Cây vô ưu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Saraca asoca
Sita-Ashok (Saraca asoca) flowers in Kolkata W IMG 4146.jpg
Hoa cây vô ưu
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Plantae
(không phân hạng)Angiospermae
(không phân hạng)Eudicots
(không phân hạng)Rosids
Bộ (ordo)Fabales
Họ (familia)Fabaceae
Phân họ (subfamilia)Caesalpinioideae
Tông (tribus)Detarieae
Chi (genus)Saraca
Loài (species)S. asoca
Danh pháp hai phần
Saraca asoca
(Roxb.)Willd.
Danh pháp đồng nghĩa[2]
  • Jonesia asoca Roxb.
  • Jonesia confusa Hassk.
  • Jonesia pinnata Willd.
  • Saraca confusa (Hassk.) Backer
  • Saraca indica "sensu Bedd., non L."

Cây vô ưu (danh pháp khoa học Saraca asoca), là loài thực vật thuộc chi Vàng anh. Cây gỗ nhỡ, thường dùng làm cảnh.

Một số tài liệu hay trang mạng ghi danh pháp đồng nghĩa là Saraca indica mà không nói rõ tên người đặt nên dễ gây lầm lẫn. Saraca indica Linnaeus (thường được viết tắt là L.) do Linnaeus đặt là loài khác, dễ lẫn với cây vô ưu chứ không phải cùng loài, tức là danh pháp đồng nghĩa. Saraca indica (non Linnaeus) do người khác đặt mới đồng nghĩa với Saraca asoca.

Thần thoại và truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

Yakshi dưới gốc cây ashoka cách điệu. Hình lan can tại Bảo tháp Bharhut, thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, Ấn Độ
Hoàng hậu Māyā sinh ra Đức Phật

Cây ashoka được coi là linh thiêng trên khắp tiểu lục địa Ấn Độ, đặc biệt là ở Ấn Độ, Nepal và Sri Lanka. Cây này có nhiều hội dân gian, tôn giáo và văn học trong vùng. Được đánh giá cao cũng như vẻ ngoài đẹp đẽ, màu sắc và sự phong phú của hoa, cây ashoka thường được tìm thấy trong các khu vườn và cung điện hoàng gia cũng như gần các ngôi đền trên khắp Ấn Độ.[3] Người ta tin rằng Đức Phật Thích Ca đã được sinh ra dưới một cây ashoka trong vườn lâm-tỳ-ni.

Cây ashoka gắn liền với các sinh mệnh thần thoại yakshi. Một trong những yếu tố lặp lại trong nghệ thuật Ấn Độ, thường được tìm thấy ở cổng các ngôi chùa Phật giáo và Ấn Độ giáo, là tác phẩm điêu khắc của một yakshini với chân đặt trên thân cây và tay cầm cành cây ashoka đang nở hoa. Là một yếu tố nghệ thuật, thông thường loài cây này và yakshi được cách điệuhoas nhiều. Một số tác giả cho rằng cô gái trẻ dưới chân cây này dựa trên một vị thần cây cổ đại có liên quan đến khả năng sinh sản.[4]

Các yakshi dưới gốc cây ashoka cũng rất quan trọng trong các di tích Phật giáo thời kỳ đầu như một yếu tố trang trí và được tìm thấy trong nhiều địa điểm khảo cổ Phật giáo cổ đại. Qua nhiều thế kỷ, yakshi dưới gốc cây ashoka đã trở thành một yếu tố trang trí tiêu chuẩn của người Hindu điêu khắc Ấn Độ và được tích hợp vào Kiến trúc đền thờ Ấn Độ với tên gọi salabhanjika, bởi vì thường có sự nhầm lẫn giữa cây ashoka và sala (Shorea robusta) trong văn học cổ đại tiểu lục địa Ấn Độ.[5]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Saraca asoca. The IUCN Red List of Threatened Species. Version 2014.3.<www.iucnredlist.org>. Truy cập 25 tháng 4 năm 2015.Quản lý CS1: địa điểm (liên kết)
  2. ^ Saraca asoca (Roxb.) Willd — The Plant List”. Truy cập 25 tháng 4 năm 2015.
  3. ^ “Herbs - Ashoka”. Tamilnadu.com. ngày 25 tháng 2 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 8 năm 2013.
  4. ^ Heinrich Zimmer, Myths and Symbols in Indian Art and Civilization. (1946)
  5. ^ Buddhistische Bilderwelt: Hans Wolfgang Schumann, Ein ikonographisches Handbuch des Mahayana- und Tantrayana-Buddhismus. Eugen Diederichs Verlag. Cologne. ISBN 978-3-424-00897-5

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dữ liệu liên quan tới Saraca asoca tại Wikispecies
  • Phương tiện liên quan tới Saraca asoca tại Wikimedia Commons