Cacbon suboxit

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Cacbon suboxit
Mô hình thanh của cacbon suboxit
Mô hình không gian của Cacbon suboxit
Tên
Tên IUPAC
1,2-Propadiene-1,3-dione
Nhận dạng
Số CAS 504-64-3
PubChem 136332
MeSH Carbon+suboxide
ChEBI 30086
Ảnh Jmol-3D ảnh
SMILES
InChI 1S/C3O2/c4-2-1-3-5
Thuộc tính
Bề ngoài Khí ga không màu
Mùi mùi hăng mạnh
Khối lượng riêng

3.0 kg/m3, gas[1]

1.114 g/cm3, liquid[2]
Điểm nóng chảy −111,3 °C (161,8 K; −168,3 °F)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Điểm sôi 6,8 °C (279,9 K; 44,2 °F)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Độ hòa tan trong nước phản ứng
Độ hòa tan tan trong 1,4-dioxane, ether, xylene, CS2, tetrahydrofuran
Chiết suất (nD) 1.4538 (6 °C)
Mômen lưỡng cực 0 D
Trừ khi có ghi chú khác, dữ liệu được cung cấp cho các vật liệu trong trạng thái tiêu chuẩn của chúng (ở 25 °C [77 °F], 100 kPa).
Có  kiểm chứng (cái gì Có KhôngN ?)
Tham khảo hộp thông tin

Cacbon suboxit, còn được gọi dưới cái tên khác là tricacbon dioxit, là một cacbon oxit với công thức hóa học được quy định là C3O2 và công thức phân tử O = C = C = C = O. Bốn liên kết đôi làm cho hợp chất này thuộc nhóm cumulene. Nếu được tinh chế cẩn thận, hợp chất này có thể tồn tại ở nhiệt độ phòng trong bóng tối mà không bị phân huỷ và có khả năng trùng hợp trong điều kiện nhất định.

Hợp chất này được Benjamin Brodie phát hiện ra vào năm 1873 bằng cách cho cacbon monoxit vào dòng điện. Ông tuyên bố rằng sản phẩm này là một phần của một loạt các "oxycacbon" với các công thức Cx+1Ox, cụ thể là C, C2O, C3O2, C4O3, C5O4, ..., và đã xác định hai sản phẩm cuối;[3][4] dù cho chỉ C3O2 là được biết đến.

Năm 1891, Marcellin Berthelot quan sát thấy rằng việc làm nóng cacbon monoxit tinh khiết ở nhiệt độ vào khoảng 550 °C tạo ra một lượng nhỏ cacbon dioxit nhưng không có dấu vết của cacbon và giả định rằng một oxit giàu cacbon đã được tạo ra, thay vào đó ông gọi nó với cái tên "suboxit". Ông cho rằng đó là sản phẩm tương tự thu được bằng cách cho dòng điện đi qua và đề xuất công thức C2O.[5] Otto Diels sau đó đã nói rằng các tên hữu cơ dicarbonylmethane và dioxallen cũng chính xác.

Hợp chất này thường được mô tả như một chất lỏng dầu hoặc khí ở nhiệt độ phòng với mùi độc hại.[6]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ WebElements
  2. ^ CRC HANDBOOK of CHEMISTRY and PHYSICS, 64th edition, (c) 1983, page B-82
  3. ^ Brodie, B. C. (1873). “Note on the Synthesis of Marsh-Gas and Formic Acid, and on the Electric Decomposition of Carbonic Oxide” (pdf). Proceedings of the Royal Society 21 (139–147): 245–247. JSTOR 113037. doi:10.1098/rspl.1872.0052. 
  4. ^ Brodie, B. C. (1873). “Ueber eine Synthese von Sumpfgas und Ameisensäure und die electrische Zersetzung des Kohlenoxyds”. Annalen der Chemie 169 (1–2): 270–271. doi:10.1002/jlac.18731690119.  [1]
  5. ^ Berthelot, M. (1891). “Action de la chaleur sur l'oxyde de carbone”. Annales de Chimie et de Physique 6 (24): 126–132. 
  6. ^ Reyerson, L. H.; Kobe, K. (1930). “Carbon Suboxide”. Chemical Reviews 7 (4): 479–492. doi:10.1021/cr60028a002.