Cơ quan Tình báo Trung ương Hàn Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Cơ quan Tình báo Quốc gia (NIS) (국가, 국정원) là cơ quan tình báo trưởng của Hàn Quốc. Cơ quan này được chính thức thành lập vào năm 1961 với tên gọi ban đầu là Cơ quan Tình báo Trung ương Hàn Quốc (KCIA) (정보부), nằm dưới sự chỉ huy của Hội đồng Tối cao về Tái thiết Quốc gia của Tổng thống Park Chung-hee, thay thế cho nền Cộng hòa thứ hai của Hàn Quốc. Nhiệm vụ ban đầu của KCIA là giám sát và điều phối tất cả các hoạt động tình báo quốc tế và trong nước cũng như điều tra tội phạm của tất cả các cơ quan trực thuộc chính phủ, bao gồm cả quân đội. Quyền hạn rộng lớn còn cho phép cơ quan này có quyền chủ động can thiệp vào các vấn đề chính trị.

Cơ quan này đã lấy tên Cơ quan Kế hoạch An ninh Quốc gia (ANSP) (안전 기획부) vào năm 1981, như một phần của một loạt các cải cách do nền Cộng hòa thứ năm của Hàn Quốc dưới thời Tổng thống Chun Doo-hwan thiết lập. ANSP được gọi chung là 안기부 "Angibu" tại Hàn Quốc. Bên cạnh việc cố gắng có được thông tin tình báo về Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và đàn áp các nhà hoạt động nhân quyền cũng như những người Cộng Sản ở Hàn Quốc, ANSP, giống như người tiền nhiệm, đã tham gia rất nhiều vào các hoạt động bên ngoài phạm vi của mình, bao gồm cả các hoạt động chính trị trong nước và thậm chí còn quảng bá cho Thế vận hội Mùa hè 1988Seoul. Năm 1999, cơ quan giả định tên hiện tại của nó. Sự ra đời của chính phủ dân chủ trong nền Cộng hòa thứ sáu của Hàn Quốc đã chứng kiến ​​nhiều nhiệm vụ và quyền hạn của NIS bị kiềm chế, để đáp lại những chỉ trích công khai về những lạm dụng trong quá khứ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]