Cảnh Hóa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Cảnh Hóa

Hành chính
TỉnhQuảng Bình
HuyệnQuảng Trạch
Địa lý
Tọa độ: 17°47′51″B 106°17′15″Đ / 17,7975°B 106,2875°Đ / 17.79750; 106.28750Tọa độ: 17°47′51″B 106°17′15″Đ / 17,7975°B 106,2875°Đ / 17.79750; 106.28750
Diện tích7,53 km²[1]
Dân số (1999)
Tổng cộng3876 người[1]
Mật độ515 người/km²
Khác
Mã hành chính19048[1]

Địa lý hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Cảnh Hóa là một thuộc huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, Việt Nam.

Phía Tây giáp xã Tiến Hóa (huyện Tuyên Hóa), phía Nam giáp Sông Gianh, phía Đông giáp xã Quảng Liên và Phù Hóa, phía Bắc giáp xã Quảng Thạch và Quảng Liên

Xã Cảnh Hóa có diện tích 7,53 km², dân số năm 1999 là 3876 người,[1] mật độ dân số đạt 515 người/km².

Danh nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Ngọa Cương xưa và nay[sửa | sửa mã nguồn]

Nằm cách Quốc lộ 12A chừng vài trăm mét, chùa Ngọa Cương tọa lạc trên một ngọn đồi cao thuộc thôn Ngọa Cương, nổi bật với hai bên là hai con rồng được phủ lớp sơn vàng. Chùa là nơi ghi dấu sự ra đời chi bộ Đảng đầu tiên của xã Cảnh Hóa. Đây được xem là dấu mốc quan trọng cho sự hình thành và phát triển Đảng bộ xã Cảnh Hóa, Quảng Trạch ngày nay.

Bà Nguyễn Thị Thiệp, nguyên Bí thư Đảng bộ xã Cảnh Hóa cho biết, làng Ngọa Cương trước đây thuộc xã Tiến Hóa, huyện Tuyên Hóa. Từ năm 1954 đến nay, làng sáp nhập về xã Cảnh Hóa, huyện Quảng Trạch.

Làng xưa phát triển nghề gốm nên đời sống nhân dân tương đối khá giả. Làng có hệ thống đình, chùa Ngọa Cương-là nơi sinh hoạt tâm linh của người dân. Do chùa nằm ở vị trí thuận lợi nên Mặt Trận Việt Minh đã chọn nơi đây làm cơ sở hoạt động cách mạng.

Tháng 2-1943, tại hang Thâu, làng Thanh Thủy (xã Tiến Hóa,Tuyên Hóa), chi bộ ghép Ngọa Cương-Thanh Thủy ra đời với 3 đảng viên. Chùa Ngọa Cương và hang Thâu trở thành nơi gặp gỡ, sinh hoạt của các đảng viên và cũng là nơi nuôi giấu cán bộ Việt Minh mỗi khi về hoạt động ở Ngọa Cương, Thanh Thủy.

Chi bộ ghép Ngọa Cương-Thanh Thủy ra đời có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Từ đây, các đồng chí cán bộ đầu tiên trong vùng đã bí mật nhen nhóm phong trào cách mạng phát triển lan rộng, mạnh dần và hòa chung với làn sóng cách mạng của tỉnh làm nên cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền mùa thu năm 1945.

Sau khi tổ chức Đảng được xây dựng, chi bộ đã có chủ trương đưa các đồng chí đảng viên về các thôn, xóm phụ trách xây dựng các tổ chức cách mạng; hướng dẫn các hội, đoàn phương pháp đấu tranh như vận động quần chúng nhân dân đấu tranh với hương lý, cường hào để đòi chia lại ruộng đất, đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược. Năm 1944, do bị khủng bố, truy lùng ráo riết, chi bộ Thanh Thủy được thành lập thay thế chi bộ Ngọa Cương-Thanh Thủy.

Dưới sự lãnh đạo của chi bộ Thanh Thủy, thực hiện phong trào ủng hộ kháng chiến, làng Ngọa Cương đã ủng hộ gần 1,5 tấn gạo, 2 nghìn đồng tiền Đông Dương. Nhiều người dân trong làng đã tình nguyện tham gia hoạt động cách mạng, tiêu biểu như ông Trần Kính, là Hương bộ của làng đã hăng hái tham gia nhận nuôi Ủy ban kháng chiến hành chính huyện Tuyên Hóa 3 tháng và ông cũng thuê thợ rèn 10 cây đại đao, 20 cây mác để ủng hộ du kích kháng chiến; ông Nguyễn Ca, thường gọi là Lý Ca và bà Nguyễn Thị Vịnh là chủ lò gốm đã ủng hộ mỗi người 1 lò gốm cho Ủy ban kháng chiến hành chính.

Năm 1947, Pháp mở những đợt tấn công từ Thanh Khê theo hướng sông Gianh và đường tỉnh lộ 1 lên hướng Tây. Sau những trận càn của giặc, mặc dù tài sản, nhà cửa bị hủy hoại và cháy sạch nhưng nhân dân Ngọa Cương không chút nao núng. Mọi người đã giúp đỡ, chia sẻ với nhau từng bát gạo và giúp nhau sửa chữa lại nhà cửa, lò, xưởng để tiếp tục sản xuất, phục vụ chiến đấu.

Cũng từ đây, phong trào du kích ở Ngọa Cương phát triển mạnh mẽ hơn. Nhân dân trong làng đã đào hầm, đặt chông khắp các bờ tre, đường vào thôn xóm và lập chòi canh ở đồi Rú Vắp, cắt cử dân quân trực 24/24 giờ. Mỗi lần giặc càn vào thôn, xóm, ngoài súng, lựu đạn, chúng phải mang thêm gậy để dò đường.

Từ năm 1947-1953, quân và dân Ngọa Cương đã yêu thương, nuôi dưỡng các chiến sĩ chu đáo, tiêu biểu, như: mẹ Vịm, mẹ Đắc... Cùng với tinh thần cách mạng, rào làng chiến đấu của quân và dân làng Ngọa Cương, làng Kinh Nhuận, Cấp Sơn, Vịnh Thọ, Thượng Thọ cũng hăng hái tham gia kháng chiến.

Về Cảnh Hóa hôm nay, chứng tích của một  thời kỳ lịch sử chùa Ngọa Cương vẫn còn đó. Năm 2005, chùa được công nhận di tích lịch sử cấp tỉnh. Đến nay, dù trải qua thời gian, chiến tranh tàn phá, nhưng chùa vẫn được chính quyền và người dân bảo tồn và trùng tu kiên cố, vững chắc.

Đồng chí Nguyễn Thị Tỉnh, Bí thư Đảng bộ xã Cảnh Hóa cho biết, trải qua 75 năm, từ một chi bộ ghép chỉ có 3 đảng viên, đến nay, Đảng bộ xã Cảnh Hóa đã có 11 chi bộ, với hơn 203 đảng viên. Mặc dù là xã miền núi, điều kiện còn nhiều khó khăn nhưng phát huy truyền thống anh hùng cách mạng, Đảng bộ và nhân dân Cảnh Hóa đã và đang ra sức xây dựng quê hương ngày càng phát triển.

Đồng chí Hoàng Anh Dũng, Chủ tịch UBND xã Cảnh Hóa cho biết, Cảnh Hóa là xã miền núi đặc biệt khó khăn, nằm trong diện 135. Do địa hình đồi núi nên diện tích đất sản xuất của người dân rất thấp, chỉ 154ha.

Xác định phát triển kinh tế xã hội là nhiệm vụ quan trọng, những năm qua, Ban Thường vụ Đảng ủy xã đã lãnh đạo chỉ đạo các chi ủy, chi bộ tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội nhằm nâng cao đời sống cho nhân dân. Để thực hiện thành công các mục tiêu nghị quyết của Đảng, đối với những lĩnh vực kinh tế, Cảnh Hóa đã thực hiện công tác dồn điền đổi thửa, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng hiệu quả.    

Bên cạnh đó, Đảng bộ và chính quyền xã cũng đã tập trung vào công tác đào tạo nghề cho người dân. Hàng năm, xã đã phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức đào tạo nghề cho lao động địa phương, như: sửa chữa xe máy, điện dân dụng; chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho người dân áp dụng vào sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt.

Đặc biệt, hàng năm, hơn 10 lao động của địa phương được đào tạo đi xuất khẩu lao động có thời hạn ở nước ngoài. Nhờ vậy, tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên của địa phương ngày càng tăng lên, góp phần nâng thu nhập ổn định cho người dân.

Năm 2016 thu nhập bình quân đầu người của người dân nơi đây là 13 triệu đồng/người/năm, đến năm 2018 tăng lên 18,7  triệu đồng/người/năm. Tỷ lệ hộ nghèo hằng năm cũng giảm mạnh. Tỷ lệ hộ nghèo cuối năm 2018 là 8,9%, giảm 3,6% so với năm 2017. Hộ cận nghèo 14,9%, giảm 5,68% so với năm 2017.

Tin tưởng rằng, với tình yêu quê hương và truyền thống cách mạng của quê hương, nhân dân Cảnh Hóa sẽ đồng sức đồng lòng, xây dựng quê hương ngày càng phát triển.[2]

Ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

Chắt chắt - Đặc sản Sông Gianh[sửa | sửa mã nguồn]

Khúc sông Gianh chạy qua xã Phù Hoá, Quảng Trạch, Quảng Bình dài chừng bốn cây số. Đây là vùng giao thoa giữa nước lợ và nước ngọt. Vùng giao thoa này sinh ra một loài hến bé nhỏ, dân gian gọi là chắt chắt.

Hằng năm, vào cuối tháng Hai đầu tháng Ba âm lịch, sau một cơn mưa giông, nước ngọt đầu nguồn sông đổ về đây, gặp làn nước lợ từ dưới cửa biển dâng lên. Khí trời se lạnh, không gian khoáng đạt, hai làn nước trai tráng và nữ nhi ấy chảy oà vào nhau, tan trong nhau, nồng nhiệt trong nhau như một cuộc hoan lạc vĩ đại của sông nước, để rồi sinh ra hàng triệu hàng triệu triệu con chắt chắt nhỏ li ti.

Chuyện ấy kể như huyền thoại nhưng là cách để người dân Phù Hoá giải thích về sự ra đời của nghề xúc chắt chắt làng mình.

Người dân Phù Hoá còn nghèo lắm và nghề cào chắt chắt như một "cứu cánh". Mùa chắt chắt nhiều nhất là từ tháng Ba đến tháng Tám, nay người Phù Hoá tận dụng cào đến cả tháng 10, 11 âm lịch. Sang mùa giá rét, chắt chắt càng ít đi, hơn nữa mùa này có cào được cũng ít người ăn. Làm nghề này, người ta chỉ sắm chiếc cào, đến mùa trầm mình xuống bờ cát ven sông xúc chắt chắt lẫn trong cát, rồi sàng cát xuống sông, lọc chắt chắt bỏ vào bao mang theo.

Người cào giỏi, ngày kiếm được vài chục lon, đem bán được vài chục ngàn đồng, vậy mà tất cả chi tiêu của gia đình đều từ đó mà ra. Bởi vậy, ở Phù Hoá có gia đình đi cào đủ cả cha mẹ, con cái để kiếm được nhiều chắt chắt, mong đắp đổi hàng ngày. Nhưng cũng thật lạ! Làng Phù Hoá từ xưa đến nay lại được xem là đất học của tỉnh Quảng Bình.

Làng là nơi sinh ra danh nhân văn hoá Nguyễn Hàm Ninh, thầy dạy học của Vua Tự Đức. Làng Phù Hoá bây giờ tính ra có hàng trăm người có học vị tiến sĩ, cử nhân... và hàng chục em vào đại học mỗi năm. Người già ở Phù Hoá thường cắt nghĩa: "Làm nghề này mới biết chịu thương chịu khó để nên người, biết đem cho người cái ngọt ngào còn nhận về mình cay đắng nhọc nhằn. Biết ăn, biết ở, trời cho lại".

Muốn ăn con chắt chắt cũng kỳ công lắm. Chắt chắt cào được đem xa (rửa) thật kỹ vài ba nước, để cho ráo rồi đun xoong nước thật sôi mới thả vào, bỏ ít muối hạt, dùng bó đũa đánh nhiều lần để gạt nhân sang xoong khác. Bị nước nóng, vỏ chắt chắt nở ra, mặt rời vỏ, nổi lên theo nước sang xoong khác. Cứ gạn qua gạn về cho hết mặt thì thôi. Nước chắt chắt sau khi nấu xong có thể làm canh chan ăn ngay với cơm, thêm chút muối ớt, gừng, cảm giác ngọt lịm.

Chắt chắt còn được xào với mít non lá lốt. Xưa nay, món này dành cho người nghèo. Mít non gọt vỏ, băm nhỏ, thêm một ít lá lốt thái mịn trộn đều xào với chắt chắt. Món này bây giờ được bán ở quán nhậu cũng "hút" khách đáo để vì nó được được dân nhậu phong là "đệ nhất dinh dưỡng" và "đệ nhất sạch"...

Người thích ăn kiểu thông thường thì có thêm ít rau muống hay rau tập tàng thái nhỏ đun vừa chín tới, chan với cơm hoặc bắp rang để ăn. Còn nhân chắt chắt nếu ăn bình thường thì đổ lẫn canh, nếu muốn làm món nhậu thì vớt ra cho vào chảo, bỏ ít dầu, gia vị xào lên, đem xúc bánh tráng, cam đoan ăn mệt nghỉ, còn ăn được chừng nào thì còn thèm chừng ấy. Món này hiện được các quán nhậu bình dân khai thác làm đồ nhậu vừa rẻ, vừa hút thực khách.

Lấy bánh đa xúc vào dĩa chắt chắt, dùng đũa gắp một ngọn rau thơm để lên trên và đưa vào miệng. Từ từ nhai để tận hưởng cái giòn tan của bánh đa, cái hương thơm đượm vị phù sa của vừng, cái ngầy ngậy của chắt chắt, trong một chút cay của ớt, một chút chua của cà, một chút nồng của tiêu, một chút thơm của hành... Và cảm giác như vũ trụ đã hội đủ trong vòm họng...[3]

Tâm linh[sửa | sửa mã nguồn]

Chùa Ngọa Cương[sửa | sửa mã nguồn]

Chùa Ngọa Cương

Chùa Ngọa Cương tọa lạc trên một ngọn đồi khá cao phía Tây của xã Cảnh Hóa (Quảng Trạch), cách đường Quốc lộ 12A chỉ khoảng vài trăm mét. Từ ngoài đường 12A nhìn vào, lối lên chùa nổi bật với hai bên là hai con rồng lớn được xây bằng xi măng phủ sơn vàng. Các bậc tam cấp dẫn lên chùa được lát gạch vừa đẹp, vừa dễ đi. Hai bên cổng chùa cũng được trồng nhiều loại cây như sứ, bồ quân…

Chùa Ngọa Cương còn được gọi là Ngọa Linh tự. Được xây dựng vào khoảng thế kỷ 16, lúc đầu chỉ bằng tranh tre nứa lá đơn sơ. Đến năm 1860, chùa được nhân dân trong vùng góp công, góp của xây lại bằng gạch chắc chắn, vững chãi. Chùa là nơi để người dân trong vùng gửi gắm tâm linh, khát vọng về một cuộc sống no ấm, bình yên, tươi đẹp.

So với các ngôi chùa khác trong vùng thì chùa Ngọa Cương tuy không lớn nhưng kiên cố với những bức tường được ghép rất dày, có chỗ hơn 1m. Mái chùa hình vòm, bên trong được khắc vẽ nhiều họa tiết độc đáo. Cổng chùa có 2 phần: cổng và lầu. Mái cổng uốn cong, xung quanh cổng và lầu được đắp nổi hình rồng, phụng vờn mây…

Không chỉ ấn tượng với kiến trúc đẹp, chùa Ngọa Cương còn là di tích gắn với những thăng trầm của lịch sử dân tộc. Chùa là nơi ghi dấu sự ra đời chi bộ Đảng đầu tiên của xã Cảnh Hóa. Đây là địa điểm liên lạc khi các chiến sĩ cộng sản về gây dựng cơ sở Đảng. Năm 1942 Chi bộ ghép Ngoạ Cương – Thanh Thuỷ được thành lập, đồng chí Cả Huệ (phủ uỷ viên Quảng Trạch) đề xuất với đồng chí Lê An, Cao Văn Toàn, Trần Diên (trong Chi bộ ghép Ngoạ Cương- Thanh Thuỷ), lấy địa điểm ngôi chùa làm nơi sinh hoạt của Chi bộ và các Hội quần chúng của Đảng.

Từ đây các sách báo của Đảng, Nghị quyết của Trung ương được tuyên truyền đến tận quần chúng nhân dân. Hoạt động của Chi bộ Ngoạ Cương – Thanh Thuỷ trong kỳ này cũng đã phát huy ảnh hưởng và mở rộng hoạt động ra các vùng lân cận như Châu Hoá, Mai Hoá… Chi bộ đã tập hợp được lực lượng, kịp thời phát động quần chúng đấu tranh giành chính quyền tháng 8-1945 thắng lợi và đặt nền móng vững chắc làm cơ sở tốt cho giai đoạn phát triển sau này.

Chùa Ngọa Cương nay đã trở thành điểm hành hương ý nghĩa

Với những sự kiện lịch sử tiêu biểu trên, năm 2003, chùa Ngọa Cương đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh. Từ đó đến nay, chính quyền địa phương cũng đã tuyên truyền để nhân dân hiểu thêm về di tích đồng thời kêu gọi mọi người cùng nhau bảo vệ vốn di sản quý báu của quê hương. Chùa Ngọa Cương nay đã trở thành điểm hành hương ý nghĩa mỗi khi du lịch Quảng Bình cho nhiều du khách đến tham quan và chiêm bái.[4]

Con người[sửa | sửa mã nguồn]


Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]