Cổ trướng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Thuật ngữ báng hay cổ trướng, cổ chướng nhằm để chỉ một tình trạng tích tụ dịch bệnh lý hay nước trong khoang phúc mạc (tức là giữa lá thành và lá tạng của màng bụng).[1]

Cổ trướng không phải là một bệnh, mà chỉ là một hiện tượng, một triệu chứng do rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên.

Biểu hiện[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đầy bụng
  • Đau bụng
  • Rối loạn tiêu hóa
  • Sốt
  • Chán ăn
  • Rốn lồi
  • Phù toàn thân
  • Nhiễm khuẩn

Chẩn đoán nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Dựa vào phản ứng Riyalta có thể chia làm:

Cổ trướng dịch thấm (Phản ứng Rivalta âm tính)

Cổ trướng toàn thể, nằm ngoài ổ bụng, ngoài ra có ở màng phổi có thể có dịch nước và phù toàn thân. Dịch trắng trong hoặc màu vàng nhạt.

  • Xơ gan mất bù
  • Bệnh tim như suy tim phải hay toàn thể
  • Bệnh thận như hội chứng thận hư, viêm cầu thận.
  • Ngoài ra do suy dinh dưỡng

Cổ trướng dịch tiết (Phản ứng Rivalta âm tính)

Nằm ở trong ổ bụng. Dịch màu vàng chanh, đỏ máu hoặc đục mủ.

  • Lao màng bụng
  • Ung thư màng bụng
  • Viêm phúc mạc nhiễm khuẩn. Ngoài ra do nắm, HIV.

Xét nghiệm điều trị[sửa | sửa mã nguồn]

Phân biệt[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Chẩn đoán cổ chướng”. Truy cập 4 tháng 11 năm 2015. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]