Cây trái chúc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Cây trái chúc
Citrus hystrix dsc07772.jpg
Phân loại khoa học edit
Giới: Plantae
nhánh: Tracheophyta
nhánh: Angiospermae
nhánh: Eudicots
nhánh: Rosids
Bộ: Sapindales
Họ: Rutaceae
Chi: Citrus
Loài:
C. hystrix
Danh pháp hai phần
Citrus hystrix
DC.[1]
Các đồng nghĩa[2]
  • C. auraria Michel
  • C. balincolong (Yu.Tanaka) Yu.Tanaka
  • C. boholensis (Wester) Yu.Tanaka
  • C. celebica Koord.
  • C. combara Raf.
  • C. echinata St.-Lag. nom. illeg.
  • C. hyalopulpa Yu.Tanaka
  • C. kerrii (Swingle) Tanaka
  • C. kerrii (Swingle) Yu.Tanaka
  • C. latipes Hook.f. & Thomson ex Hook.f.
  • C. macroptera Montrouz.
  • C. micrantha Wester
  • C. papeda Miq.
  • C. papuana F.M.Bailey
  • C. southwickii Wester
  • C. torosa Blanco
  • C. tuberoides J.W.Benn.
  • C. ventricosa Michel
  • C. vitiensis Yu.Tanaka
  • C. westeri Yu.Tanaka
  • Fortunella sagittifolia K.M.Feng & P.Y.Mao
  • Papeda rumphii Hassk.

Cây chúc tên tiếng Anh là "Kaffir Lime", là một giống lai tạo tự nhiên giữa loài Ichang Papeda và loài Citron họ chanh. Cây chúc có thể chịu được lạnh tương đối nhờ có gene di truyền từ tồ tiên loài chanh dại Ichang Papeda.

Miêu tả[sửa | sửa mã nguồn]

Large tree
Illustration of Citrus torusa (C. hystrix) by Francisco Manuel Blanco

C. hystrix is a thorny bush, 2 đến 11 mét (6 đến 35 ft) tall, with aromatic and distinctively shaped "double" leaves.[3][4] These hourglass-shaped leaves comprise the leaf blade plus a flattened, leaf-like stalk (or petiole). The fruit is rough and green, and ripens to yellow; it is distinguished by its bumpy exterior and its small size, approximately 4 cm (2 in) wide.[4]

Uses[sửa | sửa mã nguồn]

Combava rinds
Kaffir/makrut lime leaves are used in some Southeast Asian cuisines such as Indonesian, Lao, Cambodian, and Thai (มะกรูด).

Chế biến món ăn[sửa | sửa mã nguồn]

Lá chúc là bộ phận được dùng nhiều nhất ở nhiều dạng như tươi, khô, hoặc đông lạnh. Lá được dùng rộng rãi trong các món Thai[5][6] and Lao cuisine (for dishes such as tom yum) and Cambodian cuisine (for the base paste "krueng")[7]. Lá được dùng trong Vietnamese cuisine để tăng thêm mùi vị cho các món gà và để giảm mùi tanh khi hấp, luộc ốc. Lá được dùng trong Indonesian cuisine (especially Balinese cuisine and Javanese cuisine) cho các món soto ayam và dùng với Indonesian bay leaf cho cá và gà. Chúng còn được dùng trong các món ăn của MalaysianMiến Điên.[8] Nó được sử dụng rộng rãi trong South Indian cuisine.

The rind (peel) is commonly used in Lao and Thai curry paste, adding an aromatic, astringent flavor.[5] The zest of the fruit, referred to as combava[cần dẫn nguồn], is used in creole cuisine to impart flavor in infused rums and rougails in Mauritius, Réunion, and Madagascar[9]. In Cambodia, the entire fruit is crystallized/candied for eating.[10]

Tác dụng trong y học[sửa | sửa mã nguồn]

Nước và vỏ trái chúc được dùng làm thuốc trong y học cổ truyền ở Trung Quốc và nhiều nước châu Á khác; Nước trái chúc còn được dùng chế biến xà phòng gội đầu và được tin là có thể giúp loại bỏ chí..[4]

Mục đích sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Nước từ trái được dùng làm xà phòng giặt đồ ở Thái Lan, và ờ Cambodia người ta còn dùng một vài lát chúc bò vào nước cúng trong các nghi lễ tôn giáo.[6]

Canh tác[sửa | sửa mã nguồn]

Trái chúc được xem là đặc sản của vùng Bảy Núi, An Giang, trồng nhiều ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên. Cùng họ với chanh nhưng chúc lại có vỏ xù xì, vị chua dùng để lấy nước, đặc biệt có mùi thơm giữ rất lâu. Tiếng Khmer gọi là Kôt–sôt, một loài cây đặc hữu của các huyện miền núi.

Trái Chúc rất dễ trồng, không cần chăm sóc vẫn phát triển tốt. Đây là cây có múi thích nghi tốt trong thời kỳ biến đổi khí hậu khắc nhiệt. Cây chúc trồng từ 5-8 năm mới thu hoạch, và mỗi năm chỉ cho trái 1 lần vào mùa mưa, với năng suất khoảng 30 đến 50 kg/cây (khoảng 8-10 trái/kg). Cây chúc càng lâu năm trái càng sai.

Main constituents[sửa | sửa mã nguồn]

The compound responsible for the characteristic aroma was identified as (–)-(S)-citronellal, which is contained in the leaf oil up to 80 percent; minor components include citronellol (10 percent), nerol and limonene.

From a stereochemical point of view, it is remarkable that kaffir/makrut lime leaves contain only the (S) stereoisomer of citronellal, whereas its enantiomer, (+)-(R)-citronellal, is found in both lemon balm and (to a lesser degree) lemon grass, (however, citronellal is only a trace component in the latter's essential oil).

Kaffir/Makrut lime fruit peel contains an essential oil comparable to lime fruit peel oil; its main components are limonene and β-pinene.[11][12]

Toxicity[sửa | sửa mã nguồn]

C. hystrix contains significant quantities of furanocoumarins, in both the peel and the pulp.[13] Furanocoumarins are known to cause phytophotodermatitis,[14] a potentially severe skin inflammation. One case of phytophotodermatitis induced by C. hystrix has been reported.[15]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “TPL, treatment of Citrus hystrix DC.”. The Plant List; Version 1. (published on the internet). Royal Botanic Gardens, Kew and the Missouri Botanical Garden. 2010. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2013. 
  2. ^ The Plant List: A Working List of All Plant Species, truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2015 
  3. ^ Kuntal Kumar (ngày 1 tháng 1 năm 2008). The Original Organics Cookbook: recipes for healthy living. TERI Press. tr. 54. ISBN 978-81-7993-155-4. 
  4. ^ a ă â George Staples; Michael S. Kristiansen (ngày 1 tháng 1 năm 1999). Ethnic Culinary Herbs: A Guide to Identification and Cultivation in Hawai'i. University of Hawaii Press. tr. 27–29. ISBN 978-0-8248-2094-7. 
  5. ^ a ă Loha-unchit, Kasma. “Kaffir Lime –Magrood”. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2014. 
  6. ^ a ă Sukphisit, Suthon (ngày 12 tháng 11 năm 2017). “Clean up in kitchen with versatile fruit”. Bangkok Post. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  7. ^ “What to Replace Kaffir Lime Leaves With”. Village Bakery (bằng tiếng en-US). Ngày 17 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2018. 
  8. ^ Wendy Hutton, Wendy; Cassio, Alberto (2003). Handy Pocket Guide to Asian Herbs & Spices. Singapore: Periplus Editions. tr. 40. ISBN 978-0-7946-0190-4. 
  9. ^ “Mauritian rum has a distinct character to it: Sweeter and smoother”. The Economic Times. Ngày 22 tháng 3 năm 2015. 
  10. ^ Dy Phon Pauline, 2000, Plants Used In Cambodia, printed by Imprimerie Olympic, Phnom Penh
  11. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Ng
  12. ^ Kasuan, Nurhani (2013). “Extraction of Citrus hystrix D.C. (Kaffir Lime) Essential Oil Using Automated Steam Distillation Process: Analysis of Volatile Compounds” (PDF). Malyasian Journal of Analytical Sciences 17 (3): 359–369. 
  13. ^ Dugrand-Judek, Audray; Olry, Alexandre; Hehn, Alain; Costantino, Gilles; Ollitrault, Patrick; Froelicher, Yann; Bourgaud, Frédéric (tháng 11 năm 2015). “The Distribution of Coumarins and Furanocoumarins in Citrus Species Closely Matches Citrus Phylogeny and Reflects the Organization of Biosynthetic Pathways”. PLoS One 10 (11): e0142757. PMC 4641707. PMID 26558757. doi:10.1371/journal.pone.0142757. 
  14. ^ McGovern, Thomas W.; Barkley, Theodore M. (2000). “Botanical Dermatology”. The Electronic Textbook of Dermatology. Internet Dermatology Society. Section Phytophotodermatitis. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2018. 
  15. ^ Koh, D.; Ong, C. N. (tháng 4 năm 1999). “Phytophotodermatitis due to the application of Citrus hystrix as a folk remedy”. Br J Dermatol 140 (4): 737–738. PMID 10233333. 

Tên gọi khác của cây trái chúc là Chanh thái hay chanh thái lá số 8. Ở miền bắc cây có tên gọi là Trấp hay Giấp.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]