Câu lạc bộ bóng đá Đắk Lắk

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Câu lạc bộ bóng đá Đắk Lắk
Logo DakLakFC 2017.jpg
Tên đầy đủ Câu lạc bộ bóng đá Đắk Lắk
Biệt danh Những chú voi con
Thành lập 1975
Sân vận động Buôn Mê Thuột
thành phố Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk
Sức chứa 25.000
Chủ tịch Võ Thành Danh
Huấn luyện viên Trần Phi Ái
Giải đấu Hạng nhất
2017 Giải hạng nhất, thứ 5
Web Trang chủ
Sân nhà
Sân khách
Soccerball current event.svg Mùa giải hiện nay

Câu lạc bộ bóng đá Đắk Lắk là một câu lạc bộ bóng đá Việt Nam có trụ sở ở thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đắk Lắk nằm ở trung tâm khu vực Tây nguyên, có vị trí chiến lược rất quan trọng về chính trị, hội tụ mọi điều kiện về phát triển kinh tế - xã hội; tài nguyên thiên nhiên rất đa dạng, phong phú; trình độ dân trí và mặt bằng văn hóa từng bước được nâng lên; tình hình an ninh – quốc phòng ổn định. Là địa phương có dân số đông trên 1,8 triệu người cho nên rất thuận lợi cho các lĩnh vực kinh tế - xã hội phát triển. Trong đó, nhu cầu thưởng thức và hưởng thụ văn hóa – thể thao của đồng bào các dân tộc trong tỉnh, nhất là môn bóng đá đã được yêu thích và chiếm được lòng tin yêu của người hâm mộ tỉnh nhà.

Đắk Lắk là tỉnh có truyền thống và bề dày về bóng đá trước đây, cũng như sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước 30-4. Năm 1976, Đội tuyển bóng đá Đắk Lắk đã tham gia giải bóng đá “Trường Sơn” khu vực miền Trung và những năm tiếp theo đều tham gia các giải bóng đá hạng A2, A1 toàn quốc, kết quả đều đạt thứ hạng khá trong khu vực và cả nước. Cũng như đã từng tham gia giải hạng nhất quốc gia từ những năm đầu thập kỷ 90. Đội bóng đá Đắk Lắk là đội bóng bán chuyên nghiệp trực thuộc sở VHTTDL tỉnh Đắk Lắk. Mùa giải 2013 sau 10 năm thi đấu ở giải hạng nhì đội đã thi đấu xuất sắc và giành thứ hai bảng B với 6 thắng, 4 hòa sau 10 vòng đấu. Ngày 27/7/2013 đội chính thức giành quyền lên chơi giải Hạng nhất 2014 sau khi giành chiến thắng 1-0 trước Nam Định. Mùa giải Hạng Nhất 2015, đội đứng thứ 5 với chiến thắng trước Công An Nhân dân và chính thức trụ hạng. Mùa 2016, câu lạc bộ có sự chuyển biến mạnh mẽ khi thay huấn luyện viên mới và tăng cường đội hình.

Đắk Lắk là tỉnh có truyền thống và bề dày về bóng đá trước đây, cũng như sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước 30-4. Năm 1976, Đội tuyển bóng đá Đắk Lắk đã tham gia giải bóng đá “Trường Sơn” khu vực miền Trung và những năm tiếp theo đều tham gia các giải bóng đá hạng A2, A1 toàn quốc, kết quả đều đạt thứ hạng khá trong khu vực và cả nước. Cũng như đã từng tham gia giải hạng nhất quốc gia từ những năm đầu thập kỷ 90.

Hiện nay, Đắk Lắk có khoảng 20 Huấn luyện viên bóng đá tốt nghiệp Đại học chuyên ngành.Trong đó có 6 HLV bằng C, 2 HLV bằng B theo chứng chỉ của AFC và 01 có chứng chỉ quản lý theo qui chế của FIFA, 02 thạc sĩ . Các huấn luyện viên được phân bổ ở các tuyến đào tạo và đội tuyển tỉnh.

Các vận động viên năng khiếu tập trung và các tuyển trẻ của tỉnh đuợc chi phí bằng nguồn kinh phí ngân sách của Nhà nước; một buổi học văn hóa, một buổi tập luyện. Nhìn chung chất lưọng đào tạo vận động viên năng khiếu và các tuyển trẻ so với nhiều địa phương khác trong khu vực và toàn quốc tỉnh đã đầu tư làm tốt. Hầu hết các vận động viên từ nguồn đào tạo từ các tuyến trẻ đã bổ sung cho đội tuyển nhiều năm qua của tỉnh.

Qua quá trình phấn đấu, đội tuyển bóng đá tỉnh đã nhận được sự quan tâm, ưu ái của các cấp lãnh đạo Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các cơ quan ban ngành trong tỉnh. Sau 10 năm thi đấu ở hạng nhì, đội bóng đá tỉnh Đắk Lắk đã nỗ lực, với quyết tâm giành thắng lợi và đã được chuyển lên thi đấu ở giải hạng nhất quốc gia năm 2014.

Để huy động mọi nguồn lực trong xã hội chăm lo cho hoạt động phong trào bóng đá tỉnh và cũng nhằm đầu tư nâng cao thành tích thi đấu, giữ vững mục tiêu trụ hạng cho đội tuyển bóng đá hạng nhất tỉnh Đắk Lắk; đồng thời nhằm tiến đến mục tiêu phấn đấu chuyển hạng lên thi đấu ở giải vô địch quốc gia (V.League 1) trong những năm tới, với mục đích quảng bá hình ảnh, tiềm năng, đất nước và con người Đắk Lắk trên cả nước và thế giới.

Về cơ sở vật chất, trang thiết bị dụng cụ phục vụ đã đủ điều kiện đáp ứng cho các tuyến năng khiếu, tuyến trẻ và đội tuyển tập luyện và thi đấu. Hiện nay, Sân vận động Buôn Ma Thuột có sức chứa 25 nghìn chỗ ngồi là một trong những sân lớn nhất của khu vực miền Trung; về mặt sân cỏ đủ đảm bảo tổ chức thi đấu các giải quốc gia và quốc tế.

Câu lạc bộ bóng đá Đắk Lắk tiếp tục xây dựng bộ máy quản lý theo hướng chuyên nghiệp hóa. Hiện nay, đang tập trung kêu gọi, vận động các doanh nghiệp đầu tư chuyền đổi nhằm đáp ứng theo Quy chế của LĐBĐ Việt Nam và nhất là tranh thù nguồn lực kinh phí của Nhà nước để duy trì và phát triển. Tập trung củng cố Ban huấn luyện các tuyến có nhiều kinh nghiệm; cải tiến phương pháp đào tạo, nâng cao hiệu quả đào tạo vận đông viên trẻ; tăng cường cơ sở vật chất, công tác chăm sóc dinh dưỡng, y tế, đầu tư khoa học công nghệ cho công tác đào tạo trước mắt và lâu dài. Thường xuyên kiểm tra, đánh giá thực chất, mạnh dạn, kiên quyết thanh loại những vận động viên trẻ khả năng yếu kém; tập trung phát triển, bổ sung lực lượng các vận động viên có triển vọng có chất lượng để nhằm sẵn sàng chuyển tiếp cho đội tuyển bóng đá tỉnh.

Câu lạc bộ Đắk Lắk tiếp tục xây dựng bộ máy quản lý theo hướng chuyên nghiệp hóa. Hiện nay, đang tập trung kêu gọi, vận động các doanh nghiệp đầu tư, chuyển đổi, nhằm đáp ứng theo Quy chế bóng đá chuyên nghiệp và nhất là tranh thủ nguồn lực kinh phí của Nhà nước để duy trì và để phát triển đội bóng đá tỉnh xứng với tiềm năng, con người Đắk Lắk, do đó rất cần sự quan tâm và đồng hành của mọi nguồn lực của tỉnh Tiếp tục củng cố câu lạc bộ Đắk Lắk chuẩn bị cho mùa giải mới, rà soát lực lượng cầu thủ nhằm đáp ứng năng lực chuyên môn, đồng thời mạnh dạn tăng cường lực lượng cầu thủ trẻ từ nguồn đào tạo của tỉnh nhà lên đội tuyển và bổ sung một số cầu thủ có chất lượng làm nòng cốt về đầu quân cho đội Đắk Lắk tham gia tập luyện và thi đấu, phấn đấu đạt vị trí trung bình khá mùa bóng tới.


Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến đầu mùa giải Hạng nhất 2018[1].

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
2 Việt Nam HV Vũ Thành Công
4 Việt Nam TV Phạm Hồng Sơn
5 Việt Nam HV Danh Lương Thực
6 Việt Nam HV Đinh Xuân Dương
7 Việt Nam TV Trần Thanh Sơn
8 Việt Nam TV Trần Xuân Phú
9 Việt Nam Nguyễn Hồng Quân
10 Việt Nam Y Thăng Êban
12 Việt Nam TV Phạm Đức Anh
13 Việt Nam HV Bùi Ngọc Tín
16 Việt Nam TV Huỳnh Kim Hùng
17 Việt Nam TV Nguyễn Văn Việt
18 Việt Nam TV Đoàn Xuân Dư
Số áo Vị trí Cầu thủ
19 Việt Nam TV Bùi Đình Hà
20 Việt Nam HV Nguyễn Quốc Thanh
21 Việt Nam HV Trịnh Văn Quang
22 Việt Nam TM Vũ Tuyên Quang
23 Việt Nam TV Lương Quốc Thắng
24 Việt Nam TM Văn Đức Vũ
26 Việt Nam TV Hà Ngọc Vũ
27 Việt Nam TM Ngô Văn Nhựt
34 Việt Nam TV Lương Thanh Ngọc Tâm
38 Việt Nam Hổ
39 Việt Nam HV Bùi Hoàng Mỹ
40 Việt Nam Bùi Trần Tuấn Anh
41 Việt Nam TV Phạm Văn Luân

Thành phần ban huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Chức vụ Tên
Huấn luyện viên trưởng Việt Nam Trần Phi Ái
Giám đốc kỹ thuật Việt Nam Phan Tôn Lợi
Trợ lý huấn luyện viên Việt Nam Trần Nguyên Thơ
Trợ lý huấn luyện viên Việt Nam Nguyễn Thị Trà My
Huấn luyện viên thủ môn Việt Nam Vũ Phạm Diễm My
Huấn luyện viên thể lực Nigeria Iliya BuBa
Bác sĩ 1 Trung Quốc Feng Shaofeng
Bác sĩ 2 Trung Quốc Liu Yifei

Các huấn luyện viên trong lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Huấn luyện viên trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Các huấn luyện viên trưởng của Đắk Lắk

Huấn luyện viên đội trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Chức vụ Tên
Huấn luyện viên trưởng U-18 Việt Nam Đỗ Khải
Huấn luyện viên U-18 Hàn Quốc Jeon Jae-ho
Huấn luyện viên thủ môn U-18 Hàn Quốc Yoon Jin-ho
Huấn luyện viên trưởng U-15 Hàn Quốc Woo Sung-yong
Huấn luyện viên U-15 Hàn Quốc Lee Hang-gyu
Huấn luyện viên thủ môn U-15 Hàn Quốc Lee Sun-hyung
Huấn luyện viên trưởng U-12 Hàn Quốc Kim Tae-jong
Huấn luyện viên U-12 Hàn Quốc Choi Jae-young

Nhà sản xuất và tài trợ áo đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà sản xuất áo đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà tài trợ áo đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Giải Quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

2 Á quân : 2013

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Danh sách đăng ký thi đấu mùa bóng V-league 2 2018”. VPF. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2018. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]