Cao Trường Cung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Tượng Lan Lăng vương ở Đền Itsukushima.

Cao Trường Cung (chữ Hán: 高長恭, 541 - 573), nguyên tên Túc (肅), lại có tên là Cao Hiếu Quán (高孝瓘), biểu tự Trường Cung, là một tướng lĩnh, hoàng thân nhà Bắc Tề, mỹ nam nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc.

Dân gian thường gọi ông với vương hiệu là Lan Lăng vương (蘭陵王) [1].

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Cao Trường Cung người quận Bột Hải (nay là huyện Cảnh, Hành Thủy, tỉnh Hà Bắc), ông nội Cao Hoan và cha Cao Trừng nối nhau là quyền thần nhà Đông Ngụy. Cao Trường Cung là con trai thứ tư[2] của Cao Trừng. Trong các anh em, chỉ có mẹ của ông là không rõ họ tên[3].

Em trai thứ năm của ông là Cao Diên Tông từng xưng đế vào cuối năm 576.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Cao Trường Cung từng đảm nhiệm chức Tịnh Châu Thứ sử. Vào lúc quân Đột Quyết xâm phạm Tấn Dương, ông tận lực đẩy lui được.

Năm Hà Thanh thứ 3 (564), Bắc Chu quyền thần Vũ Văn Hộ vừa đón mẹ trở về từ Bắc Tề, lại bội ước liên minh với Đột Quyết, cất 20 vạn quân tấn công 1 dải Lạc Dương, vây khốn Lạc Dương. Tháng 12, triều đình Bắc Tề lấy Đoàn Thiều, Hộc Luật Quang, Cao Trường Cung đưa quân đi trước cứu viện. Đoạn Thiều khéo bày mưu, đưa quân Tề bất ngờ đón đánh quân Chu ở hang Thái Hòa. Đoạn Thiều nắm tả quân, Hộc Luật Quang nắm hữu quân, Cao Trường Cung nắm trung quân, đánh cho quân Chu đại bại.

Khi ấy thành Lạc Dương bị vây rất gấp, Cao Trường Cung mặc giáp trụ, cầm binh khí, soái lĩnh 500 tinh kỵ xông vào vòng vây, đến dưới thành Kim Dong [4] (1 tòa công sự, dùng để đóng quân, ở phụ cận Lạc Dương). Người Tề trên thành không nhận ra, ông phải cởi mũ cho họ trông thấy. Quân giữ thành một mặt mở cửa, một mặt bắn tên yểm hộ cho ông vào thành. Sĩ khí của quân Tề lên cao, đánh lui quân địch, tướng Chu Uất Trì Huýnh nản lòng, giải vây cho Lạc Dương. Không lâu sau, tướng Chu là Vương Hùng tử thương, bọn Vũ Văn Hiến, Đạt Hề Vũ… đành phải bỏ lại doanh trại mà triệt thoái.

Binh sĩ Bắc Tề làm ra bài ca để tán tụng chiến công của Cao Trường Cung, chính là "Lan Lăng vương nhập trận khúc" nổi tiếng. Cao Trường Cung nhờ công được phong Thượng thư lệnh.

Sau đó, ông lần lượt đảm nhiệm chức Mục của các châu Ti, Thanh, Doanh. Tháng 7 năm Vũ Bình đầu tiên (570), ông được nhậm mệnh làm Lục thượng thư sự. Tháng 2 năm thứ 2 (571), được làm Thái úy.

Tháng 3, Cao Trường Cung cùng Thái tể Đoạn Thiều, Hữu thừa tướng Hộc Luật Quang liên hiệp tiến đánh Khiêu Cốc [5], giao chiến với tướng Chu là Vũ Văn Hiến.

Tháng 5, Đoạn Thiều vây đánh Định Dương, Phần Châu thứ sử Dương Phu nhà Bắc Chu cố thủ thành trì, Đoạn Thiều mãi không hạ được. Sau khi Đoạn Thiều ngã bệnh [6], Cao Trường Cung thay thế ông ta thống lĩnh toàn quân. Ông đặt phục binh, nhân lúc Dương Phu rút lui vào thành mà đánh bại quân Chu [7].

Tháng 8 năm Vũ Bình thứ 3 (572), ông được nhậm mệnh làm Đại tư mã. Tháng 4 năm thứ 4 (573), được làm Thái Bảo. Cao Trường Cung nhờ công, trước sau được phong Quận công của các quận Cự Lộc, Trường Lạc, Lạc Bình, Cao Dương.

Cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi nghe "Lan Lăng vương nhập trận khúc", Bắc Tề Hậu Chủ Cao Vĩ từng hỏi Cao Trường Cung rằng: "Vào trận quá sâu, chẳng may thất lợi, hối hận sao kịp?" Ông đáp: "Việc nhà cần kíp, nào dám chẳng lo." Cao Vĩ nghe 2 chữ việc nhà, đâm ra nghi kỵ ông.

Khi nhậm chức ở Ti Thanh Doanh, Cao Trường Cung thường hay nhận của hối lộ, thu vén tài vật. Trong trận Định Dương, thuộc hạ Úy Tương Nguyện hỏi: "Vương nhận sự ủy thác của nước nhà, sao lại có lòng tham như vậy?". Cao Trường Cung không đáp, Tương Nguyện lại hỏi: "Có phải vì đại thắng Mang Sơn, vương sợ công cao át chủ, chịu sự đố kỵ, muốn tự bôi xấu mình chăng?". Cao Trường Cung đáp phải, Tương Nguyện nói: "Triều đình nếu nghi kỵ vương, mượn việc này làm tội, há chẳng phải cầu phúc mà ngược lại còn gặp họa ư?".

Ông rơi nước mắt, quỳ xuống hỏi kế an thân. Tương Nguyện nói: "Vương trước đã có công cao, nay lại quay về báo tiệp, tiếng tăm quá lớn, nên xưng bệnh ở nhà, tránh dự vào chính sự nữa.". Cao Trường Cung muốn theo lời ông ta, nhưng chưa tìm được dịp.

Khi giặc cướp quấy nhiễu Giang, Hoài, Cao Trường Cung sợ lại được làm tướng, than rằng: "Năm trước mặt ta bị thũng, nay sao không tái phát!?", từ ấy xưng mình có bệnh không chữa được.

Tháng 5 năm Vũ Bình thứ 4 (573), Hậu Chủ sai Từ Chi Phạm đưa rượu độc đến cho ông. Cao Trường Cung nói với ái phi Trịnh thị rằng: "Ta một lòng trung thành với triều đình, có tội gì mà hôm nay phải nhận rượu độc như thế này?". Trịnh thị hỏi: "Sao không xin gặp thiên tử?". Ông nói: "Mặt rồng còn có thể gặp hay sao?".

Rồi uống rượu độc mà hoăng [8], an táng ở phía tây Nghiệp Thành [9], được truy tặng Thái úy. Sau khi ông mất, Trịnh thị cũng quy y cửa Phật.

Tính cách[sửa | sửa mã nguồn]

Cao Trường Cung tính tình ngoài mềm trong cứng, đức mạo song toàn [10][11].

Khi cầm quân, ông hết lòng chăm lo tướng sĩ, mỗi khi có được thứ gì, dù chỉ là vài quả dưa, cũng chia cho mọi người [11].

Ban đầu, Cao Trường Cung ở Doanh Châu, bị Hành tham quân Dương Sĩ Thâm phơi bày chứng cứ nhận hối lộ, nên bị miễn quan. Trong trận Định Dương, Dương Sĩ Thâm đang ở trong quân, sợ gặp vạ. Cao Trường Cung biết được thì nói: "Ta vốn không có ý đó." Bèn tìm 1 lỗi nhỏ, phạt ông ta 20 trượng, để ông ta yên lòng [11].

Có 1 lần, Cao Trường Cung vào triều, những người theo hầu bỏ đi hết cả, ông phải một mình trở về, những cũng không trách phạt gì [11].

Vũ Thành đế Cao Trạm muốn thưởng công, ban cho ông 20 mỹ thiếp, nhưng ông chỉ nhận 1 người [11].

Cao Trường Cung cho vay lên đến ngàn vàng. Vào ngày mất, ông đem tất cả giấy nợ ra đốt sạch [11].

Lan Lăng vương nhập trận khúc[sửa | sửa mã nguồn]

Ban đầu "Lan Lăng vương nhập trận khúc" là một bài hát được tướng sĩ Bắc Tề đặt ra trên chiến trường, nhằm ca ngợi phong thái của Lan Lăng vương Cao Trường Cung, về sau chuyển thành bài độc vũ dành cho nam. Vì tương truyền Cao Trường Cung khi ra trận thường đeo 1 chiếc mặt nạ thật dữ tợn, nên vũ công cũng đeo mặt nạ để biểu diễn. Bài múa nhân đó còn có tên "Đại diện" (chữ Hán: 大面).[12].

Vũ khúc đưa lưu truyền trong dân gian rất nhanh chóng. Thời Tùy được đưa vào cung đình, thời Đường Huyền Tông Lý Long Cơ chê rằng đây thứ âm nhạc không chính thống [13], nên cấm diễn. Về sau, dần chuyển sang "nhuyễn vũ". Thời Tống kết hợp với giai điệu của Nhạc phủ, gọi là "Lan Lăng vương mạn". Đến nay, ở Trung Quốc không còn giữ được "Lan Lăng vương nhập trận khúc" hay "Đại Diện" như ban đầu nữa. May mắn thay, "Lan Lăng vương nhập trận khúc" truyền đến Nhật Bản vào thời Đường, trở thành 1 phần trong nhã nhạc Nhật Bản, thường gọi tắt là Lăng vương, đến này vẫn còn giữ nguyên giá trị.

Năm 1986, nhân viên bảo hộ văn vật huyện Từ, thành phố Hàm Đan thông qua chuyên gia Nhật Bản tìm cách phục hồi vũ khúc này. Ngày 6/9/1992, thành phố Hàm Đan mời đoàn nhã nhạc Nhật Bản sang biểu diễn "Lan Lăng vương nhập trận khúc" trước mộ Cao Trường Cung.

Bia của Lan Lăng vương[sửa | sửa mã nguồn]

Mộ của Lan Lăng vương cách huyện Từ, Hàm Đan về phía nam 5 km. Ngôi mộ to lớn, trồng hoa làm tường, bên cạnh có đình đặt bia. Năm 1920, trong lúc sửa đường, thôn dân đào được "Lan Lăng vương Cao Túc bi". Trên bia có 16 chữ đại triện: "Tề cố giả hoàng việt hữu sư hữu úy công Lan Lăng Trung Vũ vương bi". Văn bia kể lại toàn bộ cuộc đời và trải nghiệm của Lan Lăng vương Cao Túc.

Năm 1988, bia được công nhận là văn vật được bảo hộ trọng điểm cấp quốc gia.

Lan Lăng vương trong nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Hí kịch[sửa | sửa mã nguồn]

Trong các năm 1992, 1993, đạo diễn Hồ Tuyết Hoa dàn dựng vở hí hịch "Lan Lăng vương" ở Mỹ, vay mượn ý tưởng từ huyền sử về Lan Lăng vương Cao Trường Cung. Nội dung của vở kịch kể về chàng trai tên là Lan Lăng, tính tình hiền lành, sau khi mang chiếc mặt nạ dữ tợn thì trở thành dũng sĩ, chiến đấu bảo vệ bộ tộc. Nhưng vì chiếc mặt nạ này, chàng cũng dần mất đi nhân tính.

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1995, đạo diễn Hồ Tuyết Hoa dàn dựng phim điện ảnh "Lan Lăng vương" dựa trên nội dung của vở kịch nói trên, với sự tham gia của các diễn viên Lorenzo Callender, Ninh Tĩnh, Dương Lệ Bình, Vương Học Kỳ,..

Tiểu thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Lan Lăng Liễu Loạn; Phượng Vũ Lan Lăng; Độc Bộ Lan Lăng; Lan Lăng Di Mộng; Lan Lăng Vương Phi; Phượng Vũ Khuynh Quốc; Dị Thế Chi Lan Lăng Vương; Loạn Thế Lan Lăng; Thiên Diện Lan Lăng Vương; Mê Mộng Lan Lăng; Hồng Nhan. Tình Thương; Lan Lăng Cuồng Sư; Lan Lăng Cựu Sự; Phách Ái Độc Sủng: Lan Lăng Vương Phi; Ảnh Lạc Lan Lăng; Triêu Thiên Khuyết; Lan Lăng Vương: Khuynh Thành; Lan Lăng Vương; Lan Lăng Vương Truyện; Hồn Đoạn Lan Lăng; Lan Lăng Vương Đích Thị Nữ; Lan Lăng Vương: Kiếm Thiên; Tái Tạo Nam Bắc Triêu; Thanh Thu Nam Bắc; Ngọc Long Sơn Trang; Hoang Đường Thiên Tử; Nhân Nguyệt Viên; Tình Đoạn Lan Lăng; Nhất Khúc Bắc Âm Mộng Lan Lăng; Lan Lăng; Giang Sơn; Phượng Vũ Lan Lăng; Bắc Triêu Yên Vân; Lan Lăng Mộng Toái; Lan Lăng Hoàng Phi; Nhất Mộng Thiên Niên Chi Lan Lăng Vương; Quỷ Diện Lan Lăng; Tranh Phách Lan Lăng; Nhân Gian; Như Yên Tự Lũ: Mộng Hồi Lan Lăng,Cảnh xuân Nam triều

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bắc Tề thư, quyển 11, liệt truyện 3, Văn Tương lục vương liệt truyện, Lan Lăng Vũ vương Hiếu Quán
  • Bắc sử, quyển 52, liệt truyện 40, Tề tông thất chư vương liệt truyện hạ, Văn Tương chư tử chi Lan Lăng vương Trường Cung
  • Tư trị thông giám, quyển 168 đến quyển 171, Trần kỷ 2 đến Trần kỷ 5

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Xưng hiệu này được Bắc Tề Phế đế Cao Ân phong cho ông vào tháng 3, năm Kiền Minh đầu tiên (560)
  2. ^ Theo Bắc Tề thư, sách đã dẫn, nhưng truyện kể về Phế đế Cao Ân của Bắc Tề thư và Bắc sử lại chép Cao Trường Cung là con trai thứ ba của Cao Trừng
  3. ^ Bắc Tề thư, sách đã dẫn, chép rằng: "Văn Kính Nguyên hoàng hậu sanh Hà Gian vương Hiếu Uyển, Tống thị sanh Hà Nam vương Hiếu Du, Vương thị sanh Quảng Ninh vương Hiếu Hành, không rõ họ mẹ của Lan Lăng vương Trường Cung, Trần thị sanh An Đức vương Duyên Tông, Yến thị sanh Ngư Dương vương Thiệu Tín"
  4. ^ Tường cũ nay là đông bắc Lạc Dương, Hà Nam
  5. ^ Bắc Tề thư chép là Khiêu Cốc, Tư trị thông giám chép là Bách Cốc
  6. ^ Đoạn Thiều mất vào tháng 9 cùng năm
  7. ^ Tư trị thông giám, quyển 170, Trần kỷ 4
  8. ^ Tư trị thông giám, quyển 171, Trần kỷ 5
  9. ^ Nay là Lâm Chương, Hàm Đan
  10. ^ Tùy Đường gia thoại chép Cao Trường Cung "trắng trẻo như phụ nữ"
  11. ^ a ă â b c d Bắc tề thư, sách đã dẫn
  12. ^ "Cựu Đường thư, Âm nhạc chí", "Nhạc phủ tạp lục", "Tiều ẩn bút lục", "Bích kê mạn chí" đều chép có đại ý: "Múa Đại Diện, có từ thời Bắc Tề. Bắc Tề Lan Lăng vương Cao Trường Cung có tài dùng binh mà mặt đẹp (hoặc mặt không có uy), thường đeo mặt giả để ra trận. Khi đánh quân Chu dưới thành Kim Dong, dũng trùm ba quân, người Tề khâm phục, làm ra bài ca múa để tán tụng phong thái của ông trong lúc chỉ huy chiến đấu, chính là "Lan Lăng vương nhập trận khúc"
  13. ^ Cựu Đường thư, Âm nhạc chí