Cốc giấy

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Cốc giấy loại đơn giản
Cốc giấy cách nhiệt dành cho đồ uống nóng, cắt lớp để thấy tầng không khí

Cốc giấy là một loại cốc làm bằng giấy và thường được lót bằng nhựa hoặc sáp để ngăn chặn chất lỏng rò rỉ ra ngoài hoặc ngấm qua giấy.[1][2][3] Nó có thể được làm bằng giấy tái chế[4] và được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Cốc giấy đã được dùng trong triều đình Trung Quốc, nơi mà giấy được phát minh vào thế kỷ thứ 2 TCN.[5] Cốc giấy được gọi là chih pei và đã được sử dụng cho việc uống trà.[6] Các cốc giấy đã được tạo ra với các kích cỡ và màu sắc khác nhau và được trang trí với nhiều kiểu thiết kế. Bằng chứng của cốc giấy xuất hiện trong một mô tả của các tài sản của gia đình họ Yu tại thành phố Hàng Châu.[6]

Cốc giấy hiện đại đã được phát triển trong thế kỷ 20. Trong những năm đầu thế kỷ 20, nó đã được phổ biến để dùng chung cốc uống nước ngay tại nguồn nước như vòi lọc hoặc thùng nước trong xe lửa. Việc sử dụng chung này gây ra vấn đề sức khỏe công cộng. Một điều tra đáng chú ý về việc sử dụng cốc giấy là nghiên cứu của Alvin Davison, giáo sư sinh học tại Lafayette College, được xuất bản với tiêu đề giật gân "Cái chết nằm trong cốc uống nước tại trường học" trong tạp chí Kỹ thuật thế giới vào tháng 8 năm 1908, dựa trên nghiên cứu thực hiện tại Easton, trường công lập ở Pennsylvania. Bài báo đã được in lại và phân phối bởi Hội đồng Y tế Nhà nước của tiểu bang Massachusetts vào tháng năm 1909.[7]

Do những mối quan tâm trên, và vì cốc giấy (đặc biệt là sau phát minh Dixie Cup năm 1908) đã trở thành rẻ, sạch và có sẵn, các lệnh cấm cốc dùng chung ở vùng địa phương đã được thông qua. Một trong những công ty đường sắt đầu tiên sử dụng cốc giấy dùng một lần là Lackawanna Railroad, bắt đầu sử dụng chúng trong năm 1909. Đến năm 1917, cốc dùng chung đã biến mất khỏi các toa xe đường sắt, được thay thế bằng cốc giấy, ngay cả tại các nơi chưa cấm cốc dùng chung.[8]

Cốc giấy cũng được sử dụng trong bệnh viện vì lý do sức khỏe. Năm 1942 trong một nghiên cứu, State College Massachusetts khám phá ra các chi phí của việc sử dụng cốc tái sử dụng sau khi được làm tiệt trùng gấp 1,6 lần chi phí của việc sử dụng cốc giấy dùng một lần.[9] Những nghiên cứu này, cũng như việc giảm nguy cơ lây nhiễm, đã khuyến khích việc sử dụng cốc giấy trong các bệnh viện.

Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời kỳ trước 1975 cốc giấy đã theo chân người Mỹ xuất hiện ở Sài Gòn, nhưng do thời gian sau đó quân Mỹ rút khỏi Việt Nam nên việc phổ biến đã bị gián đoạn. Đầu thập niên 90 cốc giấy bắt đầu xuất hiện trở lại Việt Nam, do một số công ty nhập khẩu về để phục vụ cho các doanh nghiệp nước ngoài, tiêu biểu là các công xưởng của người Nhật, tiếp đến là một số khách sạn lớn. [cần dẫn nguồn]

Đầu những năm 2000 cốc giấy dần phổ biến và trở thành mặt hàng gia dụng phổ thông, được bán nhiều tại các siêu thị.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Waxed Paper Food Containers & Lids” (PDF). Solocup.com. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2007. 
  2. ^ Kennedy, Garry: Dixie Cup entry, Apollo Glossary, NASA. Truy cập 2012-02-06.
  3. ^ “Paper Products & Dispensers”. Toiletpaperworld.com. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2007. 
  4. ^ Raloff, Janet (ngày 11 tháng 2 năm 2006). “Wind Makes Food Retailers Greener”. Science News. 
  5. ^ Tsien, Tsuen-Hsuin (1985). “Paper and Printing”. Joseph Needham, Science and Civilisation in China, Chemistry and Chemical Technology. 5 part 1. Cambridge University Press. tr. 38. 
  6. ^ a ă Joseph Needham (1985). Science and Civilisation in China: Paper and Printing. Cambridge University Press. tr. 122. ISBN 978-0-521-08690-5. At this time tea was served from baskets made of rushes which held... a set of several tens of paper cups (chih pei) in different sizes and colors with delicate designs 
  7. ^ “Dixie Cup Company History”. Lafayette College Libraries. Tháng 8 năm 1995. 
  8. ^ Bản mẫu:White-Passenger-1985
  9. ^ Beulah France (tháng 2 năm 1942). “Uses for Paper Cups and Containers”. The American Journal of Nursing 42 (2): 154–156. JSTOR 3416163. doi:10.2307/3416163. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]