Cao Hảo Hớn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
CAO HẢO HỚN
Tiểu sử
Sinh Tháng 10 năm 1926
Gia Định, Việt Nam
Mất 25 tháng 2, 2010 (84 tuổi]]
Michigan, Hoa Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1946-1975
Cấp bậc US-O9 insignia.svg Trung tướng
Đơn vị Sư đoàn 21 Bộ binh
ARVN 5th Division SSI.svg Sư đoàn 5 Bộ binh
Cư an tư nguy.svg Võ khoa Thủ Đức
QD II VNCH.jpgBiệt khu 24 Kontum
Cờ Bảo quốc an dân.png Đ.P.Quân và N.Quân
ARVN Joint General Staff Insignia.svg Bộ Tổng Tham mưu
Chỉ huy Flag of France.svg QĐ Liên hiệp Pháp
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Công việc khác -Phụ tá Phủ tướng
-Phụ tá Quốc phòng

Cao Hảo Hớn (1926-2010) nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân từ khoá đầu tiên tại trường Võ bị Liên quân Viễn Đông của Quân đội Thuộc địa Pháp mở ra ở Cao nguyên Trung phần Việt Nam, nhằm đào tạo sĩ quan người bản xứ để phục vụ cho Quân đội Liên hiệp pháp sau này. Thời gian tại ngũ ông đã đảm nhiệm chức vụ theo hệ thống chỉ huy từ cấp Trung đội, tuần tự lên đến Chỉ huy cấp Sư đoàn Bộ binh. Sau ông được chuyển sang lĩnh vực Tham mưu. Ở lĩnh vực nào, ông cũng làm tròn trách nhiệm của mình cho đến ngày Việt Nam Cộng hòa sụp đổ.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh vào tháng 10 năm 1926 tại Gia Định, Nam phần Việt Nam trong một gia đình quan lại khá giả. Ông là người con thứ 6 trong gia đình có 13 anh chị em. Thiếu thời, ông học ở trường Trung học Petrus Ký, Sài Gòn. Năm 1945 ông tốt nghiệp Trung học Đệ nhất cấp chương trình Pháp với văn bằng Thành Chung.

Quân đội Thuộc địa[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa năm 1946, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Pháp tại Đông Dương, mang số quân: 46/103.073. Được tuyển chọn theo học khóa đầu tiên mang tên Nguyễn Văn Thinh ở trường Võ Bị Liên quân Viễn Đông Đà Lạt, khai giảng ngày 15 tháng 7 năm 1946. Ngày 2 tháng 7 năm 1947 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn úy.[1] Ra trường được điều động về Tiểu đoàn Bộ binh giữ chức vụ Trung đội trưởng. Ngày 2 tháng 7 năm 1948, ông được thăng cấp Thiếu úy tại nhiệm. Đầu năm 1949, ông được đặc cách thăng cấp Trung úy.

Quân đội Liên hiệp Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa năm 1949, chuyển sang biên chế của Quân đội Liên hiệp, ông được thăng cấp Đại úy giữ chức vụ Đại đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 1 Việt Nam.[2] Năm 1950, ông được cử đi du học khóa căn bản Bộ binh tại trường Coedquidan, Pháp. Đầu năm 1951, mãn khóa học về nước, ông được cử giữ chức Chỉ huy trưởng trường Quân sự Trung Chánh tại Gia Định.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1952, sau khi Quân đội Quốc gia thành lập Bộ Tổng Tham mưu,[3] ông chính thức chuyển sang phục vụ cơ cấu mới, được cử giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 21 Bộ binh đồn trú tại Vĩnh Long. Giữa năm 1953, ông được thăng cấp Thiếu tá tại nhiệm. Sau Hiệp định Genève ký kết ngày 20 tháng 7 năm 1954, ông được thăng cấp Trung tá và được cử làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 168 đồn trú tại Bến Cát, Bình Dương.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1955, chuyển sang Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được cử làm Tiểu khu trưởng tỉnh Đồng Nai Thượng, Đà Lạt kiêm Tư lệnh phó Sư đoàn 15 Khinh chiến.[4] Đến giữa năm 1958, ông được đi du học lớp Chỉ huy Tham mưu cao cấp tại Học viện Fort Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ. Đầu năm 1959 mãn khóa học về nước, ông được chuyển đến Bộ Tổng tham mưu giữ chức vụ Trưởng phòng 3 đặc trách hành quân.

Đầu năm 1963, ông được chỉ định làm Tư lệnh phó Sư đoàn 21 Bộ binh do Đại tá Bùi Hữu Nhơn làm Tư lệnh. Sau cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm ngày 1 tháng 11 năm 1963. Ngày 2 tháng 11 cùng năm ông được Hội đồng Quân Nhân Cách mạng thăng cấp Đại tá, và bổ nhiệm ông làm Tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh thay thế Đại tá Bùi Hữu Nhơn.

Ngày tháng 29 tháng 5 năm 1964, ông được thăng cấp Chuẩn tướng[5] tại nhiệm. Một tháng sau, ông nhận lệnh bàn giao Sư đoàn 21 lại cho Đại tá Đặng Văn Quang để chuyển về Quân khu 3 làm Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh thay thế Đại tá Đặng Thanh Liêm. Tháng 10 cùng năm, bàn giao Sư đoàn 5 lại cho Đại tá Trần Thanh Phong. Sau đó, ông được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng trường Bộ binh Thủ Đức.

Trung tuần tháng 2 năm 1965, bàn giao chức Chỉ huy trưởng trường Bộ binh cho Đại tá Trần Văn Trung (nguyên Trưởng phòng Tổng quản trị Bộ Tổng tham mưu), để đi giữ chức vụ Tư lệnh Biệt khu 24 Chiến thuật ở Kontum. Đến đầu năm 1968, ông được chuyển về Trung ương giữ chức vụ Tư lệnh phó Địa phương quân & Nghĩa quân kiêm Giám đốc Trung tâm hành quân Bộ Tổng tham mưu. Trong chức vụ Giám đốc Trung tâm Hành quân, đầu tháng 2 năm 1968 ông được cử làm Tham mưu phó chiến dịch Trần hưng Đạo, chiến dịch phản công cuộc tổng tấn công đợt 1 vào khu vực Tân Sơn Nhất của Quân Bắc Việt và Quân Giải phóng miền Nam (trận Tổng công kích Mậu Thân). Ngày Quân lực 19 tháng 6 cùng năm ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm.

Đầu năm 1970, ông được chuyển nhiệm vụ sang Phủ Thủ tướng giữ chức vụ Phụ tá Đặc biệt kiêm Trung tâm trưởng Trung tâm Điều hợp Tái thiết và Phát triển Trung ương. Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1971, ông được thăng cấp Trung tướng tại nhiệm. Tháng 2 năm 1974, ông được cử giữ chức Phụ tá Tổng trưởng Quốc phòng (trong nội các Thủ tướng Trần Thiện Khiêm) thay thế ông Châu Kim Nhân được cử làm Tổng trưởng Bộ Tài chính.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30 tháng 4, ông cùng gia đình di tản khỏi Việt Nam. Sau đó sang định cư tại Grand Rapids, Michigan, Hoa Kỳ.

Ngày 25 tháng 2 năm 2010, ông từ trần tại nơi định cư. Hưởng thọ 84 tuổi.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Cụ Cao Văn Sử (nguyên là Đốc Phủ Sứ, được giữ nhiều chức vụ hành chính quan trọng vào cuối triều nhà Nguyễn trước năm 1945)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trong số 16 khóa sinh tốt nghiệp khóa Nguyễn Văn Thinh, chỉ có ba người ra trường với cấp bậc Thiếu úy, số còn lại là Chuẩn úy. Tuy nhiên, sau này đều là sĩ quan cao cấp trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa, ngoài tướng Cao Hảo Hớn còn có:
    -Cấp Đại tướng:
    -Nguyễn Khánh (Tốt nghiệp Thiếu úy. SN 1927, sau cùng: Quốc trưởng kiêm Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa)
    -Trần Thiện Khiêm (SN 1925, sau cùng: Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng Việt Nam Cộng hòa)
    -Cấp Trung tướng:
    -Dương Văn Đức (SN 1925, sau cùng: Tư lệnh Quân đoàn IV và Quân khu 4)
    -Trần Ngọc Tám (Tốt nghiệp Thiếu úy. SN 1925, sau cùng: Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Thái Lan)
    -Lâm Văn Phát (Tốt nghiệp Thiếu úy, SN 1920, sau cùng: Tư lệnh Biệt khu Thủ đô)
    -Cấp Thiếu tướng:
    -Nguyễn Văn Kiểm (SN 1924, sau cùng: Tham mưu trưởng Tham mưu Biệt bộ Phủ Tổng thống)
    -Đặng Thanh Liêm (SN 1925, sau cùng: Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh)
    -Bùi Hữu Nhơn (SN 1928, sau cùng: Chủ tịch Ủy ban Điều hành Quốc tế Quân viện)
    -Cấp Đại tá:
    -Nguyễn Thế Như (SN 1920, sau cùng: Chỉ huy trưởng trường Hạ sĩ quan Đồng Đế, Nha Trang)
    -Quách Xến (SN 1921, sau cùng: Đổng lý Văn phòng Bộ Quốc phòng)
  2. ^ Tiểu đoàn đầu tiên của Quân đội Quốc gia Việt Nam, thành phần trong Quân đội Liên hiệp Pháp.
  3. ^ Mặc dù Quân đội Quốc gia Việt Nam đã được thành lập từ trước đó 2 năm (1950), nhưng vẫn phụ thuộc vào cơ chế Quân đội Liên hiệp Pháp. Đến khi thành lập Bộ Tổng Tham mưu mới tách khỏi Quân đội Liên hiệp để tự Quản trị và Điều hành.
  4. ^ Sư đoàn 15 Khinh chiến được thành lập vào ngày 1 tháng 8 năm 1955 với danh xưng ban đầu là Sư đoàn Khinh chiến số 5, sau ba tháng cải danh thành Sư đoàn 15. Đầu tháng 4 năm 1959, làm nòng cốt thâu nhận thêm Sư đoàn 16 Khinh chiến (đã giải tán) để thành lập Sư đoàn 23 Bộ binh và giữ phiên hiệu này cho đến trung tuần tháng 3 năm 1975 thì bị tan hàng tại Mặt trận Ban Mê Thuột.
  5. ^ Cấp bậc Chuẩn tướng là cấp ở giữa cấp Đại tá và cấp Thiếu tướng, mới được tướng Nguyễn Khánh đặt ra sau Cuộc Chỉnh lý ngày 30 tháng 1 năm 1964 cũng do chính ông cầm đầu. Sau khi lãnh đạo Hội đồng Quân nhân Cách mạng, từ tháng tư đến tháng tám trong năm 1964 tướng Khánh đã thăng cấp cho 15 Đại tá lên Chuẩn tướng và Phó Đề đốc chia ra thành 3 giai đoạn và chỉ hơn 2 tháng sau đó ngày 21 tháng 10 năm 1964, sáu vị trong số này được thăng cấp Thiếu tướng (đánh dấu *):
    -Chuẩn tướng Giai đoạn 1 (8/4/1964):
    -Nguyễn Cao Kỳ* (SN 1930, Tốt nghiệp trường Võ khoa Nam Định K1, sau cùng: Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa)
    -Chung Tấn Cang* (SN 1926, Sĩ quan Hải quân Nha Trang K1, sau cùng: Tư lệnh Quân chủng Hải quân)
    -Giai đoạn 2 (29/5/1964):
    -Cao Hảo Hớn
    -Nguyễn Chánh Thi* (SN 1923, Võ bị Địa phương Nam Việt Vũng Tàu, sau cùng: Tư lệnh Quân đoàn I và Quân khu 1)
    -Phạm Văn Đỗng* (SN 1919, Võ bị Móng Cái, sau cùng: Tổng trưởng Bộ Cựu Chiến binh)
    -Bùi Hữu Nhơn* (SN 1928, Võ bị Liên Quân Viễn Đông Đà Lạt, sau cùng: Chủ tịch Ủy ban Điều hành Quốc tế Quân viện)
    -Ngô Dzu (SN 1926, Võ bị Quốc gia Huế K2, sau cùng: Trưởng đoàn Quân sự VNCH trong Ban Liên hợp 4 bên)
    -Giai đoạn 3 (11/8/1964):
    -Nguyễn Văn Kiểm (chú thích ở phần trên)
    -Lê Nguyên Khang* (SN 1931, Võ khoa Nam Định K1, sau cùng: Phụ tá Hành quân Tổng Tham mưu trưởng)
    -Nguyễn Đức Thắng (SN 1930, Võ khoa Nam Định K1, sau cùng: Phụ tá Kế hoạch Tổng Tham mưu trưởng)
    -Nguyễn Xuân Trang (SN 1924, Sĩ quan Nước Ngọt Vũng Tàu, sau cùng: Tham mưu phó Bộ Tổng Tham mưu)
    -Nguyễn Cao (SN 1925, Võ bị Đà Lạt K4, sau cùng: Chánh Văn phòng kiêm Bí thư cho Thủ tướng Nguyễn Khánh)
    -Đặng Văn Quang (SN 1929, Võ bị Quốc gia Huế K1, sau cùng: Cố vấn Tổng thống, đặc trách An ninh Quốc gia)
    -Vĩnh Lộc (SN 1923, Võ bị Lục quân Pháp, sau cùng: Tổng Tham mưu trưởng)
    -Hoàng Xuân Lãm (SN 1928, Võ bị Đà Lạt K3, sau cùng: Phụ tá Tổng trưởng Quốc phòng)
    -Riêng tướng Khang là trường hợp duy nhất trong lịch sử Quân lực VNCH, từ Đại tá lên Thiếu tướng trong vòng chưa đến 3 tháng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.