 524,16m (2009) |
| Srêpôk | Bản Đôn (Đắk Lắk) | 178,84m (1993) | |
| Krông Ana | Giang Sơn (Đắk Lắk) | 429,19m (1998) | |
| Đồng Nai (đoạn chảy qua Lâm Đồng) |
Đa Nhim | Đại Ninh (Lâm Đồng) | 836,17m (2025) |
| Cam Ly | Thanh Bình (Lâm Đồng) | 834,36m (2025) | |
| Nguồn:[7] | |||
Trận lụt năm 1910
[sửa | sửa mã nguồn]Bão lụt liên tiếp và dồn dập ở Trung kỳ (từ Thanh Hóa đến Bình Thuận) trong tháng 9 và tháng 11 năm 1910 gây thiệt hại nặng nề. Tỉnh Quảng Ngãi có hơn 10 người chết đuối, nhà cửa thuyền bè dọc sông hư hỏng chìm mất có tới hàng vạn, theo Đại Nam thực lục.[cần dẫn nguồn]
Trận lụt năm 1934
[sửa | sửa mã nguồn]Cuối tháng 10 năm 1934, Bắc Trung Bộ xảy ra trận lũ lụt lớn. Tổng lượng mưa tại Đồng Hới ghi nhận trong đợt mưa này lên đến 600mm, tại Tư Dung (nay thuộc Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh) có tổng lượng mưa 1224mm trong 36 giờ, "là lượng mưa lớn nhất được quan sát thấy kể từ năm 1907 trong chuỗi số liệu mưa của Đông Dương". Lũ lụt diễn ra trên diện rộng, nhà cửa ngập sâu, giao thông chia cắt, điện nước gián đoạn, hoa màu ngập úng cùng rất nhiều gia súc, gia cầm bị lũ cuốn trôi. Đoạn đường sắt đi qua địa phận Hà Tĩnh bị hư hỏng toàn bộ: đường ray bị gãy, biến dạng hoặc bị dịch chuyển, đá dăm bị rỗng; có những nơi bị ngập, nứt, hao mòn. Có 3 cây cầu bị sập. 428 người được cho là đã thiệt mạng (tại tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Đồng Hới) trong đợt mưa lũ này. Thiệt hại tại Hà Tĩnh ít nhất khoảng 800.000 piastres, chi phí cải tạo đường sắt mất ít nhất 100.000 piastres.[8][9] Một phong trào ủng hộ đồng bào bão lụt lớn đã diễn ra khắp Đông Dương lúc bấy giờ.[9]
Trận lụt năm 1938
[sửa | sửa mã nguồn]Cuối tháng 11 và đầu tháng 12 năm 1938, theo tài liệu của Cơ quan khí tượng Đông Dương thuộc Pháp, Nam Trung Bộ liên tiếp chịu ảnh hưởng của các cơn bão ngày 13 tháng 11, 27 tháng 11, 2 tháng 12 và 10 tháng 12 gây mưa lớn dài ngày.[10] Theo điều tra trong nhân dân, một trận lũ đặc biệt lớn xảy ra tại tỉnh Phú Yên, đặc biệt trên lưu vực sông Kỳ Lộ.[11]
Trận lụt năm 1942
[sửa | sửa mã nguồn]Ghi nhận tại Kinh đô Huế (chưa rõ do hình thế gì gây ra mưa lũ) nhưng theo các tư liệu, có 700 ngôi nhà bị sập đổ.[12]
Từ 1945 đến 2000
[sửa | sửa mã nguồn]Hầu như rải rác các năm, từng khu vực, địa phương ở miền Trung phải hứng chịu các trận ngập, lũ lụt lớn.[13] Có thể xảy ra một số trận lụt tiêu biểu sau đây:
Trận lụt năm 1953
[sửa | sửa mã nguồn]Từ 20 đến 26 tháng 9 năm 1953, một trận lũ lụt lớn đã xảy ra ở Trung Trung Bộ mà nghiêm trọng nhất là tại Huế, với mực nước lũ được cho là rất cao chỉ đứng sau năm 1999. Đỉnh lũ trên sông Hương tại Kim Long được cho là đạt 5,48m.[14][15] Trận lụt đã làm 500 người thiệt mạng, 290 ngôi nhà bị cuốn trôi, hàng trăm gia súc vật nuôi chết, nổi trắng trên sông Hương, 80% diện tích hoa màu bị mất trắng.[16][17] Trận lụt năm 1953 làm sập cửa Ngăn Trên (cửa Quảng Đức) của kinh thành Huế nên dân chúng gọi là cửa Sập.[18]
Trận lụt năm 1964
[sửa | sửa mã nguồn]Trận lụt lớn xảy ra vào đầu tháng 11 năm 1964 do ảnh hưởng liên tiếp của các cơn bão Iris, Joan và Kate đã gây ra thiệt hại rất lớn cho người dân khu vực miền Trung, làm 7.000 người thiệt mạng.[13] Hơn một triệu người rơi vào cảnh mất nhà cửa do ba cơn bão quét qua các tỉnh Nam Trung Bộ Việt Nam, ảnh hưởng đến khoảng một phần ba diện tích cả nước.[19] Ước tính ban đầu cho thấy số người vô gia cư tại bốn tỉnh của Việt Nam dao động từ 0,8 đến 1,2 triệu người. Trong mười ngày đầu tháng 11, lượng mưa lên tới khoảng 1.000 mm (40 inch).[20] Một số khu vực ghi nhận mưa liên tục suốt 15 ngày liền.[21] Tâm điểm của trận lụt này là ở các tỉnh Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và đặc biệt là địa bàn Đà Nẵng, Quảng Nam và Quảng Tín (nay thuộc thành phố Đà Nẵng). Tại làng Đông An, xã Quế Phước, huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc Đà Nẵng), lũ đã cuốn trôi toàn bộ nhà cửa, san bằng làng mạc và đớn đau nhất là nhấn chìm, cuốn đi gần hết người dân trong làng, tổng cộng 1.481 người chết, trong đó 888 người trong độ tuổi từ 1 đến 16 tuổi; trong làng chỉ còn 19 người sống sót. Thảm họa này được lưu truyền trong dân gian với tên gọi "Đại họa năm Thìn".[22]
Nhà thơ Tường Linh đã sáng tác bài thơ "Thảm nạn quê hương" để nói về trận lụt này: "Những thây người! Không đếm hết, em ơi!(...)/ Ngày giỗ quê hương, dù bao thế hệ/ Thảm nạn này biết thuở nào quên".[23]
Trận lụt năm 1978
[sửa | sửa mã nguồn]| Sông | Trạm | Đỉnh lũ, năm |
|---|---|---|
| Yên | Chuối (Thanh Hóa) | 4,92m (2025) |
| Hiếu (Nghệ An) | Quỳ Châu (Nghệ An) | 80,19m (2007) |
| Gianh | Đồng Tâm (Quảng Trị) | 18,45m (1993) |
| Mai Hóa (Quảng Trị) | 9,48m (2007) | |
| Kiến Giang | Lệ Thủy (Quảng Trị) | 4,88m (2020) |
| Hiếu (Quảng Trị) | Đông Hà (Quảng Trị) | 5,36m (2020) |
| Thạch Hãn | Thạch Hãn (Quảng Trị) | 7,40m (2020) |
| Bồ | Phú Ốc (Huế) | 5,31m (2025) |
| Hương | Kim Long (Huế) | 5,81m (1999) |
| Trà Bồng | Châu Ổ (Quảng Ngãi) | 6,31m (2009) |
| Trà Khúc | Trà Khúc (Quảng Ngãi) | 8,76m (2013) |
| Vệ | Sông Vệ (Quảng Ngãi) | 6,03m (2013) |
| Lại Giang | Bồng Sơn (Gia Lai) | 9,28m (1987) |
| Kôn | Bình Nghi (Gia Lai) | 19,35m (2013) |
| Thạnh Hòa (Gia Lai) | 9,68m (2013) | |
| Hà Thanh | Diêu Trì (Gia Lai) | 7,40m (2025) |
| Kỳ Lộ | Hà Bằng (Đắk Lắk) | 13,90m (2025) |
| Dinh Ninh Hòa | Ninh Hòa (Khánh Hòa) | 6,77m (2025) |
| Cái Nha Trang | Đồng Trăng (Khánh Hòa) | 13,42m (2009) |
| Cái Phan Rang | Tân Mỹ (Khánh Hòa) | 41,21m (2003) |
| Phan Rang (Khánh Hòa) | 5,34m (2003) | |
| Lũy | Sông Lũy (Lâm Đồng) | 29,49m (2025) |
| Nguồn:[7] | ||
Năm 1978 khu vực Trung Bộ cũng xảy ra hai trận lũ lớn.
Trận lũ diễn ra vào cuối tháng 9 do ảnh hưởng các cơn bão số 7, 8, 9 đã gây mưa nhiều ngày cho các tỉnh Bắc Trung Bộ. Nghệ Tĩnh (nay là Nghệ An và Hà Tĩnh) ghi nhận mưa 1.400mm trong 10 ngày. Kỷ lục lượng mưa Đô Lương 788mm ngày 21 tháng 9 năm 1978.[24] Đỉnh lũ sông Lam tại Dừa 22,42m, tại Yên Thượng 12,46m, tại Nam Đàn 9,76m, Linh Cảm (sông La) 7,74m và Hòa Duyệt (sông Ngàn Sâu) 7,95m.[25][26] Đây đều là các giá trị lịch sử trên lưu vực sông Cả (ngoại trừ Hòa Duyệt).[27][28] Vỡ đê sông Cả.[29] Lũ lịch sử trên sông Cả năm 1978 khiến hơn 143 nghìn hộ dân trong lưu vực và các vùng phụ cận bị nhấn chìm. Vùng ngập trải rộng với diện tích hơn 410 km2, nặng nề nhất là các huyện Nam Đàn với 27.139 hộ dân; Thanh Chương 75.805 hộ, Đô Lương 24.200 hộ... bị nhấn chìm trong lũ.[27]
Sau đó, tiếp tục xuất hiện thêm một đợt lụt nữa xảy ra tại Phú Khánh với nguyên nhân là mưa lớn do một xoáy thuận nhiệt đới (bão số 14) đổ bộ Nam Trung Bộ với tâm bão tại tỉnh Phú Khánh.[30][31] Ghi nhận đỉnh lũ sông Cái Nha Trang ở Đồng Trăng lên 13,39m đạt được vào ngày 3 tháng 11 năm 1978 (sau tính toán lại là 13,14m, cao nhất trước năm 2003),[32][33] mức này bằng đỉnh lũ xảy ra trong trận lũ năm 2025.
Trận lụt năm 1980 (tại Thanh Hóa)
[sửa | sửa mã nguồn]Bão số 6 (Ruth) đổ bộ vào Thanh Hóa kết hợp không khí lạnh gây ra trận lũ lịch sử trên hệ thống sông Mã. Đỉnh lũ thực đo tại trạm Giàng (Thanh Hóa) là 7,73m (ngày 17 tháng 9), sau hiệu chỉnh lại còn 7,51m. Lũ lên nhanh, cường suất lớn gây thiệt hại nặng nề.[34][35]
Trận lụt năm 1983
[sửa | sửa mã nguồn]Ảnh hưởng của các cơn bão và áp thấp nhiệt đới dồn dập (bão số 9, số 10, áp thấp nhiệt đới ngày 29 tháng 10) kết hợp không khí lạnh đã gây ra một đợt mưa lũ lớn tại khu vực Trung Trung Bộ, đặc biệt tâm điểm ở Huế. Đỉnh lũ đạt được trên sông Hương ở Kim Long là 4,88m.[14][15] Mưa lớn gây ra lũ lụt nghiêm trọng từ ngày 28 tháng 10 đến 1 tháng 11 làm 252 người chết, 115 người bị thương, 2.100 ngôi nhà bị sập, 1.511 ngôi nhà bị trôi.[17]
Trận lụt năm 1988
[sửa | sửa mã nguồn]Ảnh hưởng của tàn dư bão số 7 và áp thấp nhiệt đới ở Nghĩa Bình - Phú Khánh di chuyển lên kết hợp hội tụ kinh hướng đã gây ra mưa rất lớn tại khu vực Bắc Trung Bộ, trọng tâm là Nghệ Tĩnh (nay là Nghệ An và Hà Tĩnh) vào các ngày 8 đến 20 tháng 10 năm 1988. Đặc biệt tâm mưa tại Nghệ Tĩnh với tổng lượng mưa lên tới 500 đến 1000mm.[36] Đỉnh lũ tại trạm Dừa trên sông Cả đạt mức lịch sử (thực đo 22,50m, sau tính toán và hiệu chỉnh lại là 24,97m).[36][37] Trên sông Hiếu tại Quỳ Châu cũng ghi nhận lũ lịch sử với giá trị thực đo tại thời điểm năm 1988 là 65,87m, sau tính toán và hiệu chỉnh lại là 80,05m (bị phá vỡ năm 2007).[36][38]
Trận lũ này làm 103 người chết, 28 người mất tích, 506,5 nghìn người bị ảnh hưởng, hơn 14 nghìn nhà bị đổ và hơn 116 nghìn nhà bị ngập. 62,5 nghìn hecta lúa mất trắng và trên 595 nghìn hecta lúa bị ngập.[39]
Không lâu sau, do ảnh hưởng của bão số 10, trên lưu vực sông Ba và sông Kỳ Lộ tại Hà Bằng cũng xảy ra một trận lũ đặc biệt lớn, với mực nước lũ sông Kỳ Lộ được cho là tương đương trận lũ năm 1938 (tuy nhiên năm 2009 và 2025 đã vượt kỷ lục này). Đỉnh lũ trên sông Ba tại Củng Sơn cao nhất từ sau khi thống nhất đất nước (sau bị năm 1993 rồi 2025 phá vỡ).[11]
Trận lụt năm 1993
[sửa | sửa mã nguồn]Từ đầu tháng 10 đến giữa tháng 11 năm 1993, mưa lớn kéo dài tại các tỉnh Quảng Bình đến Bình Thuận đã dẫn đến trận lũ lụt lịch sử xảy ra tại khu vực này. Tại Quảng Bình, vào giữa tháng 10 đỉnh lũ trên sông Gianh tại Đồng Tâm đạt mức 18,39m (sau tính toán lại là 18,45m), là đỉnh lũ lịch sử tại trạm; tại Mai Hóa đỉnh lũ lịch sử là 8,68m (sau tính toán lại là 8,83m, lũ lịch sử đến năm 2007 bị phá vỡ).[32][40] Tại Phú Yên, trận lũ đặc biệt lớn, lũ lịch sử xảy ra trên sông Đà Rằng tại Củng Sơn và Phú Lâm trong đợt mưa lũ xảy ra vào đầu tháng 10, đỉnh lũ tại Củng Sơn đo tại thời điểm năm 1993 là 38,14m (sau tính toán lại là 39,90m), tại Phú Lâm là 8,54m (sau tính toán lại là 5,21m) đều là các giá trị lũ lịch sử cho đến trước năm 2025.[32][41] Lũ lịch sử cũng được cho là đã xảy ra trên sông Cà Ty (Bình Thuận) trong đợt lũ này.[32] Tỉnh Phú Yên ghi nhận 54 người chết, 8 người mất tích, thiệt hại ước tính 182 tỷ đồng (thời giá năm 1993), trận lụt tại Bình Thuận thiệt hại 82 tỷ đồng (giá năm 1993), Quảng Bình ghi nhận 30 người chết và mất tích.[32][41] Đầu tháng 11 năm 1993 tiếp tục xảy ra trận lũ lịch sử tại Ninh Thuận với đỉnh lũ lên đến 41,03m (sau tính toán lại là 40,27m, là giá trị lũ lịch sử trước năm 2003), làm 10 người chết.[32][42]
Trận lụt cuối năm 1998
[sửa | sửa mã nguồn]Năm cơn bão liên tiếp đổ bộ (số 4, số 5, số 6, số 8) và ảnh hưởng (số 7) chỉ trong vòng 1 tháng (14 tháng 11 đến 14 tháng 12) đã gây ra một đợt mưa lũ lịch sử tại các tỉnh Trung và Nam Trung Bộ.[13] Đỉnh lũ trên sông Thu Bồn ở Nông Sơn đạt mức lũ lịch sử (bị phá năm 2025).[43] Trên sông Krông A na ở Giang Sơn (Đắk Lắk) cũng ghi nhận lũ lịch sử.[44]
Hai trận lũ lụt lớn cuối năm 1999
[sửa | sửa mã nguồn]Trận lụt thứ nhất xảy ra từ ngày 1 đến ngày 6 tháng 11, do ảnh hưởng của không khí lạnh kết hợp với áp thấp nhiệt đới. Ở các tỉnh miền Trung đã xảy ra mưa lớn với lượng mưa từ 600–1000 mm.[45] Mưa tại tỉnh Thừa Thiên – Huế rất lớn; nhiều điểm tại tỉnh này mưa dồn dập khoảng 1.000 mm trong 1 ngày,[46] trong đó nổi bật là tại thành phố Huế với lượng mưa 2 ngày đêm là 2.288 mm[47][48] đã gây ra trận lũ lụt lịch sử, làm 352 người chết, 21 người mất tích, 94 người bị thương; cả một làng tại biển Thuận An bị lũ cuốn trôi ra biển; 90 vạn dân phải chịu đói rét trong nhiều ngày,... giá trị thiệt hại trên 1.700 tỷ đồng.[49]
Vào đầu tháng 12 năm 1999, một trận lụt lớn khác cũng xảy ra tại miền Trung mà tâm điểm đợt này nằm ở Quảng Nam (nay là Đà Nẵng).[50] Lượng mưa lớn tập trung vào 3 ngày là 3, 4 và 5. Tổng lượng mưa từ ngày 1 đến ngày 7 dao động trong phạm vi từ 200 đến hơn 2000 mm, trong đó khu vực từ Nam Quảng Nam đến Quảng Ngãi có lượng mưa trên 1000mm. Trung tâm mưa lớn xuất hiện ở thượng lưu sông Trà Bồng (Xuân Bình 2192 mm, thượng lưu sông Vệ tại Ba Tơ 2011 mm), gây ra lũ lịch sử ở các sông Trà Bồng, Trà Khúc và sông Vệ. Mực nước đỉnh lũ xuất hiện vào ngày 4, 5, một số nơi vào ngày 3. Lũ trên sông Trà Khúc, sông Vệ và có thể cả trên sông Trà Bồng cao hơn lũ lịch sử năm 1964.[51]
Từ năm 2000 đến nay
[sửa | sửa mã nguồn]Trận lụt năm 2003
[sửa | sửa mã nguồn]Trận lụt lịch sử tại các tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận, xảy ra vào các ngày 11 đến 14 tháng 11 năm 2003 do mưa lớn, ảnh hưởng của không khí lạnh và dải hội tụ nhiệt đới. Trên sông Cái Nha Trang tại Đồng Trăng và sông Cái Phan Rang đều ghi nhận giá trị lũ lịch sử. Sông Cái Nha Trang tại Đồng Trăng đo được 13,34m, vượt đỉnh lũ năm 1978 (nhưng bị phá vào năm 2009); trên sông Cái Phan Rang tại Tân Mỹ là 41,21m và tại Phan Rang là 5,34m, đều là các giá trị lũ lịch sử. Phan Rang ngập sâu trong nước.[42] Trận lũ lịch sử ở Ninh Thuận làm chết 9 người, hàng ngàn hộ nông dân trắng tay.[52]
Trận lụt năm 2007
[sửa | sửa mã nguồn]Trận lụt đầu tiên ảnh hưởng của bão số 2, từ ngày 05 đến 8 tháng 8 tại tỉnh Quảng Bình đã xảy ra lũ lịch sử trên sông Gianh, đã làm 54 người chết, mất tích; 1.062 nhà sập, trôi, 90.225 nhà ngập, hư hại; 58.658 ha luá, 43.164 ha hoa màu bị ngập; tổng thiệt hại ước tính là 926 tỷ đồng.[53]
Trận lụt tiếp theo xảy ra tại các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An do ảnh hưởng của bão số 5 (Lekima), đỉnh lũ trên sông Bưởi tại Thạch Thành, sông Mã tại Lý Nhân (Yên Định), sông Hiếu tại Quỳ Châu đều đạt mức lịch sử, thiệt hại kết hợp ảnh hưởng của bão lên đến 3.215 tỷ đồng.[40]
Ðợt mưa lũ lớn do ảnh hưởng của bão số 6 suy yếu trên biển, do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và gió mùa đông bắc tràn về từ ngày 28 tháng 10 đến 5 tháng 11 ở các tỉnh Trung Bộ cũng làm 94 người chết, năm người mất tích. Thiệt hại về vật chất khoảng 1.173 tỷ đồng.[54] Đỉnh lũ năm 2007 đã vượt năm 1999 0,2-0,5 m; vùng thượng lưu có nơi cao hơn đỉnh lũ năm 1999 cả mét.[55]
Trận lụt năm 2009
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 2009 khu vực miền Trung xảy ra hai trận lụt lớn. Trận lụt thứ nhất do bão Ketsana gây ra tại các tỉnh Trung Trung Bộ, trong đó, đỉnh lũ trên sông Vu Gia tại Ái Nghĩa đạt mốc lịch sử lúc 3 giờ 30 phút ngày 30 tháng 9 năm 2009 là 10,77m.[56][57] Một số sông khác như sông Trà Bồng (tại trạm Châu Ổ ở Quảng Ngãi), sông Đakbla (tại các trạm Konplông và Kon Tum ở tỉnh Kon Tum), sông Sêrêpôk ở Đắk Mốt (Kon Tum) cũng đã đạt đỉnh lịch sử. Bão số 9 và mưa lũ làm chết 178 người và làm bị thương 1.140 người, thiệt hại tài sản ước tính 16.078 tỷ đồng.[56]
Tháng 11 năm 2009, khu vực Nam Trung Bộ tiếp tục xảy ra đợt mưa lũ khác do ảnh hưởng của hoàn lưu bão Mirinae. Tại Phú Yên, trên sông Kỳ Lộ tại Hà Bằng đạt đỉnh lũ lịch sử 13,47m, cao hơn lũ lịch sử 1988 1,0m; tại Gia Lai, trên sông Ba tại Ayunpa nước lũ cũng đạt mốc lịch sử 158,96m, cao hơn lũ lịch sử 1988 0,99m. Trên sông Cái Nha Trang tại Đồng Trăng đỉnh lũ lịch sử là 13,42m, cao hơn lũ lịch sử 2003 0,08m. Bão và mưa lũ làm 124 người chết, 168 người bị thương, thiệt hại tài sản 5.796 tỷ đồng.[56]
Trận lụt năm 2010
[sửa | sửa mã nguồn]Vào năm 2010, Trung Bộ liên tiếp xảy ra mưa, lũ lớn. Trong tháng 10 năm 2010, Bắc Trung Bộ và Quảng Bình xảy ra liên tiếp hai trận mưa lũ lụt lớn, lượng mưa nhiều nơi lên đến trên 1000mm. Lũ đặc biệt lớn với đỉnh lũ các sông lên báo động 3 và trên báo động 3, gây ngập lụt trên diện rộng. Ngày 16 tháng 10, tại Hà Tĩnh đỉnh lũ sông Ngàn Sâu tại Chu Lễ vượt lũ lịch sử 2007, tại Hòa Duyệt vượt đỉnh lũ lịch sử năm 1960. Tại Quảng Bình, lũ trên sông Nhật Lệ tại Đồng Hới xấp xỉ lũ lịch sử 1983.[58] Đầu tháng 11 năm 2010, lũ lụt lớn tiếp tục xảy ra ở Nam Trung Bộ.[59] Bốn đợt mưa to, lũ lớn gây ngập lụt ở các tỉnh Trung Bộ, với 218 người chết, 35 người mất tích, 198 người bị thương.[60]
Trận lụt năm 2013
[sửa | sửa mã nguồn]Ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 15 (Podul), các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên hứng chịu một đợt mưa to khủng khiếp; lũ trên các sông từ Thừa Thiên - Huế đến Khánh Hòa và Tây Nguyên đã lên cao, với đỉnh lũ phổ biến ở mức trên báo động 3. Đặc biệt, đỉnh lũ tại sông Trà Khúc cao hơn đỉnh lũ lịch sử năm 1999 tới gần nửa mét. Tại sông Vệ, đỉnh lũ ở mức 6,03 m, cũng cao hơn đỉnh lũ lịch sử năm 1999. Tại Sông Ba, đỉnh lũ cao hơn đỉnh lũ lịch sử năm 1981 tới gần 1,7 m.[61] Lũ đã làm hư hại hoặc phá hủy 427.258 ngôi nhà, với tổng thiệt hại ước tính lên tới 4,1 nghìn tỷ đồng (theo mệnh giá năm 2013, tương đương 194,12 triệu đô la Mỹ năm 2013).[62] Trên toàn lãnh thổ Việt Nam, lũ lụt đã cướp đi sinh mạng của 44 người và làm 74 người khác bị thương.[63][64]
Trận lụt năm 2016
[sửa | sửa mã nguồn]Từ giữa tháng 10 đến giữa tháng 12 năm 2016, liên tiếp xảy ra 5 đợt mưa, lũ lớn và đặc biệt lớn trên diện rộng ở miền Trung do ảnh hưởng của tổ hợp áp thấp nhiệt đới, gió Đông trên cao và không khí lạnh. Mở đầu là đợt mưa lũ từ 13 đến 16 tháng 10 ở các tỉnh từ Nghệ An đến Thừa Thiên-Huế, tâm điểm tại Hà Tĩnh và Quảng Bình, đặc biệt trong 24 giờ, từ đêm 13 đến ngày 14/10, tổng lượng mưa đo được tại trạm khí tượng Đồng Hới (Quảng Bình) lên tới 747 mm, trong đó riêng 6 tiếng từ 13h đến 19h hôm qua tới 500 mm, là kỷ lục trong lịch sử.[65] Đỉnh lũ tại thượng lưu một số sông ở Hà Tĩnh, Quảng Bình đã đạt đỉnh xấp xỉ mức lũ lịch sử năm 2010 tại Hà Tĩnh và năm 2007 tại Quảng Bình.[66][67] Đợt mưa lũ này làm 37 người chết và thiệt hại lên đến 4,6 nghìn tỷ đồng.[68] Kết thúc bằng đợt mưa lũ lịch sử tại Nam Trung Bộ từ 13 đến 15 tháng 12, hàng loạt sông vượt báo động 3; tại sông Vệ - Quảng Ngãi, xấp xỉ đỉnh lũ lịch sử năm 2013; lũ tại sông Kôn ở Thạnh Hòa (Bình Định) đạt 9,52m cũng xấp xỉ đỉnh lũ lịch sử năm 2013 (9,68m).[69][70][71] Đợt mưa lũ này gây thiệt hại nghiêm trọng, 31 người chết, 50 người bị thương và thiệt hại 2.030 tỷ đồng.[68] Tính chung 5 đợt mưa lũ làm 129 người chết, mất tích, 151 người bị thương; 1.195 nhà bị đổ, trôi, 236.196 nhà bị ngập, thiệt hại; 103.902 ha diện tích lúa và hoa màu bị ngập, thiệt hại; 32.057 ha cây công nghiệp, cây ăn quả bị đổ gãy, thiệt hại; hơn 1,2 triệu con gia súc, gia cầm bị chết, trôi,...tổng thiệt hại ước tính khoảng 10.519 tỷ đồng.[53]
Trận lụt năm 2017
[sửa | sửa mã nguồn]Bão số 12 (Damrey) đổ bộ vào Khánh Hòa gây mưa lũ lớn, lượng mưa đặc biệt lớn, có nơi lượng mưa đo được gần 2.000mm, kỷ lục từ trước tới nay, mực nước các sông lên cao xấp xỉ mức lịch sử. Ngay trước thềm Hội nghị APEC, cố đô Huế, phố cổ Hội An và nhiều nơi thuộc các tỉnh như Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định... chìm trong biển nước.[72][73] Lũ lớn trên mức trên báo động 3 ở hầu hết các sông. Bão số 12 và mưa lũ sau bão làm 123 người chết và mất tích; 3.550 nhà nhà sập đổ, 134.000 nhà tốc mái, hư hỏng; 11.224 ha lúa, 27.301 ha rau, hoa màu bị ngập, thiệt hại; 38.629 lồng bè nuôi trồng thủy, hải sản; 1.809 tàu thuyền bị chìm, hư hỏng. Tổng thiệt hại ước tính khoảng 22.680 tỷ đồng.[53]
Trận lụt năm 2020
[sửa | sửa mã nguồn]Đây là trận lụt lịch sử với quy mô rất lớn và kéo dài 42 ngày (từ 6 tháng 10 đến 17 tháng 11) khi chịu ảnh hưởng của tổ hợp 8 cơn bão và áp thấp nhiệt đới.[74] Do ảnh hưởng dồn dập của các cơn bão, kết hợp với hình thái thời tiết cực đoan, dị thường đã gây mưa lớn kéo dài tại khu vực miền Trung. Tâm điểm xảy ra vào tháng 10 năm 2020 tại các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế; nhiều nơi mưa lớn trên 3.000mm như Hướng Linh (Quảng Trị): 3.408mm, A Lưới (Thừa Thiên - Huế): 3.446mm. Lượng mưa đặc biệt lớn xảy ra ở nhiều khu vực như tại thành phố Hà Tĩnh (Hà Tĩnh) 884mm/ngày, Kim Sơn (Hà Tĩnh) 847mm; Ba Đồn (Quảng Bình) 756mm; Hướng Linh (Quảng Trị) 763mm/ngày; Thượng Nhật (Thừa Thiên - Huế)719mm/ngày.[75] Đỉnh lũ trên sông Hiếu tại Đông Hà, Quảng Trị lúc 3 giờ sáng ngày 18 tháng 10 lên 5,36 m, vượt lũ lịch sử năm 1983 tới 0,78 m; đỉnh lũ trên sông Thạch Hãn lúc 2 giờ sáng ngày 18 tháng 10 là 7,4 m, vượt đỉnh lũ lịch sử năm 1999 là 0,11 m. Mực nước trên sông Kiến Giang tại huyện Lệ Thủy, Quảng Bình lúc 6 giờ sáng ngày 19 tháng 10 là 4,88 m, vượt 0,97 m so với đỉnh lũ lịch sử năm 1999. Toàn bộ đều vượt qua Đại hồng thủy 1999; lần đầu tiên thành phố Đồng Hới bị ngập lụt.[76] Bão và mưa lũ lịch sử, lũ quét, sạt lở đất làm 249 người chết, mất tích;1.531 nhà sập, 239.341 nhà bị hư hại, tốc mái, 473.449 lượt nhà bị ngập; nhiều công trình phòng, chống thiên tai, cơ sở hạ tầng, dân sinh bị hư hỏng, sạt lở. Ước tính thiệt hại về kinh tế trên 36.000 tỷ đồng.[77]
Trận lụt năm 2025
[sửa | sửa mã nguồn]Đây là trận lụt lịch sử với quy mô được đánh giá là tương đưong và lớn hơn các trận lũ năm 1964 và 1999 tại Trung Trung Bộ; 1993 và 2009 ở Nam Trung Bộ.
Trong giai đoạn 1, mưa lớn kéo dài do hoàn lưu tàn dư bão số 12 (Fengshen), ảnh hưởng bão số 13 (Kalmaegi) kết hợp không khí lạnh, nhiễu động gió Đông, từ 16 tháng 10 đến 9 tháng 11, đặc biệt tại đỉnh Bạch Mã (Huế), tổng lượng mưa tính từ 19 giờ ngày 26 tháng 10 đến 19 giờ ngày 27 tháng 10 đạt 1.739,6mm, được ngành khí tượng Việt Nam xác nhận là lượng mưa một ngày lớn nhất từ trước đến nay ở nước này cũng như lớn thứ hai thế giới (trong 24 giờ liên tục).[78] Trên các sông ở Trung Trung Bộ, đặc biệt ở Huế và Đà Nẵng xuất hiện lũ đặc biệt lớn, với mực nước trên hầu hết các sông vượt mức báo động 3. Sông Bồ (Huế) tại trạm Phú Ốc đạt 5,31 m chiều 3 tháng 11, cao hơn mức lũ lịch sử năm 2020 (5,24 m) là 0,07 m và phá kỷ lục 3 lần chỉ trong một tuần.[2] Tại sông Vu Gia (Đà Nẵng) tại trạm Thành Mỹ đạt 27,2 m cao hơn mức lũ lịch sử năm 2007 (27,14 m) 0,06 m và tại trạm Hội Khách đạt 19,32 m, cao hơn mức lũ lịch sử năm 2009 (18,14m) 1,18 m, đều đạt được trong chiều 29 tháng 10. Tối 29 tháng 10, sông Thu Bồn (Đà Nẵng) tại trạm Nông Sơn đạt 18,68 m, cao hơn mức lịch sử năm 1998 (18,53 m) 0,15 m; tại trạm Câu Lâu đạt 5,62 m (lúc 2 giờ ngày 30 tháng 10), cao hơn mức lũ lịch sử năm 1964 (5,48 m) 0,14 m.[43] Trên sông Hương tại Kim Long đỉnh lũ cũng đạt 5,05m, cao nhất từ năm 1999 đến nay.[79] Trên sông Ba tại Ayunpa (Gia Lai) đỉnh lũ sáng 7 tháng 11 cũng đạt 158,29m, kém đỉnh lũ lịch sử 2009 là 0,34m.[80]
Trong giai đoạn 2, mưa lớn trong thời đoạn ngắn do ảnh hưởng của không khí lạnh, nhiễu động gió Đông và địa hình dãy Trường Sơn đã gây ra tình trạng lũ lụt. Lượng mưa tại nhiều trạm như Sơn Hòa (Đắk Lắk) 601,2 mm hay Quy Nhơn (Gia Lai) 380,6 mm đều vượt các kỷ lục lịch sử từng ghi nhận, trong khi một số trạm khác như Sơn Thành Tây, Sơn Thành Đông, Hòa Mỹ Tây, Sông Hinh ghi nhận tới 1.000 - 1.200 mm trong các ngày 16 đến 22 tháng 11. Lũ trên sông Ba vượt mức lịch sử năm 1993, đỉnh lũ tại trạm Củng Sơn là 40,99m, vượt mức lũ lịch sử tới 1,09m; tại trạm Phú Lâm là 5,40m vượt lũ lịch sử 0,19m. Trên sông Kỳ Lộ (Đắk Lắk), đỉnh lũ tại trạm Hà Bằng là 13,90m, vượt lũ lịch sử năm 2009 là 0,43m. Trên sông Dinh Ninh Hòa (Khánh Hòa) tại trạm Ninh Hòa, đỉnh lũ là 6,77m, vượt mức lũ lịch sử năm 1986 là 0,19m. Trên sông Đa Nhim, đỉnh lũ tại trạm Đại Ninh là 836,17m, vượt lũ lịch sử năm 1993 tới 2,72m.[81][82] Trên sông Hà Thanh ở Diêu Trì (Gia Lai) vào ngày 19 tháng 11, lên mức 7,4m, vượt lũ lịch sử năm 2009 là 23cm.[83] Thủy điện Sông Ba Hạ tại Đắk Lắk phải xả lũ với lưu lượng 16.100 mét khối trên giây vào lúc 18 giờ ngày 19 tháng 11, mức xả được cho là lớn nhất từ trước đến nay từ khi vận hành thủy điện và cũng được cho là mức xả lũ cao nhất từ trước đến nay ở Việt Nam.[84][85] Tại Lâm Đồng, lũ trên sông Cam Ly, sông Đa Nhim cũng đạt mức lịch sử.[86][87] Đây được cho là trận lụt hiếm gặp, lớn nhất nửa thế kỷ qua ở Nam Trung Bộ.[88]
Trước đó 4 tháng, chịu ảnh hưởng gián tiếp từ cơn bão số 1, khu vực Trung Trung Bộ đã xuất hiện mưa lũ lớn trái mùa. Tổng lượng mưa 3 ngày 11 đến 13 tháng 6 phổ biến 250-400mm, riêng các tỉnh từ Quảng Trị - Đà Nẵng tổng lượng mưa 3 ngày phổ biến từ 300-650mm, có nơi cao hơn như Nam Đông (Huế) 768mm. Đáng chú ý, tại Nam Đông, mức 559mm vào ngày 12 tháng 6 năm 2025 là hiếm gặp.[89] Một loạt các sông như sông Kiên Giang tại Quảng Bình, sông Thạch Hãn tại Quảng Trị, sông Bồ tại Huế, sông Vu Gia tại Quảng Nam lũ dâng cao từ báo động 2 đến trên báo động 3. Ngập lụt sâu diện rộng, là đợt mưa lũ lớn hiếm thấy vào tháng 6 ở khu vực miền Trung.[90]
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ cand.com.vn. "Khi lụt vào kinh thành". Báo Công an Nhân dân điện tử. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
- ^ a b "Chuyên gia lý giải nguyên nhân TP Huế liên tiếp mưa lũ, ngập lụt". VietNamNet News. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2025.
- ^ "Nhà Nguyễn ứng phó với thiên tai, dịch bệnh như thế nào?". danviet.vn. ngày 23 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
- ^ Thị, Báo Kinh Tế Đô. "Những trận bão lụt kinh hoàng trong lịch sử". Báo Kinh Tế Đô Thị. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
- ^ thanhnien.vn (ngày 19 tháng 11 năm 2024). "Kể chuyện dòng sông xứ Quảng: Trà Khúc - dòng sông Mẹ". Báo Thanh Niên. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
- ^ "Chương Nghĩa huyện và Chương Nghĩa quận". Chương Nghĩa huyện và Chương Nghĩa quận. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
- ^ a b Tổng hợp từ các nguồn:
- "Bảng mực nước lũ lịch sử". Trung tâm chính sách và kỹ thuật PCTT. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2025.
- Đặc điểm Khí tượng thủy văn Việt Nam (từ năm 1993 đến nay)
- Tạp chí Khí tượng thủy văn
- Cục Quản lý đê điều và phòng chống thiên tai
- Ban chỉ huy phòng thủ dân sự các tỉnh
- ^ "Année 1934" (PDF). Đài khí tượng Đông Dương. 1935.
- ^ a b "Cơn bão tháng 10 năm 1934 tại miền Trung 90 năm nhìn lại". Sở KHCN Nghệ An. ngày 15 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
- ^ Cơ quan Khí tượng Đông Dương (1940), Annales du Service Météorolologique de L'Indochine – Années 1938 et 1939 (PDF) (bằng tiếng Pháp), Hà Nội: Chính phủ Bảo hộ Đông Dương
- ^ a b "Bão số 10 năm 1988 và công tác phục vụ của Đài Khí tượng thủy văn Phú Khánh". Tạp chí KTTV.
- ^ "Chuyên gia lý giải nguyên nhân TP Huế liên tiếp mưa lũ, ngập lụt". VietNamNet News (bằng tiếng vietnamese). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2025.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ^ a b c "Lũ lụt ở nước ta và định hướng các giải pháp phòng tránh".
- ^ a b "Đánh giá vai trò của các hình thế thời tiết gây mưa lũ ở lưu vực sông Hương, tỉnh Thừa Thiên Huế - giai đoạn 1976 - 2013". Tạp chí khoa học ĐHSP TPHCM. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2025.
- ^ a b "GIẢM THIỂU LŨ LỤT Ở LƯU VỰC SÔNG HƯƠNG TỈNH THỪA THIÊN HUẾ TRÊN CƠ SỞ QUY HOẠCH THẢM THỰC VẬT" (PDF). Tạp chí khoa học Đại học Huế. 2008. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2025.
- ^ "Mùa bão lũ cực đoan ở Thừa Thiên – Huế – HUSTA". Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
- ^ a b ONLINE, TUOI TRE (ngày 10 tháng 2 năm 2008). "Trời hành cơn lụt mỗi năm". TUOI TRE ONLINE. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
- ^ "Kinh thành Huế có bao nhiêu cửa thành?".
- ^ "Flood Disaster In Vietnam". The Sydney Morning Herald. Số 39594. Sydney, Australia. Australian Associated Press, Reuters. ngày 11 tháng 11 năm 1964. tr. 3. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020 – qua Newspapers.com.
- ^ "Strikes, Floods, Typhoons in Vietnam Cripple War With Reds". Petsokey News-Review. Quyển 79 số 36. Petoskey, Michigan. United Press International. ngày 11 tháng 11 năm 1964. tr. 1. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020 – qua Newspapers.com.
- ^ Foisie, Jack (ngày 13 tháng 11 năm 1964). "Nature's Devastation Perils Viet War". The Boston Globe. Quyển 186 số 136. Boston, Massachusetts. tr. 1, 5. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020 – qua Newspapers.com.
- ^ "Những trận bão lũ kinh hoàng năm Giáp Thìn".
- ^ "Nhà thơ Tường Linh: Thường hằng một nỗi hoài hương". Báo Đà Nẵng.
- ^ "Nhìn lại thời tiết thế giới năm 1978". SGGP.
- ^ "Đặc điểm mưa lũ trên sông Cả và tính toán hoàn nguyên lũ (trận lũ lịch sử 9/1978)" (PDF). Tạp chí KTTV.
- ^ "Công tác dự báo, cảnh báo phục vụ phòng chống đợt mưa lũ lịch sử tháng 10/2010 ở Hà Tĩnh". Sở KHCN Hà Tĩnh.
- ^ a b ""Bảo bối" đối phó lũ miền Trung". nongnghiepmoitruong.vn. ngày 10 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2025.
- ^ ONLINE, TUOI TRE (ngày 19 tháng 10 năm 2010). "Hơn 152.000 ngôi nhà bị ngập, 34 người thiệt mạng". TUOI TRE ONLINE. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2025.
- ^ "Đặc điểm thiên tai mưa, bão, lũ miền Trung và công tác KTTV phục vụ phòng tránh, giám nhẹ thiệt hại" (PDF). Tạp chí KTTV.
- ^ "1978 Severe Tropical Storm UNNAMED (1978303N14131)".
- ^ "Khảo sát thêm về hệ số khúc xạ sóng vô tuyến điện và đường đi của bão". Tạp chí KTTV.
- ^ a b c d e f "Đặc điểm KTTV 1993" (PDF). dacdiemkttv_1993. Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Việt Nam. tr. 40. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2015.
- ^ Bùi Minh Sơn (1999). "Mùa mưa lũ năm 1998 ở Khánh Hòa". Tạp chí KTTV. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2025.
- ^ "Đặc điểm trận lũ lớn nhất ở sông Mã trong mùa lũ năm 1980".
- ^ "Lũ và việc dự báo lũ trên sông Mã bằng mô hình NAM - Mike11".
- ^ a b c "Đợt mưa lũ lớn ở miền Trung tháng X/1988" (PDF). Tạp chí KTTV.
- ^ "MEMBER REPORT SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM ESCAP/WMO Typhoon Committee 20th Integrated Workshop" (PDF). Cục Khí tượng thủy văn. ngày 25 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2025 – qua Typhoon Committee.
- ^ cand.com.vn. "Cơn lũ lịch sử lần thứ hai trong năm?". Báo Công an Nhân dân điện tử. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2025.
- ^ "Hoạt động của bão và áp thấp nhiệt đới năm 1988" (PDF). Tạp chí KTTV.
- ^ a b "Đặc điểm KTTV 2007" (PDF). Tổng cục KTTV.
- ^ a b "Đợt mưa lũ lớn trên các sông miền Trung từ 1 đến 6 tháng X năm 1993".
- ^ a b "Diễn biến đợt mưa, lũ đặc biệt lớn tháng XI năm 2003 trên các sông tỉnh Phú Yên-Khánh Hòa - Ninh Thuận và công tác dự báo phục vụ". Tạp chí KTTV.
- ^ a b thanhnien.vn (ngày 30 tháng 10 năm 2025). "'Đại hồng thủy' trên sông Thu Bồn vượt lũ lịch sử năm thìn 1964 là 0,14 m". Báo Thanh Niên. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
- ^ Nguyễn Văn Thường (1999). "Lũ lịch sử xảy ra trong tháng XI-1998 trên sông Krông Ana tỉnh Đắc Lắc". Tạp chí KTTV.
- ^ Nhiều tác giả (2000), Cuốn đặc điểm khí tượng thủy văn Việt Nam 1999 (PDF), Hà Nội: Tổng cục Khí tượng Việt Nam
- ^ Theo sách Địa chí Thừa Thiên – Huế (2005). "Mưa lớn ở Thừa Thiên – Huế". Công báo tỉnh Thừa Thiên – Huế. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2015.
- ^ Nhiều tác giả 2000, tr. 22.
- ^ Nguyễn Ty Niên (ngày 15 tháng 12 năm 2009). "Những vấn đề cần quan tâm qua mười năm bão, lũ ở miền trung". Báo Nhân dân. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2015.
- ^ Trí, Dân (ngày 2 tháng 11 năm 2019). "Nhìn lại hình ảnh trận lũ kinh hoàng năm 1999 cướp sinh mạng 352 người". Báo điện tử Dân Trí. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
- ^ ONLINE, TUOI TRE (ngày 4 tháng 11 năm 2009). "'Đại hồng thủy 1999', chuyện kể sau 10 năm - Kỳ 4: Quyết định sinh tử". TUOI TRE ONLINE. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
- ^ "Về hai trận lũ cuối năm 1999 ở miền Trung".
- ^ NLD.COM.VN (ngày 15 tháng 11 năm 2003). "46 người chết, thiệt hại tài sản rất lớn". Báo Người Lao Động Online. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2025.
- ^ a b c "20 năm trận lũ lịch sử miền Trung".
- ^ tử, Báo Nhân Dân điện (ngày 31 tháng 12 năm 2007). "Miền trung gánh chịu nhiều thảm họa thiên tai". Báo Nhân Dân điện tử. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
- ^ "10 triệu dân miền Trung tìm cách sống chung với lũ".
- ^ a b c "Đặc điểm KTTV 2009" (PDF). Trung tâm DB KTTV QG. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2025.
- ^ tử, Báo Nhân Dân điện (ngày 28 tháng 10 năm 2020). "Cảnh báo lũ đặc biệt lớn trên sông Vu Gia và ngập lụt diện rộng". Báo Nhân Dân điện tử. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
- ^ "Hai đợt mưa lũ đặc biệt lớn trong tháng 10 năm 2010 ở miền trung: Nguyên nhân, công tác dự báo phục vụ và giải pháp".
- ^ Online, TTVH (ngày 3 tháng 11 năm 2010). "Lũ lụt ở Nam Trung Bộ làm 14 người chết, mất tích". thethaovanhoa.vn. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
- ^ tử, Báo Nhân Dân điện (ngày 27 tháng 12 năm 2010). "Thiên tai năm 2010". Báo Nhân Dân điện tử. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
- ^ "Nhiều kỷ lục thiên tai trong năm 2013".
- ^ "Thống kê thiệt hại do thiên tai năm 2013" (PDF).
- ^ Vietnam - Floods (ECHO Daily Flash 19 November 2013). European Commission Humanitarian Aid department (Báo cáo). ngày 19 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2014.
- ^ "Super Typhoon Haiyan leads November catastrophe losses with $6bn economic impact, according to Impact Forecasting report". Wall Street Journal. PR Newswire. ngày 6 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2014.
- ^ cand.com.vn. "Mưa hơn 700mm ở Quảng Bình là". Báo Công an Nhân dân điện tử. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
- ^ "Mưa lũ gây thiệt hại tại các tỉnh miền Trung - Trung tâm Chính sách và Kỹ thuật phòng chống thiên tai". dmc.gov.vn. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
- ^ "Thiệt hại nghiêm trọng do mưa lũ ở miền Trung". giaothong.tapchixaydung.vn. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
- ^ a b "Thiệt hại do thiên tai năm 2016" (PDF).
- ^ baodientuvtv (ngày 29 tháng 12 năm 2016). "Nhìn lại các đợt thiên tai trong năm 2016". BAO DIEN TU VTV. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
- ^ "Báo cáo tổng kết tình hình KTTV khu vực tỉnh Bình Định năm 2016, Quý 1 năm 2017 và Nhận định các tháng tới năm 2017".
- ^ Đặc điểm KTTV 2016. Trung tâm Dự báo KTTV Quốc gia.
- ^ "2017 - Năm thiên tai nặng nề". Nhân Dân. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
- ^ "Báo VietnamNet". VietNamNet News (bằng tiếng vietnamese). Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ^ baodientuvtv (ngày 11 tháng 5 năm 2024). "Mưa lũ dồn dập vào cuối năm do ảnh hưởng La Nina, tương tự năm mưa lũ lịch sử 2020". BAO DIEN TU VTV. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
- ^ Vietnam+ (VietnamPlus) (ngày 19 tháng 12 năm 2020). "Nhìn lại năm 2020: Một năm thiên tai khốc liệt và dị thường". Vietnam+ (VietnamPlus). Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
- ^ "Nước lũ lần đầu tiên gây ngập Thành phố Đồng Hới, Quảng Bình". ngày 20 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2020.
{{Chú thích web}}:|ngày lưu trữ=cần|url lưu trữ=(trợ giúp) - ^ Nam, Báo Pháp Luật Việt (ngày 26 tháng 11 năm 2021). "Mưa lũ năm 2020, 2021 khiến miền Trung thiệt hại kinh tế hơn 38.000 tỷ đồng". Báo Pháp Luật Việt Nam. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
- ^ ONLINE, TUOI TRE (ngày 29 tháng 10 năm 2025). "Mưa một ngày ở Huế lên tới 1.739mm, chỉ kém mưa kỷ lục thế giới 86mm". TUOI TRE ONLINE. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
- ^ "Huế: Lũ sông Hương xuống sát báo động 3, hơn 44.500 ngôi nhà bị ngập". Báo Quân đội nhân dân. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
- ^ tử, Báo Gia Lai điện (ngày 7 tháng 11 năm 2025). "Cảnh báo lũ khẩn cấp trên sông Ba". Báo Gia Lai điện tử. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2025.
- ^ Khánh Ly (ngày 23 tháng 11 năm 2025). "Mưa, lũ lịch sử tại Nam Trung Bộ là hiện tượng hiếm gặp". nongnghiepmoitruong.vn. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2025.
- ^ "Lũ Nam Trung Bộ lớn nhất trong hơn 50 năm qua". Vnexpress. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2025.
- ^ "QUYẾT ĐỊNH Về việc công bố tình huống khẩn cấp về thiên tai do bão và lũ" (PDF). UBND tỉnh Gia Lai. ngày 27 tháng 11 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2025.
- ^ Lê Tuyết; Bùi Toàn (ngày 19 tháng 11 năm 2025). "Thủy điện Sông Ba Hạ xả 16.100 m3/s, lớn nhất từ trước đến nay". Vnexpress. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2025.
- ^ Văn Thành (ngày 19 tháng 11 năm 2025). "Thuỷ điện Ba Hạ xả lũ kỷ lục, hàng nghìn ngôi nhà chìm trong biển nước". Báo Công an Nhân dân điện tử. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2025.
- ^ Kiều Hằng (ngày 2 tháng 11 năm 2025). "Đợt mưa lũ tại khu vực Đông Nam tỉnh Lâm Đồng nghiêm trọng nhất trong hơn 3 thập kỷ". Báo Lâm Đồng. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2025.
- ^ Thanh Trà (ngày 4 tháng 12 năm 2025). "Mưa lớn gây lũ, ngập lụt nghiêm trọng tại Lâm Đồng, 1 người thiệt mạng". Báo Nhân dân. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2025.
- ^ "Mưa lũ miền Trung: Chuyên gia chỉ ra một hiện tượng lũ cực kỳ hiếm, chưa từng xuất hiện trong hơn 50 năm qua". danviet.vn. ngày 23 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2025.
- ^ "Mưa lũ chưa từng thấy giữa tháng 6 ở miền Trung, thời tiết còn 'dị thường'". VietNamNet News. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2025.
- ^ baodientuvtv (ngày 13 tháng 6 năm 2025). "Nguyên nhân gây mưa lớn chưa từng có trong tháng 6 ở miền Trung". BAO DIEN TU VTV. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2025.