Cổng thông tin:Giáo hội Công giáo Rôma
Giới thiệuGiáo hội Công giáo, còn gọi là Giáo hội Công giáo Rôma, là giáo hội Kitô giáo hiệp thông hoàn toàn với vị giám mục giáo phận Rôma, hiện tại là Giáo hoàng Lêô XIV. Giáo hội Công giáo là hệ phái Kitô giáo lớn nhất, với trên 1,3 tỷ thành viên, tính đến năm 2024. Tín hữu Công giáo tin rằng Giáo hội Công giáo là giáo hội do Chúa Giêsu Kitô (Kitô hay Cơ Đốc, trước đây phiên âm là Kirixitô, mang nghĩa là "Đấng được xức dầu") thiết lập, và truyền dạy qua các tông đồ. Giáo hoàng là người kế vị tông đồ trưởng Phêrô, còn các giám mục là những người kế vị các tông đồ khác. Dưới sự lãnh đạo của giáo hoàng, Giáo hội Công giáo xác định nhiệm vụ của họ là truyền bá Phúc Âm của Chúa Giêsu Kitô, cử hành các bí tích - đặc biệt là Bí tích Thánh Thể - và thực hành bác ái. Bà Maria cũng chiếm một vị trí quan trọng trong đức tin của người Công giáo, hơn nhiều so với các hệ phái Kitô giáo khác. Họ tôn kính bà vì tin rằng bà nhận được những đặc ân của Thiên Chúa mà không người phụ nữ nào khác có được: vô nhiễm nguyên tội, làm Mẹ Thiên Chúa, đồng trinh trọn đời và cả hồn cùng xác được lên thiên đàng. Công giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến triết học, văn hóa, nghệ thuật, văn học, âm nhạc, luật pháp, và khoa học phương Tây. Người Công giáo có mặt khắp thế giới thông qua việc truyền giáo, di dân, và cải đạo. Từ thế kỷ 20 với sự thế tục hóa ở châu Âu và Bắc Mỹ, đa số người Công giáo ngày nay sống ở vùng Nam Hoàn cầu. Công giáo Tây phương và Chính thống giáo Đông phương thuộc cùng một khối hiệp thông trong hơn một thiên niên kỷ đầu tiên cho tới khi xảy ra cuộc Ly giáo Đông–Tây năm 1054. Trước đó, vào thế kỷ thứ 5, các giáo hội Cảnh giáo và Chính thống giáo Cổ Đông phương đã ly khai với khối hiệp thông này. Các giáo hội theo những nghi lễ Đông phương trở lại hiệp thông với Roma được gọi là Công giáo Đông phương, có tổng cộng khoảng 18 triệu tín hữu. Thế kỷ 16 diễn ra cuộc Cải cách tôn giáo hình thành nên các hệ phái Kháng Cách (thường gọi là Tin Lành). Từ cuối thế kỷ 20, Giáo hội Công giáo đã bị chỉ trích vì giáo huấn về tính dục, giáo lý phản đối việc phong chức cho phụ nữ, và cách xử lý các vụ lạm dụng tình dục do giới giáo sĩ gây ra. (Đọc thêm...) Sách Các Vua quyển 1 3,16-28 Bấy giờ có hai người gái điếm vào chầu vua. Khi đứng trước mặt vua, thì một người nói : “Ôi, thưa chúa thượng tôi, tôi và người đàn bà này cùng ở một nhà ; và tôi sinh một đứa con, trong lúc chị này cùng ở đó với tôi. Tôi sinh được ba ngày, thì người đàn bà này cũng sinh. Chúng tôi ở chung với nhau ; ngoài hai chúng tôi ra, không có ai khác trong nhà. Đêm nọ, đứa con của chị này chết, vì chị đè lên nó ; giữa đêm chị thức dậy, và trong khi nữ tỳ của ngài vẫn ngủ, thì chị bế đứa con của tôi đang nằm cạnh tôi, và đặt trong lòng mình, còn đứa con đã chết của chị, chị đặt vào lòng tôi. Đến sáng khi tôi thức dậy cho con bú, thì này đứa bé đã chết. Nhưng khi tôi nhìn kỹ nhờ ánh sáng ban ngày, thì ra nó không phải là đứa con tôi đã sinh ra.” Người đàn bà kia trả lời : “Không phải thế, vì con tôi còn sống, con chị mới là đứa chết.” Nhưng người này lại nói : “Không phải, con chị mới là đứa chết, đứa sống là con tôi.” Và họ cãi nhau trước mặt vua. Bấy giờ vua nói : “Chị này bảo : ‘Đứa sống này là con tôi, con chị mới là đứa chết.’ Chị kia đáp lại : ‘Không phải thế, con chị mới là đứa chết, nhưng con tôi còn sống.’” Rồi vua ra lệnh : “Đưa cho ta chiếc gươm.” Người ta đưa tới trước mặt vua một chiếc gươm. Và vua quyết định : “Phân đứa trẻ còn sống ra làm hai, và cho mỗi người một nửa !” Bấy giờ người mẹ của đứa trẻ còn sống, động lòng thương con mình, liền thưa với vua : “Ôi ! thưa chúa thượng tôi, xin ngài cho chị ấy đứa trẻ còn sống ; còn giết chết nó, thì xin đừng !” Người kia nói : “Chẳng phải con tôi, cũng chẳng phải con chị, cứ chia ra !” Bấy giờ vua lên tiếng nói : “Trao đứa trẻ còn sống cho người nói trước, và đừng giết nó, chính nàng mới là mẹ nó.” Toàn thể Ít-ra-en nghe biết vụ án vua đã xử, đều kính sợ vua, vì thấy rằng Thiên Chúa đã phú bẩm cho vua một sự khôn ngoan lạ lùng để người xét xử.
Phêrô Nguyễn Văn Nhơn (sinh ngày 1 tháng 4 năm 1938) là một hồng y, giám mục Công giáo người Việt. Ông hiện đảm nhận tước vị Hồng y đẳng Linh mục Nhà thờ San Tommaso Apostolo (Thánh Tôma Tông đồ). Ông từng đảm nhiệm vai trò tổng giám mục Tổng giáo phận Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam và giám mục chính tòa Giáo phận Đà Lạt. Khẩu hiệu giám mục là: "Ngài phải lớn lên" (Ga 3,30). Ông có thể nói được các thứ tiếng như: tiếng Anh, tiếng Pháp và Latinh bên cạnh tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt.
Hồng y Nguyễn Văn Nhơn sinh trưởng tại Đà Lạt trong một gia đình có truyền thống Công giáo lâu đời. Sau quá trình tu học kéo dài gần 20 năm, tháng 12 năm 1967, ông được truyền chức linh mục tại Đà Lạt. Trong thời kỳ linh mục, ông từng đảm nhiệm các chức vụ khác nhau như Giám đốc Ðại chủng viện Minh Hòa Đà Lạt, chính xứ Nhà thờ chính tòa Đà Lạt và linh mục Tổng Đại diện Giáo phận Đà Lạt. Ngày 11 tháng 10 năm 1991, Tòa Thánh bổ nhiệm linh mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn làm giám mục phó Giáo phận Đà Lạt và lễ tấn phong đã được cử hành sau đó vào ngày 3 tháng 12 cùng năm. Sau khoảng thời gian ba năm làm giám mục phó, ông kế nhiệm chức giám mục chính tòa Giáo phận Đà Lạt năm 1994, sau khi vị tiền nhiệm Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm được thuyên chuyển làm giám mục Giáo phận Thanh Hóa. 27 tháng 1:
Sinh: Mất: Giáo hoàng Vitalianô (672; hình)
Thánh Giuse là một vị thánh của Kitô giáo. Những ghi chép về Giuse xuất hiện đầu tiên trong các bản Phúc Âm Luca và Matthew (còn những văn bản ra đời sớm của Phúc Âm như các thư Sứ đồ Phaolô hay Phúc Âm Máccô không đề cập đến người chồng của Maria). Tuy các thông tin đề cập trong hai sách trên không hoàn toàn thống nhất với nhau nhưng chúng cùng mô tả Giuse là chồng của Maria và cha về mặt pháp lý của Giêsu. Theo Phúc Âm Luca, Giuse là người thuộc chi họ Giuđa, hậu duệ đời thứ 40 của vua David, sinh trú tại Bethlehem. Ông thuộc tầng lớp gia đình bình dân của xã hội thời đó. Ông đính hôn với Maria – một thiếu nữ quê ở Nazareth, cũng thuộc chi họ Giuđa.
Tất cả các sách Tân Ước đều không thuật lại một lời nói nào của Giuse mà chỉ nhắc đến những hành động được cho là thi hành lời của Thiên Chúa phán qua sứ thần. Đứng trước sự việc Maria mang thai không phải bởi mình, Giuse đã không từ bỏ Maria và cái thai trong bụng bà mà ông muốn họ có một tư cách pháp lý theo luật Do Thái: "là con cháu vua David đúng như lời Thiên Chúa đã hứa từ thời Cựu Ước". Ông Giuse cũng nhận lời phán truyền của Thiên Chúa qua lời thiên sứ để đưa Maria và Jesus rời xứ Judea sang Ai Cập nhằm tránh cuộc thảm sát của vua Hêrôđê Đại đế. Sau đó cũng chính ông nghe lời của thiên sứ truyền báo để đưa gia đình trở về quê hương sau khi Hêrôđê chết. Các sách Phúc Âm không cho biết Giuse qua đời vào thời điểm nào. Lần cuối cùng các văn bản này nhắc đến Giuse là khi ông tìm được trẻ Giêsu tại đền thờ Jerusalem, lúc đó Giêsu đang luận bàn giáo lý với các nhà thông học Do Thái giáo. Những chứng cứ gián tiếp cho thấy nhiều khả năng ông mất trước giai đoạn Giêsu hoạt động công khai. |



