Cơ quan Chỉ đạo các Dự án Nghiên cứu Quốc phòng Tiên tiến

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Defense Advanced Research Projects Agency
Defense Advanced Research Projects Agency
Khái lược
Thành lập 7 tháng 2, 1958; 59 năm trước (as ARPA)
Trụ sở Arlington, Virginia, Hoa Kỳ
Nhân sự 240
Ngân quỹ 2,97 tỷ USD[1]
Lãnh đạo Tiến sĩ Steven Walker, Giám đốc [2]
 
Giám đốc Stefanie Tompkins, Quyền phó giám đốc
Cơ quan
chủ quản
Bộ quốc phòng Hoa Kỳ
Trang chủ
www.darpa.mil
Trụ sở cũ của DARPA ở khu phố Virginia Square ở Arlington. Trụ sở hiện tại nằm ở tòa nhà mới ở 675 Phố North Randolph.

Cơ quan Chỉ đạo các Dự án Nghiên cứu Quốc phòng Tiên tiến, tiếng Anh: Defense Advanced Research Projects Agency - DARPA, là một cơ quan của Bộ Quốc phòng Mỹ, chịu trách nhiệm phát triển các công nghệ tiên tiến mới dùng cho quân đội. Mục tiêu của DARPA là đảm bảo sự vượt trội về công nghệ quân sự của Quân đội Mỹ, phòng ngừa sự xuất hiện bất ngờ các phương tiện kỹ thuật vũ khí mới và hỗ trợ các nghiên cứu đột phá để thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu cơ bản và ứng dụng của họ trong lĩnh vực quân sự.

Tổ chức tiền thân của DARPA là Cơ quan Chỉ đạo các Dự án Nghiên cứu Tiên tiến (the Advanced Research Projects Agency (ARPA)), được Tổng thống Dwight D. Eisenhower thành lập vào năm 1958, là phản ứng của Mỹ đối với vụ phóng vệ tinh Sputnik thành công của Liên Xô năm 1957. Ngay từ khi thành lập, nhiệm vụ của Cơ quan này là đảm bảo cho Mỹ tránh được sự bất ngờ về công nghệ trong tương lai.[3] Bằng cách cộng tác giữa nghiên cứu hàn lâm, sản xuất công nghiệp và các đối tác của chính phủ, DARPA đã xây dựng và tổ chức thực hiện các dự án nghiên cứu và phát triển để mở rộng các giới hạn về khoa học và công nghệ, thường ngoài phạm vi các yêu cầu quân sự của Mỹ.

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Các văn phòng chương trình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

DARPA có 6 Văn phòng Kỹ thuật để quản lý danh mục nghiên cứu của Cơ quan và hai Văn phòng bảo đảm để quản lý các dự án đặc biệt và hiệu quả chuyển giao. Tấc các văn phòng báo cáo trực tiếp cho Giám đốc DARPA:

  1. Văn phòng Điều hành thích nghi: là một trong 2 văn phòng mới do Giám đốc DARPA Regina Dugan thành lập năm 2009. 04 lĩnh vực dự án của văn phòng này là: chuyển giao công nghệ; đánh giá; sản xuất nhanh và các hệ thống thích nghi.
  2. Văn phòng Khoa học Quốc phòng: theo đuổi mạnh mẽ các công nghệ hứa hẹn nhất trong phạm vi rộng của các cộng đồng nghiên cứu khoa học và kỹ thuật và phát triển các công nghệ đó thành những khả năng quân sự quan trọng mới.
  3. Văn phòng Đổi mới thông tin: có nhiệm vụ đảm bảo tính ưu việt của công nghệ ở Hoa Kỳ trong tất cả các lĩnh vực mà thông tin có thể mang lại lợi thế quân sự quyết định.
  4. Văn phòng Công nghệ Vi hệ thống: có nhiệm vụ tập trung vào tích hợp vi mạch điện tử, quang tử và hệ các hệ thống vi cơ điện tử (MEMS).
  5. Văn phòng Công nghệ Chiến lược: có nhiệm vụ tập trung vào các công nghệ có vai trò ảnh hưởng toàn cầu và liên quan đến các đa dịch vụ.
  6. Văn phòng Công nghệ Chiến thuật: tham gia vào các nghiên cứu quân sự tiên tiến có rủi ro cao, nhấn mạnh phương pháp "hệ thống" và "hệ thống con" để phát triển các hệ thống hàng không, vũ trụ và đất liền cũng như bộ vi xử lý nhúng và các hệ thống điều khiển.
  7. Văn phòng Công nghệ Sinh học: khuyến khích, thể hiện và chuyển giao các nghiên cứu cơ bản, các khám phá và ứng dụng đột phá mà nó tích hợp sinh học, kỹ thuật và khoa học máy tính cho an ninh quốc gia.

Các Dự án[sửa | sửa mã nguồn]

Các Dự án đang thực hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Các Dự án đã chuyển giao[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Budget”. Defense Advanced Research Projects Agency. 13 tháng 1 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2015. 
  2. ^ "Dr. Steven H. Walker". Defense Advanced Research Projects Agency. 13 tháng 1 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2017. 
  3. ^ Dwight D. Eisenhower and Science & Technology, (2008). Dwight D. Eisenhower Memorial Commission, Source.