Bước tới nội dung

Cục Vũ trụ Quốc gia Trung Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cục Vũ trụ Quốc gia Trung Quốc
国家航天局
Tổng quan về cơ quan
Viết tắtCNSA
Thành lập22 tháng 4 năm 1993
LoạiCơ quan vũ trụ
Trụ sởQuận Hải Điến, Bắc Kinh
Trưởng quản lýTrương Khắc Kiến
Sân bay vũ trụ chínhTrung tâm phóng vệ tinh Tửu Tuyền
Trung tâm phóng vệ tinh Thái Nguyên
Trung tâm phóng vệ tinh Tây Xương
Trung tâm phóng vệ tinh Văn Xương
Sở hữu bởi Trung Quốc
Ngân sách hàng năm19,89 tỉ USD (2024)[1]
Websitewww.cnsa.gov.cn
Cục Vũ trụ Quốc gia Trung Quốc
Giản thể国家航天
Phồn thể國家航天

Cục Vũ trụ Quốc gia Trung Quốc (tiếng Trung: 国家航天局; bính âm: Guó Jiā Háng Tiān Jú, tiếng Anh: China National Space Administration, viết tắt: CNSA) là cơ quan vũ trụ quốc gia của Trung Quốc, chịu trách nhiệm về các chương trình vũ trụ dân sự của Trung Quốc và hợp tác vũ trụ quốc tế. Hiện CNSA là một cơ quan quốc gia trực thuộc Bộ Công nghiệp và Công nghệ Thông tin.[2]

Được thành lập vào năm 1993, mặc dù lịch sử tương đối ngắn, CNSA đã tiên phong đạt được một số thành tựu trong lĩnh vực du hành không gian cho Trung Quốc bao gồm việc trở thành cơ quan vũ trụ đầu tiên hạ cánh xuống nửa không nhìn thấy của Mặt Trăng với Thường Nga 4, mang vật chất từ Mặt Trăng trở lại với Thường Nga 56, và là cơ quan thứ hai hạ cánh thành công một xe tự hành lên Sao Hỏa với Thiên vấn 1. Trong khi đó, Thiên vấn 2 đang trên đường khám phá tiểu hành tinh gần Trái Đất 469219 Kamoʻoalewa cùng tiểu hành tinh hoạt động 311P/PanSTARRS và thu thập các mẫu đất đá của Kamo'oalewa.[3]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

CNSA được thành lập vào năm 1993, sau khi Bộ Công nghiệp Hàng không Vũ trụ được tách ra thành hai đơn vị: CNSA và Tập đoàn Khoa học và Công nghệ Hàng không Vũ trụ Trung Quốc (CASC). Trong đó, CNSA đảm nhận vai trò hoạch định chính sách, còn CASC chịu trách nhiệm thực thi. Tuy nhiên, mô hình này bước đầu cho thấy những bất cập nhất định, bởi về bản chất, hai cơ quan này vẫn là một tổ thể thống nhất khi dùng chung nguồn nhân lực và bộ máy quản lý.[4]

Nằm trong kế hoạch tái cơ cấu lớn vào năm 1998, CASC đã được chia tách thành một loạt các công ty quốc doanh có quy mô nhỏ hơn. Mục tiêu của nỗ lực này được xem là nhằm xây dựng một hệ thống tương tự như mô hình mua sắm quốc phòng của phương Tây. Trong đó, các cơ quan chính phủ đóng vai trò thiết lập chính sách vận hành, sau đó sẽ ký kết hợp đồng thực hiện các yêu cầu hoạt động này với các đơn vị do nhà nước sở hữu nhưng không do nhà nước trực tiếp quản lý.[4]

Kể từ khi Tu chính án Wolf được thông qua vào năm 2011, Quốc hội Hoa Kỳ đã buộc NASA phải thực thi chính sách loại trừ kéo dài đối với CNSA, mặc dù rào cản này đôi khi vẫn được tháo gỡ trong một số giai đoạn nhất định.

Vào năm 2021, Trung Quốc đã bắt đầu xây dựng trạm vũ trụ Thiên Cung, bao gồm ba mô-đun chính được thiết kế riêng cho phi hành đoàn, hàng hóa và nghiên cứu. Quá trình xây dựng đã hoàn tất vào cuối năm 2022, và đã có các kế hoạch để bổ sung thêm ba mô-đun nữa trong tương lai. Vào năm 2024, Trung Quốc đã công bố kế hoạch thực hiện khoảng 100 sứ mệnh không gian, đánh dấu một sự gia tăng đáng kể so với con số 70 sứ mệnh của năm 2023. Các hoạt động này chủ yếu tập trung vào việc phóng vệ tinh, thử nghiệm công nghệ, thay thế phi hành đoàn, tiếp tế hàng hóa và nhiều mục tiêu quan trọng khác.

Chức năng

[sửa | sửa mã nguồn]

CNSA được thành lập như một cơ quan trực thuộc Chính phủ nhằm phát triển và thực hiện các nghĩa vụ quốc tế của Trung Quốc, dưới sự phê duyệt của Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc khóa VIII. Đến khóa IX, CNSA đã được chỉ định là một bộ phận cấu trúc nội bộ thuộc Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Công nghiệp phục vụ Quốc phòng (COSTIND). CNSA đảm nhận các trách nhiệm chính sau: thay mặt tổ chức ký kết các hiệp định chính phủ trong lĩnh vực vũ trụ, thực hiện các hoạt động trao đổi khoa học và kỹ thuật liên chính phủ; đồng thời chịu trách nhiệm thực thi các chính sách không gian quốc gia và quản lý nền khoa học, công nghệ và công nghiệp vũ trụ của đất nước.

Cho đến nay, Trung Quốc đã ký kết các hiệp định hợp tác vũ trụ cấp chính phủ với Argentina, Brazil, Chile, Pháp, Đức, Ấn Độ, Ý, Pakistan, Nga, Ukraina, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và một số quốc gia khác. Những thành tựu quan trọng đã được ghi nhận trong các hoạt động trao đổi và hợp tác công nghệ, dù là trên phương diện song phương hay đa phương.

Cục trưởng Cục Vũ trụ Quốc gia được bổ nhiệm bởi Quốc vụ viện.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ "Government expenditure on space programs in 2022 and 2024, by major country". Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2026.
  2. ^ "Military and Security Developments Involving the People's Republic of China 2024" (PDF). U.S. Department of Defense. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2025.
  3. ^ Gibney, Elizabeth (ngày 30 tháng 4 năm 2019). "China plans mission to Earth's pet asteroid". Nature. doi:10.1038/d41586-019-01390-5. PMID 32346150. S2CID 155198626. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2019.
  4. ^ a b "Organization and Function". China National Space Administration. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2008.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]