Trinh nữ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Cỏ trinh nữ)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cỏ trinh nữ
Mimosa pudica0.jpg
Lá và hoa cây trinh nữ (Mimosa pudica)
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Rosids
Bộ (ordo) Fabales
Họ (familia) Fabaceae
Phân họ (subfamilia) Mimosoideae
Tông (tribus) Mimoseae
Chi (genus) Mimosa
Loài (species) M. pudica
Danh pháp hai phần
Mimosa pudica
L.
Danh pháp đồng nghĩa
  • Mimosa hispidula Kunth
  • Mimosa pudica var. pudica

Trinh nữ hay còn gọi xấu hổ, mắc cỡ, cây thẹn, hàm tu thảo (danh pháp hai phần: Mimosa pudica L.) là một loại thực vật thuộc họ Đậu được Carl von Linné mô tả lần đầu trong quyển Species Plantarum ("Giống loài thực vật") xuất bản năm 1753 của ông.

Trinh nữ là cây cỏ nhỏ có gai, mọc rà ở đất, lá bẹ có rìa lông. Khi bị đụng đến và lúc về đêm thì lá xếp lại. Hoa hình đầu tròn, có màu hồng, quả có lông, rụng thành từng đốt. Cây có tính an thần, giúp dễ ngủ. Cây trinh nữ có nguồn gốc ở Brasil.

Thành phần hóa học[sửa | sửa mã nguồn]

Người ta đã lấy ra được từ cây xấu hổ một chất ancaloit gọi là mimosin C8H10O4N2. Mimosin có độ chảy 231 °C.

Tác dụng dược lý[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tác dụng ức chế thần kinh trung ương
  • Tác dụng chấn kinh
  • Tác dụng giảm đau

Hiện tượng sinh học[sửa | sửa mã nguồn]

Khi bị đụng, cây xấu hổ nó lập tức khép những cánh lá lại. Điều này có liên quan tới "tác dụng sức căng" của lá xấu hổ. Ở cuối cuống lá có một mô tế bào mỏng gọi là bọng , bên trong chứa đầy nước. Khi bạn đụng tay vào, lá bị chấn động, nước trong tế bào bọng lá lập tức dồn lên hai bên phía trên. Thế là phần dưới bọng lá xẹp xuống như quả bóng xì hơi, còn phía trên lại như quả bóng bơm căng. Điều đó làm cuống sụp xuống, khép lại. Khi một khép lại, nó sẽ đưa tín hiệu lan rộng đến các khác, khiến chúng cũng lần lượt khép lại. Nhưng chỉ ít phút sau, bộ phận dưới bọng lại dần đầy nước, lại xoè ra nguyên dạng như cũ. Đặc tính này rất lợi cho sự sinh trưởng của cây, thích nghi với điều kiện tự nhiên. Ở phương nam thường gặp những trận mưa bão lớn, cây xấu hổ thu lại khi gặp mưa gió sẽ giúp nó cứu được các non.[1]

Thành phần hóa học[sửa | sửa mã nguồn]

Mimosa pudica chứa chất độc alkaloidmimosine có tác dụng ức chế tăng trưởng và chết rụng tế bào. Cao của Mimosa pudica có thể làm bất động ấu trùng dạng chỉ của giun lươn (Strongyloides stercoralis) trong khoảng một giờ đồng hồ. Nước chiết xuất từ rễ cây cho thấy tác dụng trung hòa nọc độc của rắn Hổ Mang Đất rất hiệu quả.

Mimosa pudica có tính chất chống oxy hóa và kháng khuẩn. Thử nghiệm với tôm nước mặn cho thấy Mimosa pudica có lượng độc tố rất thấp. Phân tích thành phần hóa học cho thấy Mimosa pudica bao gồm rất nhiều hợp chất, bao gồm alkaloids, flavonoid C-glycosides, sterols, terenoids, tannins và các acid béo. Rễ cây gồm các cấu trúc hình túi được biết là có chứa tới 10% Tannin. Nó còn tiết ra các hợp chất hữu cơ và lưu huỳnh như SO2, methylsulfinic acid, pyruvic acid, lactic acid, ethanesulfinic acid, propane sulfinic acid, 2-mercaptoaniline, S-propyl propane 1-thiosulfinate và thioformaldehyde. Lá xấu hổ có chứa một lượng nhỏ chất tương tự như adrenalin. Hạt cây xấu hổ tiết ra chất nhày được cấu thành từ  d-glucuronic acid và d-xylose.  Cây xấu hổ còn chứa rocetin-dimethylester, tubulin và một loại dầu béo tương tự như dầu đậu nành và có thể có cùng công dụng, thành phần chất béo gồm có các acide panmitic 8,7%, stearic 8,90%, oleic 31,0%, linoleic 51%, linolenic 0,4%. Ngoài ra các nhà khoa học đã tách ra được một số Protein như Artin Protein (Artin like protein), loại Hormon thực vật Tugorin là dẫn xuất của gallic acid 4-O-(β-D-glucopyranosyl-6'-sulfate) có vai trò như một yếu tố làm cho lá hoạt động (gập, mở) theo chu kỳ và các chất Tubulin gồm α _Tubulin và β_Tubulin, có tác dụng điều hòa các chuyển động của lá xấu hổ.

Văn hóa Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tân nhạc Việt Nam, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có tác phẩm "Hoa trinh nữ" ví loài thực vật này như tính rụt rè e thẹn của người con gái. Cũng như có nhiều bài hát khác và bài thơ nói về "hoa mắc cỡ".

Một vài hình ảnh về cây[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đỗ Tất Lợi, "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam", Nhà xuất bản Y học, 2006.