Cúc ngũ sắc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Cúc ngũ sắc
Zinnia elegans with Bombus 01.JPG
Hoa
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Plantae
(không phân hạng)Angiospermae
(không phân hạng)Eudicots
(không phân hạng)Asterids
Bộ (ordo)Asterales
Họ (familia)Asteraceae
Chi (genus)Zinnia
Loài (species)Z. elegans
Danh pháp hai phần
Zinnia elegans
Jacq., 1792

Cúc ngũ sắc, duyên cúc, hoa cánh giấy[1], cúc zinnia, di nha, bạch nhật[2], đôi khi còn được gọi là cúc ta (danh pháp hai phần: Zinnia elegans) là một loài thực vật có hoa đơn niên thuộc họ Cúc (Asteraceae).

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Cây cúc ngũ sắc trong tự nhiên có thể cao đến 1 m. Các lá không có cuống, mọc đối nhau; phiến lá xoan bầu dục, có lông. Các hoa đơn có đường kính 5–10 cm, nhiều màu. Hoa bìa có vành hình môi to, lâu tàn.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Loài này được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1789 tại Tixtla, Guerrero bởi SesséMociño, và lần đầu tiên được mô tả khoa học là Zinnia violacea bởi Cavanilles vào năm 1791. Sau đó, năm 1792, Jacquin mô tả lại loài này với tên Zinnia elegans, cũng là tên mà Sessé và Moçiño đã dùng trong bản thảo Plantae Novae Hispaniae — đã không được phát hành cho đến năm 1890.[3] Tên chi Zinnia đã được Carl von Linné đặt theo tên nhà thực vật học Đức Johann Gottfried Zinn, người đã mô tả loài Zinnia peruviana vào năm 1757 là Rudbeckia foliis oppositis hirsutis ovato-acutis, calyce imbricatus, radii petalis pistillatis. Linné sau đó nhận ra rằng loài này không thuộc về chi Rudbeckia.

Tên đồng nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Zinnia violacea Cav.
  • Crassina elegans (Jacq.) Kuntze

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Zinnia elegans Jacq.”. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2013. 
  2. ^ Phạm Hoàng Hộ (2003). Cây cỏ Việt Nam, Tập 3. tr. 271. 
  3. ^ Kirkbride, J.H. & J.H. Wiersma (2007) Đề xuất giữ tên Zinnia elegans thay vì dùng Z. violacea. Taxon 56(3):958-959

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]