Cao Ly Huệ Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cao Ly Thuần Tông
고려 혜종
Vua Cao Ly
Trị vì 4 tháng 7 năm 943 - 23 tháng 11 năm 945
Đăng quang 15 tháng 6 năm 918
Tiền nhiệm Cao Ly Thái Tổ
Kế nhiệm Cao Ly Định Tông
Thông tin chung
Thụy hiệu 인덕명효선현고평경헌의공대왕
Thân phụ Cao Ly Thái Tổ
Thân mẫu Trang Hòa Vương hậu Lâm thị
Sinh 31 tháng 1, 912(912-01-31)
La Châu, Thái Phong
Mất 23 tháng 10, 945 (33 tuổi)
Khai Thành, Cao Ly
An táng Lăng tẩm hoàng gia Sunreung
Cao Ly Huệ Tông
Hangul 혜종
Hanja 恵宗
Romaja quốc ngữ Vua Huệ Tông
McCune–Reischauer Hyejong
Tên khai sinh
Hangul 왕무
Hanja 王武
Romaja quốc ngữ Wang Mu
McCune–Reischauer Wang Mu
Hán-Việt Vương Võ
Hangugeo-Chosonmal.png
Bài viết này có chứa các ký tự tiếng Hàn. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các ký tự Chosŏn'gŭl hay Hanja.

Thuần Tông nhà Cao Ly (912-945), trị vì từ năm 943-945. Ông là vị quốc vương thứ hai của triều đại Cao Ly. Ông là người kế vị cũng như là con trai cả của vua Cao Ly Thái Tổ (Vương Kiến). Tên của ông là Vương Võ, tên chữ là Thừa Càn (承乹).

Thiếu thời[sửa | sửa mã nguồn]

Huệ Tông là con trai trưởng vua Thái Tổ, mẹ của ông là phi tần của Thái Tổ (vợ thứ hai sau Vương Phi), đó chính là Trang Hòa Vương hậu họ Ngô. Ông cưới vợ khi còn phục vụ Na-Ju - 1 viên tướng của Hậu Cao Câu Ly đã làm tướng dưới quyền cho Cung Duệ. Huệ Tông là người nhu nhược, không có sự quyết đoán về chính trị, họ mẹ của ông cũng chỉ là một gia tộc nhỏ không có sức mạnh quyền lực chính trị lớn lao. Vào năm 921, Huệ Tông được vua cha Thái Tổ phong làm Thế tử, được Bốc Trí Khiêm hỗ trợ. Sau khi làm Thế tử, ông cùng với vua cha mình đi chinh phạt nước Hậu Bách Tế, có đóng góp nhiều đến sự chiến thắng để tiêu diệt Bách Tế. Đến năm 943, Huệ Tông lên ngai vàng sau khi Thái Tổ băng hà.

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ mà Huệ Tông cai trị là thời mà hoàng tộc trong cung đình Cao Ly tranh giành quyền lực, các hoàng tử khác âm mưu nhau định chiếm lấy ngai vàng. Điển hình là vương tử Vương Nghiêu (tức Cao Ly Định Tông sau này). Bọn họ có được phe cánh của Thần Minh Thuận Thánh Vương hậu và thế lực ở thành Trung Châu, chực lúc nào đó sẽ cướp lấy ngôi vua. Vương Khải biết được âm mưu đen tối đó, đã tâu lên vua Huệ Tông. Huệ Tông biết nhưng không làm gì được. Vì 2 hoàng tử còn bọn phe cánh của họ nắm hết chức vụ chủ chốt trong triều, có ảnh hưởng chính trị rất lớn. Như vậy, cái họa trong gia đình hoàng tộc đời vua Huệ Tông ngày càng lớn, uy hiếp đến ngôi vị và tính mệnh của ông, mà bản thân ông lại quá nhu nhược.

Cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Do căng thẳng và lo sợ, Huệ Tông lâm bệnh nặng, rồi băng hà vào năm 945. Nhưng các sử gia còn đang tranh cãi về cái chết của vị vua này. Họ nêu 2 thuyết: 1) Huệ Tông bị bệnh nặng mà chết; 2) Huệ Tông bị Vương Nghiêu và Vương Chiêu đầu độc chết. Việc đó vẫn còn là 1 bí ẩn.

Sau khi Huệ Tông mất, em ông là Vương Nghiêu kế vị, tức là vua Định Tông. Vua Huệ Tông được an táng ở Thuận Lăng.

Thụy hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi mất, ông được truy thụy là: Nhân Đức Minh Hiếu Tuyên Hiển Cao Bình Cảnh Hiến Nghĩa Cung Đại Vương (仁德明孝宣顯高平景憲義恭大王).

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]