Cư Văn Quân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Cư Văn Quân
Fondation Neva Women's Grand Prix Geneva 11-05-2013 - Ju Wenjun during the press conference.jpg
Cư Văn Quân năm 2013
Quốc giaTrung Quốc
Sinh31 tháng 1, 1991 (28 tuổi)
Thượng Hải
Danh hiệuĐại kiện tướng (2014)
Vô địch nữ2018 – nay
Hệ số Elo2586 (tháng 10 2019) 2595 Hạng 2 nữ (7.2019)
Elo cao nhất2604 (3.2017)
Cư Văn Quân
Thành tích huy chương
Đại diện cho  Trung Quốc
Asian Games
Huy chương vàng – vị trí thứ nhất Quảng Châu 2010 Đồng đội nữ

Cư Văn Quân (tiếng Trung: 居文君; bính âm: Jū Wénjūn; sinh 31 tháng 1 năm 1991)[1] là một đại kiện tướng cờ vua Trung Quốc. Chị là nhà vô địch cờ vua nữ thế giới thứ 17 trong lịch sử, đồng thời là đương kim vô địch cờ vua nữ thế giới.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Giải đấu cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 12 năm 2004, Cư xếp hạng ba tại Giải vô địch cờ vua châu ÁBeirut.[2] Kết quả này giúp chị tham dự Giải vô địch cờ vua nữ thế giới đầu tiên năm 2006.

Chị vô địch quốc gia các năm 2010 và 2014.[3] Tháng 7 năm 2011 chị vô địch Giải cờ vua đại kiện tướng nữ Hàng Châu, bất bại với điểm số 6½/9, xếp trên đương kim vô địch thế giới Hầu Dật Phàm.[4] Vào tháng 10 năm 2011 chị giành ngôi á quân tại giải FIDE Women's Grand Prix 2011-2012 tại Nalchik với 7/11 điểm; hiệu suất thi đấu ở giải này đủ để chị có được chuẩn thứ ba, cũng là chuẩn đại kiện tướng cuối cùng.[5] Tuy nhiên, một trong ba chuẩn thiếu chữ ký xác nhận của trọng tài, do vậy đã làm chị không được công nhận danh hiệu đại kiện tướng.[6]

Từ 18 tháng 6 đến 2 tháng 7 năm 2014, tại giải đấu thứ năm của chuỗi giải FIDE Women's Grand Prix 2013–14 tổ chức tại Lopota, Gruzia, chị đồng hạng nhì với Elina Danielian, đạt 7/11 điểm cùng chuẩn GM thứ tư. In the 6th stage of the FIDE Women's Grand Prix 2013–14 held in Sharjah, United Arab Emirates, from August 24 to September 7, 2014 she placed joint first with Hou Yifan with a score of 8.5/11, winning the event thanks to a better tiebreak score.[6]

Tháng 11 năm 2014, FIDE phong danh hiệu đại kiện tướng cho Cư trong đợt trao danh hiệu tại cuộc họp Đoàn chủ tịch tại Sochi, Nga.[7] Đến lúc được phong danh hiệu thì Cư đã có 6 chuẩn đại kiện tướng, trở thành nữ đại kiện tướng thứ 31 trong lịch sử. Cũng trong năm 2014, chị đồng vô địch với Lôi Đĩnh Tiệp tại Giải kiện tướng nữ Trung Quốc lần thứ tư ở Vô Tích.[8]

Tháng 2 năm 2016, Cư vô địch giải Tehran nằm trong hệ thống giải FIDE Women's Grand Prix 2015–16. Cùng với chiến thắng ở giải đấu cuối cùng của chuỗi Grand Prix ở Khanty-Mansiysk, Nga, chị xếp thứ nhất trong bảng xếp hạng của chuỗi giải và trở thành nhà thách đấu trong trận đấu tranh ngôi ở Giải vô địch cờ vua nữ thế giới 2018.[9][10] In 2017, Ju won the Women's World Rapid Chess Championship in Riyadh.[11]

Giải vô địch thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Sau lần đầu tham dự Giải vô địch thế giới loại trực tiếp năm 2006, Cư Văn Quân liên tục giành quyền tham dự giải vô địch cờ vua nữ thế giới loại trực tiếp các năm 2008, 2010, 2012, 20152017. Thành tích cao nhất của chị vào năm 2012 khi lọt vào đến bán kết, chịu thua trước người sau này là nhà vô địch giải đấu Ushenina.

Trong trận đấu tranh ngôi vô địch thế giới năm 2018 gặp Đàm Trung Di với tư cách nhà thách đấu, Cư Văn Quân đã thắng chung cuộc với tỉ số 5,5–4,5 sau 10 ván đấu, trở thành nữ hoàng cờ vua thứ 17 trong lịch sử.

Giải đấu đồng đội[sửa | sửa mã nguồn]

Cư Văn Quân khoác áo đội tuyển nữ Trung Quốc từ năm 2008. Chị cùng đội tuyển giành các chức vô địch tại Olympiad cờ vua lần thứ 42 năm 2016, Giải vô địch cờ vua đồng đội thế giới năm 2009 và 2011, Giải cờ vua đồng đội châu Á 2012, 2014 và 2016 và Đại hội thể thao châu Á 2010.

Năm 2013, chị giành huy chương bạc cùng đội Thượng Hải ở Giải vô địch cờ vua các thành phố châu Á ở Dubai.

Chị thi đấu cho câu lạc bộ cờ Thượng Hải tại Giải cờ vua đồng đội Trung Quốc.[12]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ WGM title application. FIDE.
  2. ^ "TWIC 529: Asian Women's Championship". The Week in Chess. 2004-12-27.
  3. ^ Ramirez, Alejandro (29 tháng 3 năm 2014). “Yu Yangyi & Ju Wenjun Chinese Champs”. ChessBase. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2016. 
  4. ^ Liang, Ziming (26 tháng 7 năm 2011). “1st Hangzhou WGM Tournament - Ju Wenjun wins, Harika becomes GM”. ChessBase. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2015. 
  5. ^ “Title Applications - 4th quarter Presidential Board Meeting, 7-10 November 2014, Sochi, RUS”. FIDE. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2016. 
  6. ^ a ă Niklesh Kumar Jain (14 tháng 9 năm 2014). “Sharjah Grand Prix winner Ju Wenjun”. ChessBase. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2016. 
  7. ^ "List of titles approved by the 4th quarter PB 2014". FIDE.
  8. ^ “Lei Ting jie wins China Women Master”. News About Chess. 15 tháng 5 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2015. 
  9. ^ “Ju Wenjun is triumphant in Khanty-Mansiysk”. FIDE. 1 tháng 12 năm 2016. 
  10. ^ Schulz, André (5 tháng 12 năm 2016). “Ju Wenjun wins Grand Prix series”. ChessBase. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2016. 
  11. ^ “Viswanathan Anand and Ju Wenjun are World Rapid Champions!”. Chessdom. 28 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2018. 
  12. ^ “Archived copy”. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Footer Asian Games Champions Chess Bản mẫu:Chess in China Bản mẫu:FIDE Grand Prix series


Tiền nhiệm:
Đàm Trung Di
Vô địch cờ vua nữ thế giới
2018 – nay
Kế nhiệm:
đương kim vô địch