Công Tôn Long

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Công Tôn Long (giản thể: 公孙龙, phồn thể: 公孫龍, bính âm: Gōngsūn Lóng; Wade-Giles:. Kung-sun Lung, khoảng 325-250 TCN),[1][2] tương truyền tên chữ là Tử Bỉnh (子秉),[3] là một triết gia thuộc trường phái Danh gia (名家) của nền triết học Trung Quốc cổ đại. Rất ít tài liệu về thân thế sự nghiệp của ông, thêm vào đó là nhiều tác phẩm của ông đã bị mất.[4] Trong tổng số 14 cuốn sách của ông chỉ còn lại 6 cuốn, trong đó có cuốn Công Tôn Long tử (公 孫龍子).

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh năm 325 ra ở nước Triệu vào đời Chiến Quốc và được coi là khách quý của Triệu, trong đó ông có quan hệ rất thân thiết với Bình Nguyên quân.

Bạch mã luận[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm thông tin: Bạch mã luận

Một số tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • 指物论 - Chỉ vật luận
  • 通变论 - Thông biến luận
  • 坚白论 - Kiên bạch luận
  • 名实论 - Danh thực luận
  • 迹府 - Tích phủ

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Zhou, Yunzhi, "Gongsun Long". Encyclopedia of China (Philosophy Edition), 1st ed.
  2. ^ Liu 2004, p. 336
  3. ^ Liệt tử. Thích văn: Long tự Tử Bỉnh, Trang tử vị Huệ tử viết, Nho, Mặc, Dương, Bỉnh tứ, dữ Phu tử vi ngũ. Bỉnh tức Long dã. Cứ thử, tắc Long đương vi Chiến Quốc thời nhân.
  4. ^ McGreal 1995, p. 31