Cao Ly Tĩnh Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cao Ly Tĩnh Tông
고려 정종
Vua Cao Ly
Tại vị 1034 – 1046
Tiền nhiệm Cao Ly Đức Tông
Kế nhiệm Cao Ly Văn Tông
Thông tin chung
Hậu phi xem văn bản
Thụy hiệu Hoằng Hiếu An Nghị Văn Kính Dung Huệ Đại vương
(弘孝安毅文敬容惠大王)
Thân phụ Cao Ly Hiển Tông
Thân mẫu Nguyên Thành Vương hậu
Sinh 31 tháng 8 năm 1018
Mất 24 tháng 6 năm 1046
(28 tuổi)
An táng Châu lăng
Tôn giáo Phật giáo
Cao Ly Tĩnh Tông
Hangul 정종
Hanja 靖宗
Romaja quốc ngữ Jeongjong
McCune–Reischauer Chŏngjong
Hán-Việt Tĩnh Tông

Cao Ly Tĩnh Tông (Hangeul: 고려 정종, Hán tự: 高麗 靖宗; 31 tháng 8 năm 1018 – 24 tháng 6 năm 1046, trị vì 1034 – 1046) là vua thứ 10 của vương triều Cao Ly. Ông là con trai thứ hai của Cao Ly Hiển Tông, và là vương đệ của Cao Ly Đức Tông. Năm lên 4 tuổi, tức 1022, ông được phong làm "Nội sử lệnh" (Naesaryeong), một vị trí cấp cao, rồi "Diên Khánh viện" (延慶院) và trở thành "Bình Nhưỡng quân" (平壤君). Ông có tên húy là Vương Hanh (王亨, 왕형, Wang Hyeong), tên chữ là Thân Chiếu (申照, 신조, Sinjo). Do vương huynh không có con trai nối dõi nên ông đã kế vị.

Tĩnh Tông đã rất quan tâm đến việc binh, và đã bắt đầu cho xây các thành phòng thủ dọc theo biên giới phía bắc ngay trong năm đầu tiên trị vì. Năm 1037, Cao Ly bị quân Khiết Đan ở phía bắc xâm lược. Năm 1044, Thiên Lý Trường Thành (Cheolli Jangseong) được hoàn thành và chắn ngang biên giới miền bắc của đất nước. Tĩnh Tông cũng quan tâm đến việc hỗ trợ vật chất cho quân lính, cấp đất công cho binh lính nghèo khổ năm 1036.

Trước khi ông qua đời vào năm 1046, Tĩnh Tông đã cho ban hành Chế độ con trưởng kế vị (trưởng tử tương tục pháp). Thụy hiệu Hoằng Hiếu An Nghị Văn Kính Dung Huệ Đại vương (弘孝安毅文敬容惠大王), táng tại Châu lăng (周陵). Em ông kế vị, tức Cao Ly Văn Tông.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu phi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dung Tín Vương hậu Hàn thị (용신왕후 한씨; ? – 1036), con gái của quan Thị trung Hàn Tộ (韓祚). Hàn thị lấy Tĩnh Tông khi còn là Bình Nhưỡng quân, được phong Diên Hưng Cung chủ (延興宮主). Khi Tĩnh Tông lên ngôi thì bà được nâng lên Định Tín Vương phi (定信王妃). 1 năm sau qua đời, truy phong Vương hậu, thụy hiệu Định Ý Minh Đạt Hy Mục Dung Tín Vương hậu (定懿明達禧穆容信王后).
  • Dung Ý Vương hậu (용의왕후), chị em với Dung Tín, nguyên phong Xương Thành Cung chủ (昌盛宮主), Huyền Đức Cung chủ (玄德宮主). Năm 1040, sắc phong Vương hậu.
  • Dung Mục Vương hậu Lý thị (용목왕후 이씨), con gái của Công bộ thị lang Lý Bằng Yên (李禀焉), có một người chị em là thứ thiếp của Cao Ly Đức Tông. Sắc phong Cung chủ, qua đời truy phong Vương hậu.
  • Dung Tiết Đức phi Kim thị (용절덕비 김씨; ? – 1102), con gái của Kim Nguyên Trùng (金元冲) nguyên là Diên Hưng Cung chủ (延興宮主). Qua đời truy phong Đức phi.
  • Diên Xương Cung chủ Lư thị (연창궁주 노씨; ? – 1048).

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Vương tử Vương Huýnh (왕형; 1035 – ?), chết yểu, mẹ là Dung Tín Vương hậu[1].
  2. Ai Thương quân Vương Phưởng (애상군 왕방), mẹ là Dung Ý Vương hậu. Văn Tông sắc phong[2].
  3. Lạc Lãng hầu Vương Kính (낙랑후 왕경), mẹ là Dung Ý Vương hậu. Văn Tông sắc phong[2].
  4. Khai Thành hầu Vương Khải (개성후 왕개, ? – 1062), thụy là Thận Thương (慎殤). Văn Tông sắc phong[2].
  5. Điệu Ai Công chúa (도애공주; ? – 1057), mẹ là Dung Mục Vương hậu. Văn Tông truy phong Điệu Ai[3].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cao Ly sử - Quyển 88, Liệt truyện 1, Hậu phi
  2. ^ a ă â Cao Ly sử - Quyển 90, Liệt truyện 3
  3. ^ Cao Ly sử - Quyển 91, Liệt truyện 4