Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ
1946–1949
Quốc kỳ Nam Kỳ

Tiêu ngữa. Ta phải lập quốc bằng nhơn đạo
b. Xứ Nam Kỳ của người Nam Kỳ

Tổng quan
Cương vực Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ trên dư đồ Đông Dương.
Cương vực Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ trên dư đồ Đông Dương.
Vị thếChính phủ thuộc Liên hiệp Pháp (quốc gia)
Chính phủ bù nhìn của Pháp (cộng sản)
Thủ đôSài Gòn
Ngôn ngữ thông dụngTiếng Việt
Tiếng Pháp
Tiếng Hán
Tiếng Khmer
Tôn giáo chính
Phật giáo
Công giáo
Cao Đài
Hòa Hảo
Chính trị
Chính phủĐại nghị chế
Thủ tướng 
• 1946
Nguyễn Văn Thinh
• 1949
Nguyễn Văn Xuân (cuối cùng)
Lịch sử
Thời kỳChiến tranh Đông Dương
Chiến tranh lạnh
• Liên hiệp Pháp đơn phương công nhận độc lập với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
1 tháng 6 năm 1946
• Quốc hội Nam Kỳ biểu quyết cáo chung, Nam Kỳ tạm do Pháp trực trị, chuẩn bị sáp nhập Quốc gia Việt Nam ngày 22 tháng 5 năm 1949
23 tháng 4 năm 1949
Kinh tế
Đơn vị tiền tệĐồng
Franc
Tiền thân
Kế tục
Liên bang Đông Dương
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Quốc gia Việt Nam

Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ (tiếng Pháp: République autonome de Cochinchine, Hán tự: 南圻自治共和國) là chính thể bán độc lập tồn tại giai đoạn 1946 - 1948 tại địa phận Nam Kỳ thuộc Liên hiệp Pháp, có vị thế vừa tiếp nhận vừa coi quản cựu lĩnh thổ này.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ vốn là lối gọi ở các giai đoạn sau khi chính thể đã cáo chung. Theo cứ liệu báo giới cùng văn bản hành chính đương thời, quốc danh chính thức là Nam-kỳ cộng-hòa quốc (République de Cochinchine, 南圻共和國), gọi phiếm trong dân gian và truyền thông bấy giờ là Nam-kỳ quốc hoặc Nam-kỳ tự-trị.

Giai đoạn 1948-9 là thời gian chờ thủ tục sáp nhập với hai miền còn lại thành Quốc gia Việt Nam, xứ Nam Kỳ đổi gọi chính thể là Cộng-hòa Nam-phần Việt-nam (République du Sud-Viêtnam) để hợp thức hóa.

Nhượng địa (1868 - 1945)[sửa | sửa mã nguồn]

Theo các thỏa ước năm 1867, triều đình An Nam tương nhượng từ một phần tới hoàn toàn Nam Kỳ cho Đế quốc Thực dân Pháp. Khu vực thành hưởng quy chế lĩnh thổ trực trị duy nhất của Cộng hòa Pháp tại Đông Nam Á, theo mô hình Bắc Ireland, công dân Nam Kỳ hưởng đặc quyền cao hơn các thành viên khác trong Liên bang Đông Dương, nhưng chưa phải công dân Pháp chính thức.

Nam Kỳ là vùng mới khai hoang có những đặc thù lịch sử, xã hội, kinh tế, chính trị, luật pháp, văn hóa, tâm lý, phong tục... khác hoàn toàn Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Thời Pháp thuộc, Nam Kỳ là thuộc địa do người Pháp trực trị với một hệ thống luật pháp khác hệ thống được áp dụng tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ, ngoại trừ chung nhau cơ chế quản lý và vận hành giáo dục. Tại Nam Kỳ không tồn tại bộ máy hành chính của triều đình Huế như ở Bắc và Trung Kỳ, cũng không áp dụng các bộ luật như tại Bắc-Trung Kỳ.

Về mặt kinh tế, Nam Kỳ hình thành giai cấp đại địa chủ người Việt giàu lên nhờ chính sách khai hoang của chính quyền thuộc địa, nhiều người trong tầng lớp này mang quốc tịch Pháp. Vào năm 1939, tại Việt Nam có 6800 đại điền chủ, trong đó Nam Kỳ chiếm 6300 người[1]. Thương mại tại Nam Kỳ đặc biệt là ngoại thương (xuất khẩu nông sản) khá phát triển. Do điều kiện thích hợp cho nông nghiệp (khí hậu, đất đai, tưới tiêu đều thuận lợi) nên mức sống tại Nam Kỳ cao hơn các miền khác. Phạm Quỳnh nhận xét "làm dân Nam Kỳ sướng thật, cầy cấy ít ruộng vườn cũng thừa đủ nuôi thân, không phải khó nhọc, suốt năm vô lo vô lự, nhàn hạ rong chơi, lụt không có, hạn không có, mưa rầm gió bấc cũng không, tiền công trong làng đã nhiều, bổ bán đóng góp không phải chịu, pháp luật Nhà nước đã nghiêm, đàn anh bắt nạt cũng khó lòng, ưu du tuế nguyệt, suốt năm như một ngày, anh áo cánh trắng bong, quần thâm lĩnh bóng, chị kiềng vàng đeo cổ, ô soạn cầm tay ; còn cảnh tượng gì vui thú bằng. Thiết tưởng suốt nước Nam, từ Nam chí Bắc, không có hạng người nào sướng bằng bọn điền chủ lớn ở Nam Kỳ. Giàu hàng ức triệu, sa sỉ thật vô song, cửa nhà như cung điện, trang sức không ai bằng, mà người thường mộc mạc, lo nghĩ chẳng bận lòng ; cứ vật chất thượng, thử hỏi trần gian còn gì khoái lạc bằng ! Xét về phương diện ấy, đất Nam Kỳ thật là nơi quý địa của cái "vật chất chủ nghĩa" vậy"[2].

Nam Kỳ có nền báo chí hình thành sớm nhất Đông Dương và phát triển tương đối tự do nhờ được người Pháp áp dụng quy chế thuộc địa chứ không phải quy chế bảo hộ như tại Bắc và Trung Kỳ. Hơn nữa Nam Kỳ còn có một tầng lớp trí thức Tây học, nhiều người trong số này từng du học tại Pháp hoặc có quốc tịch Pháp[3]. Chữ quốc ngữ khá thông dụng ở Nam Kỳ, có những phụ nữ và trẻ em cũng biết đọc[4]. Dân Nam Kỳ ham đọc sách và có tiền mua sách trong khi đó Phạm Quỳnh nhận xét "dân Bắc Kỳ, Trung Kỳ, trăm người chưa được một người đọc thông chữ quốc ngữ, mười người đọc thông chữ quốc ngữ chưa được một người thích xem văn quốc ngữ, lại thêm dân nghèo, bỏ ra mấy đồng bạc mua báo một năm đã lấy làm một món tiền nặng; đến những bậc sĩ phu thì phần nhiều những quẩn quanh trong vòng danh lợi mà sao nhãng những việc văn chương; nghề làm báo làm sách thật không được đủ điều tiện lợi như Nam Kỳ"[4].

Chính vì thế mức Âu hóa về kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, luật pháp, tập quán, lối sống... ở Nam Kỳ khá cao. Ngoài ra còn phải kể đến những khác biệt do điều kiện địa lý, đặc điểm dân cư, cấu trúc xã hội và lịch sử chia cắt nhiều thế kỷ với miền Bắc (Trịnh-Nguyễn phân tranh) tạo ra. Tác giả Nguyễn Văn Trung nhận xét "Ở miền Bắc, vùng đất cũ, làng xã khá chặt chẽ, con người đã gắn chặt với nền văn minh đó nên rất khó thay đổi được nền văn minh này bằng nền văn minh Pháp. Không thay đổi được thì phải tôn trọng nó và lợi dụng sự tôn trọng đó về mặt chánh trị. Đó là ý nghĩa của chánh sách bảo hộ. Trái lại, miền Nam là vùng đất mới, những người lưu dân đến cư ngụ không còn giữ được những truyền thống xưa cũ một cách chặt chẽ, họ lại là người tứ chiếng (Việt trà trộn với Miên-Tàu), do đó có thể tác động vào những cấu trúc văn hóa lỏng lẻo này để thay thế chúng bằng văn hóa Pháp. Đó là cơ sở của chánh sách đồng hóa và thuộc địa được áp dụng ở Nam Kỳ"[5]. Tất cả tạo nên một tâm lý phổ biến trong dân cư Nam Kỳ coi các vùng miền khác là những xứ sở xa lạ. Tâm lý này có thể được một số chính trị gia khai thác vì mục đích chính trị.

Trước năm 1945, ở Nam Kỳ đã có những cá nhân và tổ chức vận động, tuyên truyền đòi người Pháp mở rộng quyền tự trị cho người Việt như Đảng Lập hiến Đông Dương[6]. Các cuộc vận động này do tầng lớp trung lưu và thượng lưu chủ xướng. Sau năm 1945, ý tưởng chính trị này vẫn còn tồn tại[7].

Thuộc địa (1945 - 1946)[sửa | sửa mã nguồn]

Sau đảo chính mồng 09 tháng 03, Đế quốc Nhật Bản mặc nhiên thừa nhận Nam Kỳ là một phần Đế quốc Việt Nam, tuy nhiên chính phủ Đế quốc Việt Nam chưa kịp đặt định hệ thống hành chính thì đã cáo chung. Sau đó, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lập cơ chế hành chính sơ khai tại Sài Gòn được non một tháng thì liên quân Anh-Pháp tái chiếm. Cộng hòa Pháp được Đồng Minh cho toàn quyền quyết định số phận khu vực này, chính phủ Pháp tạm thời ủy thác chế độ quân quản để tiến tới lập một chính thể ngang hàng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là giai đoạn quá độ, Nam Kỳ vừa là thuộc địa Pháp vừa là thuộc địa Việt Nam, nghĩa là không tồn tại chính quyền chính thức, mọi hoạt động kiểm soát đều do cơ quan công an (Việt Minh) sau đó là quân sự (Pháp).

Từ trước khi giải phóng Pháp, tướng Charles de Gaulle nhân danh Tổng trưởng chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp đã tuyên bố chính sách của Pháp với Đông Dương vào ngày 24 tháng 3 năm 1945. De Gaulle cho rằng "Năm quốc gia[8] tạo nên Liên bang Đông Dương được phân biệt bằng văn minh, chủng tộc và truyền thống, sẽ vẫn duy trì những đặc điểm riêng của họ trong Liên bang."[9][10]. Như vậy, cho đến cuối Thế chiến thứ II, người Pháp vẫn xem Bắc, Trung, và Nam Kỳ của Việt Nam là ba quốc gia khác nhau, cùng với Lào và Cao Miên, tạo thành năm xứ Đông Dương. Việc thành lập Cộng hòa tự trị Nam Kỳ sau đó cũng nằm trong kế hoạch tái lập Liên bang Đông Dương của Pháp.

Ở Viễn Đông, khi Đệ nhị thế chiến đã kết thúc và Đế quốc Nhật Bản cũng đầu hàng Đồng Minh ngày 15 tháng 8 năm 1945 thì lĩnh thổ Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở xuống do lực lượng Anh dưới quyền chỉ huy của tướng Douglas Gracey nhân danh các quân đoàn Đồng Minh tiếp quản. Sau hội nghị Cây Mai mới có một hình thức hành chính sơ khai nhằm quản lý Nam Kỳ, mà thực chất là trao quyền kiểm soát cho Quốc gia Tự vệ Cuộc của Việt Minh - cơ quan tương tự NKVD lập tại Sài Gòn, nhưng thể chế này tồn tại mới non một tháng đã tan rã do áp lực của chiến tranh Nam Bộ. Sau khi chiến dịch Nam tiến thất bại, Việt Minh cũng mất hẳn vị thế ở Nam Kỳ, nhường chỗ cho sự trỗi dậy của các phái Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên. Nhưng theo tài liệu công bố cuối năm 2019 đầu năm 2020, ngay từ trước sự kiện Cách mạng tháng Tám, ban lãnh đạo Việt Minh đã họp ngắn về tình hình Nam Kỳ và dự định thiết lập một cơ chế hành chính bán tự trị mà về sau lại khá sát với quy chế Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ. Trong đó, chính quyền trung ương Nam Kỳ có mọi quyền hạn tại địa phận Nam Kỳ, ngoại trừ ngoại giao và quân sự phải do chính phủ thống nhất tại Bắc-Trung Kỳ đảm nhiệm. Nam Kỳ được phép có chức vụ cao nhất là thủ tướng, nhưng phải do chính phủ Việt Minh đề cử (tối thiểu 3 người, hội đồng lập pháp Nam Kỳ biểu quyết chọn 1). Theo các tài liệu quốc nội và hải ngoại thập niên 1990, phía lĩnh đạo cấp cao Việt Minh cũng nhiều lần nhấn mạnh sự không cần-thiết phải hoàn toàn hợp nhất Nam Kỳ với Bắc-Trung Kỳ vì đặc điểm miền này quá khác các lĩnh thổ Việt Nam còn lại, kể cả Tây Nguyên, vẫn để cánh cửa ngỏ cho nền tự-trị Nam-bộ nhằm gìn-giữ đặc-sắc phong-tục tập-quán cố-hữu nhưng ngôn ngữ, giáo dục, văn hóa và an ninh phải có sự khắng khít với các miền còn lại nhằm bảo toàn độc lập tự chủ của nước Việt Nam trên bình diện quốc tế. Tuy nhiên, do nội tình Nam Kỳ lúc này đã không thể cứu vãn nên giải pháp chính trị đó không còn cơ sở thực hiện. Dù vậy, ý tưởng này chừng 30 năm sau được chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bổ chính và áp dụng tại Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.

Đến ngày 23 tháng 09 năm 1945 người Pháp tái vũ trang và sẵn sàng tiếp quản Sài Gòn nhưng phải đợi đến tháng 10 khi quân Anh chính thức trao chủ quyền lại cho Pháp thì Quân đội Pháp mới đổ bộ[11] rồi mở rộng đánh chiếm toàn Nam Bộ.

Ủy trị (1946 - 1948)[sửa | sửa mã nguồn]

Về mặt hình thức, Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ hoàn toàn tự trị, nhưng tam quyền phân lập trung ương và các vị trí chủ chốt ở nội các đều do Cộng hòa Pháp chi phối, theo mô hình Liên bang Úc. Tính chính thống của Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ chỉ tồn tại hoàn toàn ở các địa phương xa Sài Gòn.

Rue Catinat ở thủ đô Sài Gòn năm 1947.
Rạp Francis Garnier ở rue Catinat tại thủ đô Sài Gòn năm 1947.

Tháng 02 năm 1946, Ủy viên Cộng hòa Nam Kỳ (Commissaire République), tức chức vụ mới lập để gọi người Pháp đứng đầu hệ thống hành chính Nam Kỳ là Jean Cédile. Cédile cho lập Hội đồng tư vấn Nam Kỳ (Conseil consultatif de Cochinchine) với 12 ủy viên, trên danh nghĩa giúp người bản xứ tự quyết định tương lai xứ sở, nhưng cũng có ý tách dần chính trị Nam Kỳ khỏi những biến động và thương thuyết ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Thành phần Hội đồng gồm 4 người Pháp và 8 người Việt nhưng tất cả đều có quốc tịch Pháp.[12]

Hội đồng này sang tháng 03 cùng năm đã đệ trình một kiến nghị có chữ ký của 8 ủy viên người Việt lên Cao ủy Đông Dương (tương đương với chức vụ Toàn quyền Đông Dương cũ) là Đô đốc Georges Thierry d'Argenlieu xin lập một xứ Nam Kỳ tự trị.[13] Cédile tỏ rõ ý định ủng hộ ý đồ "Nam Kỳ tự trị" và hậu thuẫn những đảng phái thân Pháp như Đảng Nam Kỳ của Béziat để vận động công chúng. Những nhóm khác như Đông Dương Tự trị Đảng và Việt Nam Tân dân Đảng cũng ngả theo lập trường "Nam Kỳ tự trị" của Pháp. Cùng lúc đó thì đảng Tân Dân chủ của bác sĩ Nguyễn Văn Thinh tuy tham gia vào Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ vẫn gắng tìm chỗ đứng riêng để thu hút các lực lượng phi Việt Minh.

Ngày 31 tháng 05 năm 1946, Hội đồng tư vấn Nam Kỳ lấy tên mới là Hội đồng Nam Kỳ (Conseil de Cochinchine) và tăng số ủy viên lên 42 người. Theo hồi ký của cố giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, tình hình đô thành Sài Gòn và miền Tây Nam Bộ thời kì này rất lộn xộn. Khu vực Tân Sơn Nhứt thường có hiện tượng giựt dọc hoặc người Bắc Kỳ tị nạn chiến tranh bị giết vì lý do kì thị. Trên nguyên tắc pháp lý, lãnh thổ Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ cấu thành từ địa phận Nam Bộ thuộc chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng do chính phủ Pháp chưa chính thức công nhận nền độc lập của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên tùy nghi thiết lập hệ thống chính trị trên mọi địa phận mà nay là Việt Nam. Tuy nhiên, trong suốt thời gian tồn tại, chính thể Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ cũng chưa hề phủ quyết sự tồn tại của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nên học giới quốc tế thường đặt nó ở vị thế song song với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên lãnh thổ Việt Nam đương thời.

Trong khi Hội nghị Fontainebleau sắp diễn ra ở Pháp thì Cao ủy Đông Dương là d'Argenlieu đơn phương tán thành việc thành lập Cộng hòa tự trị Nam Kỳ ngày 27 tháng 5 năm 1946 và ra tuyên cáo ngày 01 tháng 06 (Proclamation du premier gouvernement cochinchinois) trước đám đông tụ tập ở Nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn[14]. Ngày 5 tháng 6, Tổng trưởng Pháp Marius Moutet chấp thuận hành xử của ông d'Argenlieu để "bảo vệ quyền lợi của dân tộc Nam Kỳ".[15] Cũng vào đầu tháng 06, bác sĩ Nguyễn Văn Thinh được đề cử làm Thủ tướng Chính phủ Cộng hòa Nam Kỳ tự trị. Ủy viên Cédile liền ký với tân Thủ tướng một hiệp ước nhìn nhận xứ Nam Kỳ là một xứ tự do, riêng biệt trong khuôn khổ của Liên bang Đông Dương.

Ngay từ đầu năm 1948, chính phủ Nam Kỳ tự trị đã đình công để chuẩn bị các thủ tục sáp nhập với các miền Việt Nam còn lại để tiến tới thành lập Chính phủ Trung ương lâm thời Việt Nam, một số nhân vật đứng đầu chính phủ lũ lượt sang Hồng Kông yết kiến cựu hoàng Bảo Đại để tránh bị gạt bên lề chính thể mới. Thủ phủ Nam Kỳ được chọn làm thủ đô Quốc gia Việt Nam. Chức Thủ tướng Nam Kỳ tự trị cũng được thay bằng chức Thủ hiến Nam Việt.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thủ tướng Nguyễn Văn Thinh.
Thủ tướng Lê Văn Hoạch.
Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân.

Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh được đề cử làm Thủ tướng nhưng chỉ được ít lâu thì ông tự sát. Thay ông là bác sĩ Lê Văn Hoạch rồi Nguyễn Văn Xuân. Trong thời gian này, để thu hút sự ủng hộ của dân chúng đối với nhà nước Cộng hòa tự trị Nam Kỳ mới thành lập, một số người cổ động cho khẩu hiệu "Xứ Nam Kỳ của người Nam Kỳ".

Tình hình chính trị tại Nam Kỳ thời điểm này rất phức tạp. Có nhiều phe nhóm khác nhau cùng tồn tại, luôn cố gắng củng cố quyền lực riêng như Trần Văn Soái (Năm Lửa) đóng Cái Vồn (Cần Thơ), Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán) giữ Cái Dầu (Châu Đốc), Lê Quang Vinh (Ba Cụt) giữ Thốt Nốt (Long Xuyên), Nguyễn Giác Ngộ đặt bản doanh ở Cao Lãnh (Kiến Phong), Cao Đài cát cứ ở Tây Ninh và Bình Xuyên của Lê Văn Viễn (Bảy Viễn) định doanh ở Chánh Hưng (Chợ Lớn). Đó là chưa kể đến các tổ chức chính trị như Việt Minh, Đại Việt... Người Pháp thì không thực lòng tái thiết trật tự hay xây dựng một xứ Nam Kỳ chân chính mà còn có dụng ý võ trang mỗi nhóm riêng, trên danh nghĩa là giữ an ninh, nhưng chủ ý là chống lại lực lượng Việt Minh. Những nhóm này thường xung đột, tranh giành quyền lực khiến tình hình thêm hỗn loạn.[16]

Theo ông Nguyễn Kỳ Nam, Mặt trận Quốc gia liên hiệp, một ủy ban liên hiệp kháng chiến chống Pháp của các tổ chức cách mạng miền Nam, chủ trương chấp nhận cho bác sĩ Nguyễn Văn Thinh thành lập chính phủ lâm thời Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ vì "nếu không có một Chính phủ ở Nam Kỳ, Nam Kỳ là lãnh thổ của Pháp, theo công pháp quốc tế, nước Pháp vẫn còn ở duyên hải Thái Bình Dương. Tiền đồ tổ quốc sẽ bị xô vào hai ngả hoặc bị đô hộ lại bởi thực dân, hoặc bị đô hộ lại bởi cộng sản quốc tế. Hai viễn tượng đều tai hại cho giống nòi.[17]". Nhưng người cộng sản, Việt Minh, đã tách ra sau sự kiện này, Hội Liên hiệp quốc dân ra đời trong hoàn cảnh đó. Theo kế hoạch của Mặt trận Quốc gia liên hiệp, họ sẽ đưa bác sĩ Lê Văn Hoạch, người của Mặt trận, chính thức thành lập chính phủ Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ thay thế chính phủ của bác sĩ Thinh. Cuối cùng Mặt trận sẽ ủng hộ Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân thành lập Chính phủ Cộng hòa Nam Phần Việt Nam làm tâm điểm hoạt động chính trị cho các đảng phái quốc gia để đi đến thống nhất dân tộc. Chính phủ Cộng hòa Nam Phần Việt Nam do Nguyễn Văn Xuân lãnh đạo sẽ tạo ra thế cân bằng với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Chính phủ này sẽ được thay thế bằng chính phủ Quốc gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Đại lãnh đạo. Đây là một giai đoạn để đi đến sự đoàn kết cuối cùng của dân tộc đúng với lập trường của Mặt trận. Mặt trận ủng hộ việc thành lập Cộng hòa Vệ binh Việt Nam thuộc Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ. Quân đội Cao Đài là thành viên của Mặt trận được phép nhận khí giới của Pháp để lập quân đội làm nền tảng cho quân đội quốc gia sau này.[18]

Ngày 19 tháng 12 năm 1947, thủ tướng Nguyễn Văn Xuân sang Hồng Kông yết kiến Cựu hoàng Bảo Đại và xác nhận ý định thống nhất Nam Kỳ vào nước Việt Nam và mời cựu hoàng ra chấp chánh hầu điều đình tìm một giải pháp thứ ba ngoài Pháp và Việt Minh. Tuy nhiên, việc giải thể Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ mãi đến ngày 08 tháng 03 năm 1949 mới bắt đầu theo Hiệp ước Élysées giữa Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Bảo Đại. Theo đó thì Pháp công nhận nước Việt Nam thống nhất.[19] Tới ngày 23 tháng 04 năm 1949, Nam Kỳ mở cuộc bầu cử Quốc hội chọn 16 dân biểu Pháp và 48 dân biểu người Việt. Quốc hội này đã biểu quyết chấm dứt "nước Nam Kỳ" và hiệp nhất vào nước Việt Nam,[19] để sau đó lập ra chính phủ Quốc gia Việt Nam. Cuối cùng ngày 22 tháng 5 năm 1949, Quốc hội Pháp chính thức bỏ phiếu thông qua việc sáp nhập Nam Kỳ vào Quốc gia Việt Nam.

Phản ứng trước sự thành lập Quốc gia Việt Nam, lĩnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố với thế giới chỉ có chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn thể nhân dân Việt Nam. Tuyên bố trên nhanh chóng chỉ nhận được sự ủng hộ của phe cộng sản khi vào ngày 18-1-1950, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và tiếp sau đó là Liên Xô công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[20]

Biểu trưng[sửa | sửa mã nguồn]

Hiệu kỳ Nam Kỳ thuộc Pháp 1868 - 1945.
Mẫu quốc kỳ lưỡng tài đầu năm 1946.
Mẫu quốc kỳ tam tài cuối năm 1946 trên phù hiệu lực lượng Cộng hòa Vệ binh.

Ngày 01 tháng 06 năm 1946, chính phủ lâm thời Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ vội vàng thông qua quốc kỳ nền vàng với 3 sọc lam vắt ngang ở giữa, phỏng quốc kỳ Đế quốc Việt Nam trước đó, kèm khẩu hiệu «Ta phải lập quốc bằng nhơn đạo» (Nous devons fonder l’État avec humanisme). Ý nghĩa hiệu kỳ nhằm tượng trưng ba con sông Đồng Nai, Tiền Giang và Hậu Giang trên đất Nam Kỳ.[21] Tuy nhiên, công luận trên mặt báo đa số biếm trích màu cờ không hợp nhãn quan, gọi "cờ sốt rét"[22]. Vì thế, tới ngày 31 tháng 10 cùng năm, hai sọc vàng ở giữa được thay bằng sắc trắng cho màu cờ đỡ tối hơn[14][23]. Mẫu cờ này tồn tại tới ngày 23 tháng 04 năm 1949 thì kết thúc theo sự cáo chung của chính thể[24]. Sau đó, hiệu kỳ làm đại diện Nam Kỳ được thay bằng cờ vàng ba sọc đỏ để chuẩn bị tiến tới ấn định hoàn toàn vào tháng 10 năm 1949 khi Quốc gia Việt Nam công bố thành lập.

Về quốc ca, bản nhạc này lấy tám câu đầu của Chinh phụ ngâm làm lời ca, bị công luận đả kích vì nội dung lấy lời than khóc của một người vợ nhớ chồng mà lại đem làm lời ca.[25] Tác giả của bài này là Võ Văn Lúa.[26]

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ được kiến thiết theo mô hình thể chế Vương quốc Liên hiệp Anh trong mối tương quan mẫu quốc và thuộc địa. Do đó, nguyên thủ quốc gia được hiểu là vị đại diện Phủ Cao ủy do chính phủ Pháp đề cử, có trách nhiệm giám sát đôn đốc sở tại trên nguyên tắc được ủy quyền bởi Cộng hòa Pháp ; dưới chức đại diện Phủ Cao ủy là chức Thủ tướng (nội các tổng trưởng) bảo cử. Tuy nhiên, trong thực tế 3 năm tồn tại, vị trí đứng đầu nội các này liên tục biến động nên hầu hết được chỉ định chứ không qua tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu. Chính phủ Nam Kỳ cũng trải qua cải tổ nhiều lần :

  • Trung ương lâm thời chánh phủ Nam Kỳ quốc (từ 26 tháng 3 đến 31 tháng 5 năm 1946)
  • Trung ương chánh phủ Cộng hòa Nam Kỳ tự trị (từ 1 tháng 6 năm 1946 đến 7 tháng 10 năm 1947)
  • Lâm thời chánh phủ Nam Phần Việt Nam (từ 8 tháng 10 năm 1947 đến 27 tháng 5 năm 1948)
Danh tính Thời gian Chức danh
1a
Nguyễn Văn Thinh
(1888 - 1946)
26/03 - 31/05/1946
Lâm thời thủ tướng
1b
Nguyễn Văn Thinh
(...)
01/6 - 10/11/1946
Thủ tướng
Nội các tổng trưởng
2a
Lê Văn Hoạch
(1896 - 1978)
29/11/1946 - 29/09/1947
Thủ tướng
Nội các tổng trưởng
03
Nguyễn Văn Xuân
(1892 - 1989)
08/10/1947 - 27/05/1948
Thủ tướng
Nội các tổng trưởng
2b
Lê Văn Hoạch
(...)
27/05/1948 - 03/07/1949
Nam Kỳ quốc vụ khanh

Chính phủ về danh nghĩa được Hội đồng Nam Kỳ thành lập ngày 27 tháng 05 năm 1946, dưới sự sắp đặt của ông Jean Marie Arsène Cédile[27] (Ủy viên cộng hòa Pháp tại Nam Bộ) và Georges Thierry d'Argenlieu[28] (Cao ủy Pháp tại Đông Dương). Đây được xem là một chiêu bài chủ đạo của Pháp nhằm tách Nam Kỳ ra khỏi Việt Nam.[27] Tuy nhiên, chính quyền này bị công luận cho là "bù nhìn" và ly khai, phá hoại việc đất nước thống nhất, nên chỉ tồn tại trong thời gian ngắn rồi bị giải thể.

Chính phủ Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ là một Chính phủ lâm thời thân Pháp có quyền lực nhỏ bé. Cộng hòa tự trị Nam Kỳ không được công luận ủng hộ. Người Pháp cũng không tin tưởng giao thực quyền cho Chính phủ này. Vì những lý do đó Chính phủ Cộng hòa tự trị Nam Kỳ có thể được xem là một thất bại.[29]

Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng do Hội đồng Cố vấn Nam Kỳ bầu lên. Hội đồng này do Ủy viên Cộng hòa Pháp, chức danh mới của Thống đốc Nam Kỳ, tuyển chọn. Người đó là Jean Marie Arsène Cédile, nắm quyền trị an bên trong và bên ngoài nước cộng hòa.[30] Ngoài ra Cao ủy Pháp tại Đông Dương (chức danh mới của Toàn quyền Đông Dương) còn có quyền phê chuẩn hoặc bác bỏ mọi bổ nhiệm của Thủ tướng.[31]

Khi chính phủ tự trị Nam Kỳ được thành lập, ngoài các cuộc xung đột vũ trang ở Nam Bộ, binh sĩ Pháp đã nhiều lần gây hấn với chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bằng việc tố cáo Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ là bất hợp pháp. Cao ủy Pháp tại Đông Dương thông báo với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rằng Nam Bộ là thuộc địa của Pháp do đó chỉ Quốc hội Pháp mới có thể quyết định sự thay đổi chính thể tại Nam Kỳ dựa trên kết quả của một cuộc trưng cầu ý dân tại Nam Kỳ. Đáp lại những tuyên bố gây hấn của Pháp về tính hợp pháp của Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ, chủ tịch Hồ Chí Minh đã phản hồi cao ủy Pháp d'Argenlieu rằng ủy ban này được thành lập từ tháng 8/1945 dưới quyền chỉ huy của Chính phủ trung ương, ủy ban này được Hiệp định sơ bộ 6-3 và Tạm ước 14-9 công nhận.[30]

Ngày 27 tháng 5 năm 1948, Trung tướng Nguyễn Văn Xuân từ chức Thủ tướng Chính phủ Nam Phần và nhậm chức Thủ tướng Chính phủ Trung ương lâm thời Việt Nam (Provisional Central Government of Vietnam), quản trị Bắc KỳTrung Kỳ mà trước đó là hai xứ bảo hộ của Pháp. Với sự ra đời của Quốc gia Việt Nam một năm sau đó, Nam Bộ (Nam Phần) trở lại là một bộ phận của Việt Nam thống nhất.[32]

Công luận[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc tế

Chính thể Nam Kỳ tự trị được sự mặc nhiên thừa nhận của các đồng minh Pháp cùng những quốc gia hưởng lợi từ chương trình Marshall. Năm 1946, Đế quốc Anh là chính thể quốc tế tiên khởi công nhận thực thể Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ trên sóng phát thanh. Tới sau khi Chính phủ Trung ương lâm thời Việt Nam thành lập, dư luận thế giới chung coi Cộng hòa Nam Kỳ là một trong những yếu tố cấu thành chính thể Quốc gia Việt Nam.

Quốc gia

Tại địa phận Đông Dương, sự thừa nhận chính thể Nam Kỳ tự trị có sự sai khác trong các tổ chức chính trị bản địa. Dư luận ba miền Việt Nam đương thời nhìn chung đã không còn hi vọng nào với sự tái lập Liên bang Đông Dương, hơn nữa không chấp nhận hình thức bán tự trị hoặc tự do nửa vời trong các thỏa ước liên kết chính trị quân sự với Cộng hòa Pháp. Một số tổ chức không suy tôn Kỳ Ngoại hầu Cường Để thì chọn giải pháp tạm hợp tác với Pháp trong chính thể mới này để dần độc lập hóa Nam Kỳ khỏi Pháp, sau đó nhập trở lại với Việt Nam.

Bảo hoàng

Một số chính đảng bảo hoàng tại Bắc KỳTrung Kỳ mặc dù cũng không đồng tình việc tách Nam Kỳ khỏi dư đồ Việt Nam, nhưng coi đây là giải pháp tạm thời để chặn đứng những hỗn loạn trên địa bàn Nam Kỳ - khu vực đương thời nổi lên nhiều tổ chức chính trị quân sự thủ lợi thay vì tái hợp nhất. Các lực lượng chính trị bảo hoàng Nam Kỳ từ lâu nhìn chung ủng hộ Kỳ Ngoại hầu Cường Để nhờ sức ảnh hưởng của chí sĩ Phan Bội Châu, điều này khác xa phái bảo hoàng Bắc-Trung Kỳ vẫn suy tôn cựu hoàng Bảo Đại. Vài lĩnh tụ bảo hoàng còn kiến nghị với chính giới Pháp tại salon rằng nên suy tôn Kỳ Ngoại hầu Cường Để làm quốc trưởng Nam Kỳ thay vì chọn ủy viên Cộng hòa Pháp không hiểu tình thế bản địa. Tuy vậy, do từng có thời gian rất dài cộng tác với Đế quốc Nhật Bản và còn có mối liên hệ hôn nhân với hoàng thất Nhật Bản, nên hoàng thân mệ Cưởi không được coi là ứng cử viên cho vị trí lĩnh tụ Việt Nam hoặc giải pháp thống nhất các chính đảng Việt Nam.

Hải ngoại

Do lệ thuộc truyền thông bản xứ hoặc vì không liên đới lắm với lợi ích quốc nội, cộng đồng Việt Nam hải ngoại không đề xuất quan điểm chính thức nào về tình hình Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Nam Kỳ cộng hòa quốc. Bởi vậy, hoàn toàn trung dung trong trào lưu chính trị chung tại Đông Dương.

Cộng sản

Ban đầu, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chấp nhận giải pháp lập một chính phủ chung cho Bắc và Trung Kỳ, còn vấn đề Nam Kỳ sẽ giải quyết bằng một cách trưng cầu dân ý tuy nhiên do sự đàn áp của Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ với những người kháng chiến ủng hộ chính phủ Trung ương Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ chối giải pháp này. Điều này được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong cuộc phỏng vấn với ông Vaxiđép Rao (?), thông tín viên hãng Reuter vào tháng 5-1947 rằng : "Trước kia, chúng tôi đã bằng lòng nhận phương sách đó. Ngày nay, chúng tôi không thể nhận được nữa, đồng bào chúng tôi ở Nam Kỳ đã chịu sự hy sinh to lớn để được ở trong Tổ quốc Việt Nam. Chúng tôi không thể phản bội họ được." Cũng theo chính Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thống nhất nghĩa là một Chính phủ Trung ương, một Nghị viện Trung ương cho toàn quốc, Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ sẽ có cơ quan hành chính tự trị riêng, do nhân dân mỗi kỳ bầu lên theo chế độ dân chủ và dưới sự kiểm soát của Chính phủ Trung ương[33].

Bên cạnh đó, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa coi Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ chỉ là một chính phủ bù nhìn và chẳng thể giải quyết được vấn đề gì. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Chính phủ bù nhìn ở Nam Bộ, nó đã không giải quyết được gì, mà chỉ làm kéo dài cuộc chiến tranh và ngǎn trở sự thân thiện giữa hai dân tộc Việt – Pháp"[34]

Theo báo Cứu Quốc, Hội nghị của Chính phủ Nguyễn Văn Xuân là một hội nghị "của bọn Việt gian", là một "cuộc hội đồng chuột" như Hội nghị 19/12/1947 tại Hồng Kông nhằm lòe bịp nhân dân Việt Nam và dư luận thế giới. Quyết nghị và thông cáo của hội nghị này là quyết nghị bán nước.[35] Còn theo báo Sự thật của Đảng Cộng sản Đông Dương: "Những đầu óc phản động thuộc địa ở Đông Dương cố ý làm trái hiệp định sơ bộ mà Pháp đã ký với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Họ nặn ra thuyết "Nam kỳ tự trị" và mua chuộc một bọn Việt gian để thực hành thuyết đó"[36].

Sau đó, báo Cứu Quốc lại phản hồi : "Chúng tôi mong đô đốc Đác-giăng-li-ơ ra lệnh hạ màn cái trò hề vô vị "Chính phủ Cộng hòa Nam Kỳ" đó đi. Nếu người Pháp cần phải thử xem Nam bộ có phải là đất Việt Nam không? Thì cứ mở cuộc trưng cầu dân ý cho công bằng. Tại sao lại một chính phủ tự trị rồi mới trưng cầu dân ý? Phải chăng người ta muốn đặt dân Việt Nam vào một việc dĩ nhiên? việc lập một chính phủ tự trị ở giữa nơi quân Pháp đóng trước khi mở cuộc trưng cầu dân ý để lộ ra một cách vụng về cái ý muốn chia sẻ nước Việt Nam. Việc lập chính phủ bù nhìn ấy làm cho người ta cảm thấy người Pháp muốn dùng bọn bù nhìn uy hiếp dân chúng trong cuộc trưng cầu dân ý[37]. Ban Thường trực Quốc hội ra phản đối chính thức. Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Fontainebleau phản đối. Báo Độc lập ngày 18 tháng 7 năm 1946 bình luận "Ở Cà Mâu, bọn Abalain, Guillemet chẳng đếm xỉa gì đến chính phủ bù nhìn Quisling Nguyễn Văn Thinh cả... Đồng thời ở khắp tỉnh, quận, tổng, làng ở Nam Bộ, Pháp thâu dụng một bọn cướp khác. Bọn này giả danh lập Mặt trận bình dân...".

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyễn Thế Anh. Việt Nam thời Pháp đô hộ, trang 250, Sàigòn : Lửa Thiêng, 1970
  2. ^ Một tháng ở Nam Kỳ, Phạm Quỳnh, trang 107-108, Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2018
  3. ^ ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TÂN HỌC NAM KỲ TRƯỚC NĂM 1930, Huỳnh Bá Lộc, TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3(211), 2016
  4. ^ a ă Một tháng ở Nam Kỳ, Phạm Quỳnh, trang 50-51, Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2018
  5. ^ Hồ sơ về lục châu học, Nguyễn Văn Trung, Nhà xuất bản Trẻ, 2015
  6. ^ ĐẢNG LẬP HIẾN ĐÔNG DƯƠNG VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG Ở NAM KỲ (1923 - 1939), Mai Thị Mỹ Vị, TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (207) 2015
  7. ^ R. B. Smith, Bùi Quang Chiêu and the Constitutionalist Party in French Cochinchina, 1917-30, Modern Asian Studies, Cambridge University, London, III, 2 (1969), pages 131-150
  8. ^ Năm Quốc gia hình thành Liên bang Đông Dương gồm : Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào và Cao Miên
  9. ^ Sockeel-Richarte: La Problème de la Souveraineté Française sur l'Indochine, in Le Général de Gaulle et l'Indochine 1940–1946, tr.26
  10. ^ Martin Shipway, The Road to War: France and Vietnam 1944-1947, tr. 129, Berghahn Books, 2003, trích : "The five lands which comprise the Indochinese Federation, and which are distinguished by civilisation, race and traditions, will maintain their characters within the Federation."
  11. ^ Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận, trang 2026, Nhà xuất bản Nam Á, Paris, 2002
  12. ^ Goodman, Allan E, Politics in War : The Bases of Political Community in South Vietnam, page 20, Harvard University Press, 1973
  13. ^ Hoàng Cơ Thụy. Trang 2089.
  14. ^ a ă Proclamation du premier gouvernement cochinchinois (02:54)
  15. ^ Hoàng Cơ Thụy. Trang 2102.
  16. ^ Hồi ký về chiến khu An Thành, phần 7: Nam Kỳ Quốc, Website Đại Việt Quốc dân Đảng
  17. ^ Hồi ký 1925 - 1964, tập 2, trang 346, Nguyễn Kỳ Nam, Nhật báo Dân Chủ Mới, 1964
  18. ^ Hồi ký 1925 - 1964, tập 2, trang 346-347, Nguyễn Kỳ Nam, Nhật báo Dân Chủ Mới, 1964
  19. ^ a ă 45-54 Chín năm khói lửa, sự thất bại của một chiến lược, Tô Vũ
  20. ^ Góc khuất trong Hội nghị và Hiệp định Genève, Báo Đà Nẵng, 21/07/2009
  21. ^ Hoàng Cơ Thụy. Trang 2012.
  22. ^ Quốc kỳ và quốc ca Việt Nam, Nguyễn Ngọc Huy
  23. ^ L'occasion de la visite présidentielle à Thuduc, des baderoles fleuries manifestent l'attachement de la population à la France et à la Cochinchine, à Thu Duc, Cochinchine en 1947
  24. ^ Le drapeau de la République autonome de Cochinchine 1946-1948
  25. ^ Nguyễn Long Thành Nam, Phật giáo Hòa Hảo trong lòng lịch sử dân tộc, Phần 4: Phật giáo Hòa Hảo và cách mạng, Chương 10: Sơ lược diễn tiến đấu tranh tại miền Nam Việt Nam, Phần 7: Nam Kỳ Quốc, Tập san Đuốc Từ Bi, năm 1991
  26. ^ Âm nhạc Việt Nam cận đại--Quốc ca Việt Nam
  27. ^ a ă Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập hồi ký, Những năm tháng không thể nào quên, trang 279, Nhà xuất bản Trẻ, Hà Nội.
  28. ^ Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến, Tập 1 (1945-1954), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2010
  29. ^ Stein Tonnesson, Vietnam 1946: How the War Began, University of California Press, 2010, trích: "In Saigon, French authorities established a provisional Cochinchinese governmanet, but inasmuch as an overwhelming majority of southerners favored national unification, the provisional government only represented a tiny, wealthy, pro-French minority. It faced a hostile public opinion and an increasingly powerful guerrilla movement, led by the Vietminh in cooperation with the powerful religious sets. The French never trusted the Cochinchinese government enough to give it real power. The experiment Cochinchinese autonomy thus proved a failure."
  30. ^ a ă Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập hồi ký, Những năm tháng không thể nào quên, trang 335, 336, Nhà xuất bản Trẻ, Hà Nội.
  31. ^ Hammer, Ellen. Struggle for Indochina, 1940-1955. Stanford, CA: Stanford University Press, 1955. tr 169
  32. ^ Ngô Chơn Tuệ (2014). Cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống âm mưu chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam của thực dân Pháp giai đoạn 1945-1949.
  33. ^ “Những cuộc trả lời phỏng vấn báo chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh (Phần 1)”. Truy cập 14 tháng 11 năm 2015. 
  34. ^ “Những cuộc trả lời phỏng vấn báo chí của Bác Hồ (Phần 2)”. Truy cập 14 tháng 11 năm 2015. 
  35. ^ Lừa được ai ?, Báo Cứu Quốc, Số 762, 26 Tháng Mười Một 1947
  36. ^ "Chính phủ Cộng hòa dân quốc Nam kỳ tự trị" ?, Báo Sự Thật, Số 40, 15 Tháng Sáu 1946
  37. ^ Cứu quốc 29-5-1946

Tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Nội ngữ
Ngoại ngữ

Tư liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Nội ngữ
Ngoại ngữ
Tiền nhiệm:
Nam Kỳ
Nam Bộ
Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ
1946-1948
Kế nhiệm:
Quốc gia Việt Nam